Xem Hoa Lan Vanda Có Hương Thơm

--- Bài mới hơn ---

  • Cây Hoa Lan Bị Vàng Lá Và Cách Khắc Phục
  • Hoàng Thượng Cút Ngay, Bổn Cung Chỉ Cướp Tiền
  • Hoàng Thượng Cút Ngay, Bản Cung Chỉ Cướp Tiền
  • Ý Nghĩa Của Hoa Lan Vũ Nữ Tôn Vinh Nét Đẹp Rạng Ngời
  • Tphcm Có Tiềm Năng Lớn Trong Trồng Hoa Lan Xuất Khẩu
  • Một vài bạn hỏi rằng có phải cây lan Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana) của ta có phải là thơm nhất không?

    Xin thưa rằng cây này không phải của riêng chúng ta mà Miến Điện, Trung Hoa, Thái Lan, Lào đều có cả. Còn thơm nhất thì cũng xin thưa rằng không, hơn nữa câu hỏi quá bao quát, không rõ ràng. Bạn muốn nói thơm nhất trong loài Vanda hay thơm nhất trong các loài hoa Lan?

    Theo John Clark Cuddy một nhà trồng lan và nghiên cứu về hương thơm, những cây Vanda có hương thơm được xếp hạng như sau:

    1. Vanda tricolor

    2. Vanda cristata hay Trudelia cristata

    3. Vanda denisoniana

    4. Vanda amesiana hay Holcoglossum amesiana

    5. Vanda pumila hay Trudelia pumila

    6. Vanda alpina hay Trudelia alpina

    Chúng ta cũng nên tìm hiểu sơ qua về sự khác biệt giữa 2 loài Vanda và Trudelia. Năm 1881 Nathaniel Wallich khám phá được cây lan Vanda cristata tại Nepal và gửi về vườn bách thảo Kew, Anh quốc. John Lindleyi là người đầu tiên mô tả cây này vào năm 1834 trong cuốn “Những loài và những giống hoa lan” (Genera and Species of Orchidaceous Plants).

    Năm 1986 Leslie Garay lập ra loài Trudelia căn cứ vào lưỡi của bông hoa Trudelia alpina không có cựa và hướng ra phía trước và Karlheins Senghas chuyển các cây Vanda cristata và Vanda pumila sang loại Trudelia vào năm 1888. Nhưng năm 1992-1996 Eric Christenson vẫn cho rằng những cây này thuộc loài Vanda. Vì vậy bây giờ nhiều người cho 2 loại kể trên chỉ là đồng danh, ai muốn gọi sao thì gọi.

    Trong số 6 cây này, ngoại trừ cây Vanda Tricolor mọc ở Java và Lào, 4 cây sau đều có mọc tại Việt Nam, nhưng biết đâu chúng ta chẳng có, có thể là tìm chưa ra đó thôi.

    *Vanda tricolor thường mọc ở trên cành cây hoăc ở gần gốc, thân cao trên dưới 1 m, lá dài 40-50 cm, rộng 3-4 cm. Chùm hoa mọc ở nách lá, dài 25-35 cm mang theo 7-15 hoa. Hoa to từ 5-7 cm, mầu trắng có những đốm hay sọc tím nâu ở mặt trước, mặt sau trắng tuyền, nở vào mùa Hạ và lâu tàn. Hương thơm ngát khi có nắng vào khoảng 9-10 giờ sáng đến giờ chiều.

    *

    *

    *

    *

    *Vanda alpina hay Trudelia alpina Thân cao chừng 20-25 cm, lá dài 15-20 cm hoa 2-3 chiếc, to khoảng 2 cm, nở vào cuối mùa Xuân. Cánh hoa mầu xanh đậm hơn các giống Trudelia cristata và Trudelia pumila và lưỡi hoa hình tam giác với mầu nâu sậm.

    Vanda pumila hay Trudelia pumila là một cây lan nhỏ moc tại các nước Á Châu. Cao chừng 20-30 cm, lá dài khoảng 12 cm. Dò hoa ngắn có từ 3-5 hoa mầu xanh trắng hay xanh nhạt, to khoảng 3-5 cm. Có người nhầm lẫn cây này với Vanda cristata. Nếu nhìn kỹ sẽ thấy lưỡi hoa Trudelia cristata chẻ làm 2 như lưỡi rắn, trái lại lưỡi hoa Trudelia pumila hình tròn. Người ta thường gọi là Lan Uyên Ương vì phần đông chỉ có 2 hoa nhưng tại vườn lan Vĩnh Mai và tại Đà lạt có nhiều cây có tới 4-5 hoa.

