Xem Nhiều 2/2023 #️ Xuất Khẩu Phân Bón Sang Lào: Tăng Mạnh Ngoại Lệ # Top 5 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 2/2023 # Xuất Khẩu Phân Bón Sang Lào: Tăng Mạnh Ngoại Lệ # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Xuất Khẩu Phân Bón Sang Lào: Tăng Mạnh Ngoại Lệ mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Xuất khẩu phân bón sang Lào: Tăng mạnh ngoại lệ

Theo AsemconnectVietnam, xuất khẩu sang Lào tăng mạnh vượt trội khi tăng 84.04% về lượng và tăng 7.62% về trị giá; đạt lần lượt 28.2 ngàn tấn, trị giá 7.1 triệu USD.

Thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, tháng 9/2016, xuất khẩu phân bón của Việt Nam giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 3.6% và 5.1%, tương ứng với 58.3 ngàn tấn, trị giá 15.8 triệu USD – đây là tháng giảm thứ 3 liên tiếp – tính chung từ đầu năm đến hết tháng 9/2016, xuất khẩu 512.6 ngàn tấn phân bón các loại, trị giá 151.9 triệu USD, giảm 19.09% về lượng và giảm 33.3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Việt Nam xuất khẩu phân bón sang 9 quốc gia trên thế giới, trong đó Campuchia là thị trường chủ lực, chiếm 33.4% tổng lượng phân bón xuất khẩu với 171.7 ngàn tấn, trị giá 55.9 triệu USD, giảm 23.98% về lượng và giảm 35.4% về trị giá. Đứng thứ hai là thị trường Philippines với 60.7 ngàn tấn, trị giá 18.8 triệu USD, giảm 10.93% về lượng và giảm 21.95% về trị giá so với cùng kỳ năm trước…

Nhìn chung, 9 tháng đầu năm nay, xuất khẩu phân bón sang thị trường phần lớn đều suy giảm cả lượng và trị giá, duy nhất chỉ xuất khẩu sang Lào tăng mạnh vượt trội, tăng 84.04% về lượng và tăng 7.62% về trị giá, đạt lần lượt 28.2 ngàn tấn, trị giá 7.1 triệu USD.

Thống kê sơ bộ về thị trường xuất khẩu phân bón 9 tháng 2016

Xuất Khẩu Phân Bón Sang Thị Trường Đài Loan Tăng Trên 90% Cả Lượng Và Trị Giá

Xuất khẩu phân bón sang thị trường Đài Loan tăng trên 90% cả lượng và trị giá

Kết thúc quý 1/2018 xuất khẩu phân bón của cả nước tăng cả lượng và trị giá so với cùng kỳ 2017 và thị trường có tốc độ tăng mạnh là Đài Loan mặc dù giá xuất bình quân giảm nhẹ.

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, trong tháng 3/2018 xuất khẩu phân bón của Việt Nam đạt 100,8 nghìn tấn, đạt 32 triệu USD, tăng 57,1% về lượng và 53% trị giá so với tháng 2/2018, nâng lượng phân bón xuất khẩu quý 1/2018 lên 227,5 nghìn tấn, trị giá 72,3 triệu USD tăng 6,8% về lượng và 26,1% trị giá. Giá xuất bình quân đạt 317,69 USD/tấn, tăng 18% so cùng kỳ 2017.

Campuchia là thị trường xuất khẩu phân bón chủ lực của Việt Nam chiếm 33% tổng lượng nhóm hàng đạt 75,2 nghìn tấn đạt 26,2 triệu USD, tăng 29,63% về lượng và 36,74% trị giá, giá xuất bình quân tăng 5,48% đạt 348,67 USD/tấn.

Thị trường lớn đứng thứ hai sau Campuchia là Malaysia đạt 43,7 nghìn tấn, 8,6 triệu USD, tăng 4,16% về lượng và 9,2% trị giá, giá xuất bình quân 197,36 USD/tấn, tăng 4,84% so với cùng kỳ 2017.

Ngoài hai thị trường chủ lực kể trên mặt hàng phân bón của Việt Nam còn được xuất sang Lào, Thái Lan, Hàn Quốc….