    Vanda amesiana hay Holcoglossum amesiana cây, lá giống như Vanda, nhưng hoa lại giống như Holcoglosum, nên mỗi người gọi một khác. Thân cao từ 20-40 cm lá dài 20-25 cm. Dò hoa dài 30-25 cm có tới 15-30 hoa nở vào cuối mùa Đông tại Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Việt Nam và Căm Bốt.

    Vanda denisoniana là một loài phong lan cao tới gần 1 m, lá mọc 2 bên dài 30-40 cm rộng 3-4 cm. Chùm hoa mọc ở nách lá thứ 6-7, dài 20-30 cm có 5-8 hoa to chừng 5-7 cm mầu vàng chanh nở vào mùa Xuân hay dầu mùa Hạ. Hương thơm như mùi va-ni vào lúc nhá nhem tối. Hình ảnh bên dưới chúng tôi chụp tại Vườn Lan Vĩnh Mai Đà Lạt vào tháng 4-2009. Nhưng Vanda denisoniana cũng có có cây hoa mầu vàng sậm hay nâu đậm được coi như là một biến dạng Vanda denisoniana var. hebraica mà cũng có người cho là Vanda brunei.

    Vanda cristata hay Trudelia cristata là một cây phong lan lan cỡ trung bình, mọc tại Hồi, Ấn độ, Tây Tạng và Trung Hoa trên các cao độ từ 600-2300 m. Thân cao chừng 25-30 cm, lá dài 20-30 cm, chùm hoa ngắn 15-20 cm. Hoa 5-7 chiếc to 3-5 cm, cánh hoa mầu xanh, dầy và cứng lâu tàn. Lưỡi hoa phía dưới chẻ làm hai.

    Theo các sách vở và tài liệu để lại từ trước, cây lan này không mọc tại Việt Nam. Nhưng trong bản Turczaninowia 2005, 8(1): 39-97 Tiến sĩ Leonid Averyanov xác nhận ngày 9-3-2004 Tiến sĩ Phan Kế Lộc và T. T. Anh đã tìm thấy tại Thuận Châu, Sơn La. Trong bộ sưu tập của các anh Nguyễn Minh Đức, Chu xuân Cảnh đều có cây này. Và chính tôi cũng thấy cây này tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên Sơn vào tháng 3 năm 2009.

    Martin R. Motes một chuyên gia về Vanda cho biết mầu sắc của lưỡi hoa có thể thay đổi từ mầu nâu đen sang đỏ thẫm cùng trong một cây hay từ năm này qua năm khác.

    Thực ra nếu chỉ nghe mô tả và xem qua các hình ảnh, chúng ta khó lòng nhận xét và so sánh giữa các cây Trudelia. Nhưng may thay một người có lẽ là người Việt, với biệt danh Cholon đã đưa lên hình ảnh của cây Trudelia alpina với 3 chiếc hoa của Trudelia cristata, Trudelia pumila và Trudelia alpina chụp chung với nhau bên chiếc thước, thực là rõ ràng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Lan Vanda Có Hương Thơm
  • Đặc Điểm Của Lan Vanda Uyên Ương Và Cách Chăm Sóc
  • World Cup 2014: Năm Lý Do Để Vui Dù Cho Úc Thua Hòa Lan 2
  • Trồng Địa Lan Trang Trí Vườn. Tại Sao Không?
  • Cách Trồng Hoa Lan Nói Chung
  • Cách Xem Chân Gà Đòn Tổng Quát, Hay Cách Xem Chân Gà Chọi

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Chế Độ Vần Gà Chọi
  • Giới Thiệu Chi Tiết Luật Trường Gà 3 Miền
  • Hướng Dẫn Cách Luyện Gân Gối Cho Gà
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Xem Cần Cổ Gà Chọi
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Xem Mắt Gà Chọi
  • Đạo kê diễn nghĩa bình giải

    Bình giải: Mộng Lang – Minh họa: Độc Cô Cầu Hòa

    1. Hậu biên yến quản đồng hành 

    Hậu biên đồng hành tức là Hậu Biên Tiên Lộ. Hàng biên và hàng hậu cùng song song đi xuống, cuối cùng hàng hậu tấp vào hàng biên cùng đi xuống ngón ngoại. Đây là gà quý.