Nhìn chung trong quý 1/2018 kim ngạch xuất khẩu phân bón sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng do giá xuất bình quân tăng so với cùng kỳ. Trong đó những thị trường có giá tăng mạnh như: Lào và Hàn Quốc tăng lần lượt 50,32 và 46,29% đạt lần lượt 390,16 USD/tấn và 250,62 USD/tấn, duy chỉ có thị trường Đài Loan có giá giảm nhẹ 0,04% tương ứng 277,84 USD/tấn, mặc dù đây là thị trường có tốc độ tăng mạnh cả lượng và trị giá tăng lần lượt 96,25% về lượng và 96,16% trị giá tương ứng với 993 tấn, 275,8 nghìn USD.

Đặc biệt, thị trường xuất khẩu phân bón trong quý đầu năm nay là có thêm thị trường Angola tuy lượng xuất mới chỉ đạt 36 tấn, trị giá đạt 38,2 nghìn USD do giá xuất bình quân đạt 1061,81 USD/tấn – đây cũng là thị trường có giá cao nhất.

Tăng Thuế Nhập Khẩu Phân Bón: Khuyến Khích Sản Xuất Trong Nước

 Cầu phân bón tăng – cung đảm bảo

Từ cuối tháng 7, nhu cầu phân bón tại các tỉnh phía Bắc bắt đầu tăng, nhưng do nguồn cung vẫn dồi dào nên giá ít biến động. Giá bán lẻ phân bón tại các địa phương hiện phổ biến ở mức: Ure 8.000-8.200 đồng/kg (giảm 300 đồng/kg so với tháng trước), kali 10.000-11.100 đồng/kg; DAP 14.000 – 15.200 đồng/kg; NPK từ 10.800-12.000 đồng/kg.

Thời gian tới, nhu cầu phân bón cả nước sẽ tăng do các tỉnh phía Nam vào chính vụ bón thu đông, các tỉnh miền Trung – Tây Nguyên nhu cầu bón cây công nghiệp tăng, các tỉnh phía Bắc vẫn đang trong giai đoạn bón vụ mùa. Dù vậy, nguồn cung sẽ không lo bị thiếu hụt. 7 tháng đầu năm, cả nước đã sản xuất được 1.239,6 nghìn tấn phân ure, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm 2013; NPK khoảng 1.451,2 nghìn tấn tăng 1,4% so cùng kỳ năm 2013.

Cuối tháng 6, 2 nhà máy sản xuất ure công suất lớn là Đạm Cà Mau (công suất 800.000 tấn/năm) và Đạm Ninh Bình (công suất 560.000 tấn/năm) đã ngừng sản xuất để bảo dưỡng. Tuy nhiên, hiện các nhà máy vẫn còn một khối lượng hàng tồn kho đáng kể. Do vậy, nguồn cung phân bón cho sản xuất nông nghiệp vẫn được bảo đảm.

Ngoài ra, giá phân bón nhập khẩu cũng ổn định. Nhu cầu nhập khẩu phân bón từ các nước sản xuất nông nghiệp như: Mỹ, Ấn Độ, Bzazil đang trong giai đoạn cao, nhiều phiên đấu thầu được mở, giá một số loại phân bón trên thị trường châu Âu và Trung Đông có xu hướng tăng như DAP, kali. Tại Trung Quốc, nhu cầu mua thấp, tồn kho cao nên giá phân bón đã giảm vào đầu tháng 7 sau đó tăng nhẹ trở lại. Bên cạnh đó, từ ngày 1/7/2014, Trung Quốc bắt đầu giảm thuế xuất khẩu phân bón ure (từ mức 40NDT/tấn + 15% xuống còn 40NDT/tấn) để đẩy mạnh xuất khẩu, giảm tồn kho nên lượng ure nhập khẩu tăng.

Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) đã có ý kiến đồng thuận với đề xuất của Bộ Tài chính tăng thuế nhập khẩu phân ure, DAP từ 3% lên 6% nhằm khuyến khích sản xuất trong nước, hạn chế nhập khẩu  (nhất là từ Trung Quốc), tăng khả năng tiêu thụ phân bón sản xuất trong nước.