    2. Giáp Long Chi Tự Điềm Lành Hữu Linh

    Vảy Giáp Long đóng ở ngón thới. Vảy có hình cánh bướm hoặc từa tựa vảy rồng nên được gọi là giáp long. Loại thần kê này chuyên dùng móng làm trảo để điểm vào mắt địch.

    3. Âm minh thư đoản tài tình,

    4. Âm minh hùng đoản thanh vang hổ gầm.

    5. Hổ gầm khẩu chớ lặng câm,

    6. Hoặc rung khẩu hạ biết ra vẹn toàn.

    Âm minh thư đoản là tiếng gáy thanh, rít mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Cũng là loại gà có tài.

    Âm minh hùng đoản là tiếng gáy mạnh mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Tiếng gáy có âm thanh như cọp rống. Khi gà gáy mạnh và tiếng gáy kết thúc ngắn gọn thì đó là gà dữ.

    – Gà gáy phải há lớn miệng mới tốt. Ngậm miệng lặng câm không tốt.

    – Khi gáy mỏ dưới không rung mới tốt. Rung thì cũng chưa vẹn toàn.

    7. Vậy thời cho rõ đừng oan,

    8. Kẻo mà hay phản “Đạo Kê” là thường.

    9. Xem gà ta phải cho tường,

    Người xưa xem phép đá gà là Ðạo vì nó đòi hỏi sự thông suốt kê kinh. Ðoạn này xác quyết sự chính xác của kinh và quy sự thất bại vào người xem kinh chưa thông suốt.

    10. Rõ ràng “hoa thới” một đường thẳng ngay.

    11. Nội lên tiếp ứng nào hay,

    12. Có mà “giáp độc” chận ngay là tài.

    – “Hoa Thới” tức là Thới Hoa Ðăng. Vảy của ngón thới không ngưng lại ở chậu mà chạy thẳng lên tới cựa rõ ràng thắng tắp thì gọi là Hoa Thới.

    – Vảy của ngón nội không ngưng ở chậu mà chạy thẳng lên tiếp ứng với Thới Hoa Ðăng tạo thành ngã ba và nhập một đi thẳng tới cựa.

    – Cả hai hàng vảy này bị Ðộc giáp chặn lại tại cựa. Vảy độc giáp ở hàng Quách là một vảy lớn hả mồm ngậm chiếc vảy cuối cùng của Hoa Ðăng.

    Lưu ý: vảy Ðộc giáp không phải là một liên giáp mà chỉ là một vảy lớn.

    13. Chận rồi còn thể là hai,

    14. Chấn trên giữ dưới thế hoài phải phân.

    15. “Thần hổ đệ nhất” nên cân,

    Đoạn này mô tả vảy “Đệ Nhất Thần Hổ Đao”.

    – Vảy ĐNTHĐ là đại giáp nội đóng tại hàng Quách, tức là liên giáp bao gồm ba vảy.

    – ĐNTHĐ hả miệng ngậm chiếc vảy cuối cùng của Thới Hoa Đăng đi lên vì thế vảy này đóng trên cựa 1 ly.

    – ĐNTHĐ phải đóng cả hai chân.

    Gà có vảy này được liệt vào hạng “Linh Kê”.

    16. “Hổ Thần Đệ Nhị” cũng phân rõ ràng. 

    – Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm ở hàng Quách và cũng hả miệng ngậm ngọc giống như Đệ Nhất Thần Hổ Đao. Cả hai đều nằm trên cựa 1 ly nhưng Đệ Nhị Thần Hổ Đao không phải là một đại giáp mà chỉ là một liên giáp. Đại giáp do ba vảy tạo thành, liên giáp chỉ do hai vảy mà thôi.

    – Hai chân đều có Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng, nếu không thì thất cách.

    – Thới Hoa Đăng của vảy phải rõ ràng và thẳng tắp. (Đăng có nghĩa là đèn. Đèn đỏ rực thắp sáng thẳng hàng đẹp như hoa nở nên gọi là đèn hoa.) Có lẽ vì những vảy này nổi lên tròn trịa đẹp như đèn hoa nên có tên là Hoa Đăng.