Đề xuất điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu

Thời gian gần đây, vi phạm về phân bón giả, phân bón kém chất lượng vẫn diễn biến phức tạp, có xu hướng gia tăng với các vụ vi phạm lớn trên nhiều địa bàn, gây thiệt hại cho nhà sản xuất, kinh doanh chân chính và người tiêu dùng. Tại một số tỉnh duyên hải miền Trung như Bình Định, Phú Yên còn có tình trạng phân bón giả, kém chất lượng xuất hiện. Mặc dù các cơ quan chức năng đã tăng cường kiểm tra xử lý, song đến nay, hiện tượng này vẫn còn tồn tại.

Để chủ động cho sản xuất trong nước cũng như tăng cường quản lý nhập khẩu phân bón biên mậu, Bộ Công Thương cho biết, sẽ xem xét hạn chế hoặc tạm dừng nhập khẩu biên mậu đối với các loại phân bón mà sản xuất trong nước đã đáp ứng đủ nhu cầu (như ure, NPK) qua các cửa khẩu phụ, lối mở biên giới theo từng thời điểm, phụ thuộc vào tình hình sản xuất và nhu cầu trong nước. Đối với các loại phân bón trong nước chưa sản xuất được hoặc đã sản xuất nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu, tiếp tục cho phép nhập khẩu theo từng lô hàng và có thời gian xác định để có thể kiểm soát được, bảo đảm không ảnh hưởng tới cung  – cầu trong nước.

Thuế Giá Trị Gia Tăng, Thuế Xuất Khẩu Đối Với Mặt Hàng Đạm Urê Xuất Khẩu (Tổng Công Ty Phân Bón Và Hóa Chất Dầu Khí)

Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu đối với mặt hàng đạm Urê xuất khẩu (Tổng Công ty Phân bón và Hóa Chất Dầu khí)

© DONG NAI CUSTOMS – Công văn cập nhật lúc 14h00 ngày 09/12/2020

Kính gửi: Tổng Công ty Phân bón và Hóa Chất Dầu khí

Bộ Tài chính nhận được công văn số 1753/PBHC-TCKT ngày 07/10/2020 của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí đề nghị hướng dẫn cách áp dụng chính sách thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng (GTGT) của mặt hàng đạm Urê xuất khẩu. Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

1. Về thuế GTGT

– Tại khoản 1 Điều 1 Luật số 106/2006/QH13 quy định đối tượng không chịu thuế như sau: “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên.”.

– Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:

“1. Khoản 11 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

11. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác.

Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên trừ các trường hợp sau:

– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác và chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng.

– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng.

– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu chính không phải là tài nguyên, khoáng sản (tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác) do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến thành sản phẩm xuất khẩu thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng.

– Tại khoản 23 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành về thuế GTGT (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016, Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018) quy định: “Cục Thuế các tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trên địa bàn theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để hướng dẫn các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu sản phẩm từ tài nguyên, khoáng sản căn cứ đặc tính sản phẩm và quy trình sản xuất sản phẩm để xác định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản đã chế biến hoặc chưa chế biến thành sản phẩm khác để thực hiện kê khai theo quy định.

Đối với trường hợp doanh nghiệp kê khai sản phẩm đã chế biến thành sản phẩm khác mà quy trình sản xuất sản phẩm chưa đủ cơ sở xác định là sản phẩm khác thì Cục Thuế có trách nhiệm báo cáo Tổng cục Thuế để phối hợp với các Bộ, Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp để xác định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản chưa chế biến thành sản phẩm khác hay đã chế biến thành sản phẩm khác theo quy định của pháp luật.”.

Căn cứ quy định nêu trên, đề nghị Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí liên hệ với Cục Thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn xác định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản đã chế biến hoặc chưa chế biến thành sản phẩm khác để thực hiện kê khai theo quy định của pháp luật.

2. Về thuế xuất khẩu

Bộ Tài chính có ý kiến để Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí được biết và thực hiện./.

Bạn đang xem bài viết Xuất Khẩu Phân Bón Sang Lào: Tăng Mạnh Ngoại Lệ trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!