    – Gà có chân này có tài cản cựa địch khó đâm. Rất quý.

    Thưa quý độc giả, Tàng Kinh Các của Nhất Phẩm Ðường lưu trữ nhiều Giáp Kinh của các danh gia. Một trong những Giáp Kinh này do danh sư Phan Kim Hồng Phúc biên soạn và trong đó có sự khác biệt của Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao.

    Sau đây Mộng Lang xin trình bày những điểm quan trọng của ngài Hồng Phúc.

    Theo như Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc thì Thần Hổ Ðao không phải là một liên giáp hay đại giáp mà chỉ là một giáp tại hàng Quách.

    – Ðệ Nhất Thần Hổ Ðao thì đóng trên cựa một ly và cũng mở miệng ngậm ngọc.

    – Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao cũng có hình dáng tương tự nhưng nằm cao hơn.

    Gà có vảy này thì ra đòn xuất quỷ nhập thần. Khó có địch thủ nào sống sót để gáy.

    *Thầy Phan Kim Hồng Phúc không cho biết vảy Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm cách cựa bao nhiêu nhưng phỏng theo hình vẽ của thầy thì Đệ Nhất Hổ Đao nằm cách cựa khoảng một vảy hoa đăng, Đệ Nhị Hổ Đao nằm cách cựa khoảng 2 vảy hoa đăng. Hình vẽ dưới đây là tài liệu riêng của Tàng Kinh Các nhưng phương vị của vảy thì giống nhau.

    17. Quay sang “liên cước tam hoàn”,

    18. Đôi chân phải có ngọc song mặt tiền.

    Ngọc song có thể là Song Cúc và cũng có thể là Lưỡng Ngọc Song Cước. Mộng Lang xin đưa ra cả hai để quý độc giả dễ bề nghiên cứu.

    Vảy Song Cúc đóng ở mặt tiền cả hai chân. Vị trí của vảy ở hai chân phải tương xứng nhau thì mới tốt. Nếu vảy này đóng ngay cựa thì đúng cách.

    Gà có vảy Song Cúc có biệt tài đá liên hoàn cước. Mỗi lần xuất chiêu là đá liên tục ba bốn đòn.

    Lưỡng Ngọc Song Cước

    Cả hai chân đều có vảy to phía trên cựa. Một chân có đại giáp ở hàng Thành. Một chân có đại giáp ở hàng Quách.

    Gà có vảy này luôn luôn có biệt tài đá song cước cực kỳ lợi hại và được nổi danh là Lưỡng Cước Kê ( Theo Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc)

    Gà có Lưỡng Ngọc Song Cước đá song cước nhưng gà này có đá “ liên cước tam hoàn” hay không thì không thấy sư kê nhắc đến.

    19. Rõ ràng nó đá đòn kiêng,

    20. Lại thêm đòn thủ mé cần đòn ngang.

    21. Thêm rằng bể hậu khai biên,

    22. Là tiên giáng xuống cậu tên gà nòi.

    Ðòn kiêng có lẽ là đòn quăng còn gọi là xạ. Ðòn quăng là đòn đá vào mặt và cần cổ địch thủ bất thình lình mà không mổ trước.

    Bể Hậu Khai Biên là cậu của gà nòi.

    Có sách chép: ” Bể Biên Khai Hậu” là cậu gà nòi. Bể hay khai thì cũng giống nhau. Ðường “Quách” và đường Hậu đều có một vảy nứt ra chia làm hai. Gà ấy là gà hay.

    23. Trường thành địa giáp nên coi,

    24. Những vảy ấy có gà hay thường thường.

    Trường thành là vảy ở hàng Thành lấn sang hàng Quách. Khi ta nhìn ở mặt tiền thì thấy vảy hàng Thành có diện tích rộng theo chiều ngang.

    Vảy Ðịa Giáp là một vảy nhỏ ở dưới lòng bàn chân. Phải lật lên mới thấy. Loại gà này được liệt vào “Linh Kê”.

    25. Thới mang nhân tự một đường,

    26. Dễ mà khinh nó sọ bêu phải tường.

    Ngón thới có vảy nứt như chữ Nhân thì gọi là Nhân Tự Thới. Gà có vảy này chuyên nhả đòn độc và thượng hành đi trên. Nếu nhân tự mà đóng ở các vảy cuối sát móng thì gà có tài móc mắt.

    27. Phải tường tứ ứng mà thương,

    28. Đôi chân như một trường nương người mời.

    Tứ Ứng Độ Sơn là 4 vảy độ đếm từ cựa trở lên nằm trên gò cao cách biệt với các vảy độ kế tiếp khuyết hẳn xuống. Nếu được 3 vảy nổi cồm lên thì gọi là “Độ Tam Ứng” và kém hơn gà tứ ứng, ngũ ứng, lục ứng v.v.

    Gà có Tứ Ứng Độ Sơn cả hai chân là gà quý.

    Gọi là Độ Sơn vì hình thể cao hẳn lên như 4 ngọn núi.

    Lưu ý: Bốn vảy này phải to lớn gần bằng nhau.

    29. Song liên là vảy của trời,

    30. Phải xem cho nhớ đời đời nước hai.

    Song Liên là liên giáp nội do hai vảy dính liền tạo thành và đóng tại hàng Quách.

    Theo tài liệu trong Tàng Kinh Các thì có hai loại song liên tự.

    Loại thứ nhất 

    – Song Liên đóng ngay cựa nhưng không cần phải ngậm ngọc, và cũng không cần phải có đường thới hoa đăng.

    Loại thứ hai 

    – Song Liên phải ngậm ngọc và đóng ngay cựa. Đường thới hoa đăng phải tốt. Viên ngọc bị ngậm không nhất thiết là ngọc cuối cùng. Gà có Song Liên Tự theo cách này ăn đứt các vảy Nhật Thần, Hổ Khẩu, và Hàm Long.

    Lưu ý: Đừng lộn Song Liên Tự với Đệ Nhị Thần Hổ Đao. Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng trên cựa. Song Liên Tự đóng tại cựa.

    Theo các sư kê thì gà có Song Liên thì có đòn độc từ cuối nước thứ hai đổ đi.

    31. Hiểu rằng vảy nhỏ “lạc mai”,

    32. Chẳng nên căn cứ một hai đòn tài.

    Lạc Mai là bốn năm vảy chụm lại và đóng trên hoặc dưới cựa. Gà có vảy này thuộc loại thường. Ta không nên căn cứ một hai đòn hay mà giữ gà này vì nó không phải là chiến kê.

    33. Đòn tài bán nguyệt nữ giai,

    34. Thêm vào ngón giữa ra oai nhiều đường.

    Vảy bán nguyệt là một đường chỉ vòng bán nguyệt tại cựa. Tuy nhiên, câu này không mô tả đường chỉ đó mà muốn đề cập tới ngón chân cong hình bán nguyệt.

    Bán Nguyệt Nội là hai ngón nội của cả hai chân cong hình bán nguyệt. Nếu gà mà có bán nguyệt tại ngón giữa (ngón Chúa) thì lại càng cực kỳ hay.

    Chiến kê có chân cong hình bán nguyệt có biệt tài móc mắt đối phương, giỏi song cước, nhảy cao và đá tạt ngang rất ác nghiệt.

    35. Đừng cho thất hậu bản lườn,

    36. Riêng hai thứ ấy kiên cường phải sâu.

    Những sư kê có nhiều kinh nghiệm thì họ cho rằng hàng vảy quan trọng bậc nhất không phải là hàng vảy tiền phía trước mà chính là hàng vảy hậu phía sau. Tiền hư thì còn gỡ gạc được, chứ nếu hậu hỏng thì không thể dùng được nữa.

    Một con thần điểu tốt phải có hàng vảy hậu no tròn và đều đặn từ chậu đến gối.

    Bản lườn tức là lườn tam bản. Loại lườn này có đáy trệt và hai vách hơi vuông vức trông giống như đáy của loại thuyền đóng bởi ba miếng ván nên gọi là lườn tam bản. Kinh sách khuyên ta không nên dùng loại gà có lườn tam bản.

    Ngược lại với lườn tam bản thì có lườn tàu có đáy nhọn. Khi ta “vô tay” nâng gà lên thì sẽ cảm thấy đáy lườn cộm vào lòng bàn tay.

    “Vẹo lườn thì bỏ, vẹo mỏ thì nuôi”

    Xương lườn nằm ở phía dưới bụng của gà. Nếu xương lườn sâu và thẳng không bị “vạy” thì chiến kê ấy có thể tạm coi là tốt.

    37. Tam tài tứ quý là đâu,

    38. Song tam song quý mới hầu tài cho.

    Theo tài liệu của Tàng Kinh Các thì có rất nhiều loại tam tài khác nhau. Loại thông thường là ba vảy nhỏ đóng sát gối như hình vẽ này.

    Qúy điểu có loại vảy này thì ra đòn cực kỳ mãnh liệt hung ác.

    Tứ quý là bốn hàng vảy đóng sát gối. Chiến kê có tứ quý chuyên đá lòn, đá dĩa. Con gà đi dưới cũng có nhiều đòn độc ma quái riêng của nó.

    Song tam = hai chân có tam tài

    Song quý = hai chân có tứ qúy.

    Nhân đọc bài của anh Mộng Lang, thấy hay quá nên tối dzìa lục lại các sách vở cũ thấy có các trường hợp sau, xin cũng góp vui:

    1/ vảy “hoa mai”: ngoài trường hợp “Lạc Mai” mà anh Lang đã nêu còn có trường hợp khác gọi là “Mai Cựa”; do các vảy của hàng biên phụ đi ngang cựa đóng thành; Gà có Mai Cựa khá lắm, thỉnh thỏang gà này đâm cựa rất độc, khi nó trổ tài đối phương phải mang tật.2/ có sách viết “lệch Lông thì bỏ, lệch mỏ thì nuôi”: tức số lượng lông lớn 2 bên cánh của gà phải bằng nhau mới tốt, bên ít bên nhiều thì bỏ không dùng (có lẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của gà lúc bay nhảy chăng ? ), còn lệch (vẹo) mõ là dùng chắc là do người xưa nghĩ là “có tật có tài”

    Trên giang hồ có nhiều tài liệu diễn giải khác nhau về vảy Tứ Trụ Giáp. Có sách chép “Tứ Trụ Giáp là một chân có Án Thiên và phủ địa, một chân khác có Án Thiên.

    Có sách khác lại phác hoạ vảy Tứ Trụ Giáp như bốn ô vuông nằm gần và đều nhau tại cựa, hai ô ở trên, hai ô ở dưới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Quyết Chọn Và Nuôi Gà Chọi Qua Tiếng Gáy
  • Hướng Dẫn Các Phép Xem Vảy Của Chiến Kê
  • Cách Phân Biệt Các Loại Màu Sắc Lông Của Gà Chọi
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Khổ Qua (Mướp Đắng)
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Om Bóp Cho Gà Chọi
  • Phép Xem Mạng Gà Theo Kê Kinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Lai Tạo Chiến Kê
  • Kỹ Thuật Nuôi Gà Đá Nòi Tổng Hợp
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Chọn Gà Quỉ
  • Hướng Dẫn Chi Tiết Cách Tuyển Chọn Và Nuôi Dưỡng Gà Chọi
  • Một Số Bí Quyết Chọn Gà Chọi – Đúc Kết Từ Kinh Nghiệm Chơi Gà
  • Mọi người đều biết rằng kết quả thi đấu ngày nay hầu như phụ thuộc vào bổn bang và chế độ nuôi dưỡng. Nhưng một khi bổn bang và chế độ nuôi dưỡng là như nhau, mà điều này vốn là xu hướng chung, thì màu mạng chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt. Chẳng hạn, ba mươi năm trước, chỉ một số ít sư kê ở Philippines sở hữu gà đá Mỹ nòi xịn, ngày nay thì hầu hết sư kê đều có thể tiếp cận những dòng gà danh tiếng này, bởi có rất nhiều trại gà cạnh tranh lẫn nhau để cung cấp gà đá chất lượng cho thị trường. Bổn bang tuy cực kỳ quan trọng nhưng nếu ai cũng có thì không thể lấy đó làm lợi thế. Các phương pháp biệt dưỡng và ốp cũng vậy, đa phần những sư kê nghiêm túc đều coi trọng và nắm vững cách thực hiện những công đoạn này. Bởi vậy, việc thành bại đôi khi lại do những yếu tố rất nhỏ quyết định. Chúng ta có thể coi phép xem màu mạng là một trong những yếu tố như vậy.

    Phép này vốn được lưu truyền trong dân gian. Một điều chắc chắn là nó đã xuất hiện từ rất lâu vì gắn liền với một học thuyết cổ xưa: “thuyết Ngũ Hành”. Ngày nay, vẫn còn rất nhiều sư kê tin tưởng và áp dụng phép này vào các trận đá gà. Nó bao gồm nhiều yếu tố vốn không thể “định lượng”, điều dẫn đến khó khăn trong việc phân tích và đối chiếu. Bởi vậy mà có nhiều biến thể hay còn gọi là “môn phái” màu mạng khác nhau ra đời, mỗi “môn phái” lại sử dụng một tập hợp các yếu tố khác nhau. Trong phạm vi bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu phép xem màu mạng theo Kê kinh, một trong những tài liệu xưa nhất về chủ đề gà chọi xuất hiện cách nay hơn một thế kỷ.

    Về nguồn gốc của Kê kinh, chúng ta không có thông tin nào khác ngoài mấy chữ “sách gà Phạm Công”. Tất cả những gì mà chúng ta biết ngày nay đều qua bản dịch nôm Kê kinh diễn nghĩa dạng thơ lục bát của Giao-hòa, lão-nhiêu Nguyễn Phụng Lãm. Bài được đăng trên báo Nông-cổ mín-đàm vào năm 1902. Điều dẫn đến suy đoán rằng sách được viết bằng chữ Hán hoặc Hán-Nôm. Bảo bản dịch là Kê kinh cũng được mà bảo không phải cũng được bởi chúng ta chỉ thấy ý chứ không hề thấy hình. Có quan điểm cho rằng tác giả Kê kinh là Tả Quân Lê Văn Duyệt (1763-1832). Tương truyền, Đức Ngài rất ham mê môn chọi gà và nuôi đến hàng ngàn chiến kê để nghiên cứu các phép xem tướng, xem vảy và đặc biệt là màu mạng gà. Tựu trung, nội dung của phép xem màu mạng này bao gồm bốn phần:

    *Phân tích sắc lông chiến kê cùng với hành tương ứng.

    *Sinh khắc của màu lông.

    *Sinh khắc theo mùa (tứ thời sinh khắc).

    *Sinh khắc theo ngày (nhật thần sinh khắc).

    Màu lông

    Kim=gà nhạn

    Mộc=gà xám

    Thủy=gà ô

    Hỏa=gà điều, gà tía

    Thổ=gà ó vàng

    *Hành mộc có màu xanh, nhiều người thắc mắc tại sao lại xếp gà xám vào hành mộc? Nếu quan sát kỹ màu xám có ánh xanh, người phương Tây nhận ra điều này nên họ gọi là “blue” thay vì “grey”. Có lẽ vì vậy mà gà xám được xếp vào hành mộc. Gà “grey” là gà chuối, đặc biệt là những con mà hắc sắc tố lan đến lông bờm và lông mã gọi là “chuối tro”. Đấy là màu xám thuần túy không lẫn sắc xanh.

    *Màu vàng có khi được xếp vào hành kim, màu nâu được xếp vào hành thổ nhưng Kê kinhlại xếp màu vàng vào hành thổ, ở đây chúng ta sẽ xem màu nâu như là “đỏ pha đen” tức “hỏa pha thủy”. Chẳng hạn tía bịp (điều mật) ngả tông nâu, hành chính vẫn là hỏa, nhưng pha thủy.

    *Tên gọi đôi khi không phản ánh đúng thực chất, chẳng hạn gà “điều” hay “tía” có nhiều tông màu khác nhau từ đỏ, cam cho đến vàng. Nếu ngả sang tông vàng thì nên xếp vào hành thổ (thay vì hành hỏa). Hoặc gà khét điều hành hỏa, nhưng khét vàng lại là hành thổ.

    *Kê kinh viết “Cứ theo sắc chánh mà suy”, nếu gà có nhiều màu khác nhau thì dựa vào màu chính mà xem hành. Màu chính là màu ở thân và cánh, những màu ở đuôi, lông mã, lông bờm là phụ (gà chọi xưa có ít lông bờm). Những hoa văn như lau (đuôi và cánh lẫn màu trắng), bông, nổ (đốm trắng), cú (vạch) cũng là phụ.

    Giả như xám trổ mã vàng,

    Thiệt là sắc mộc màu vàng kể chi.

    Bông nổ mã ô đen sì,

    Màu thời chẳng kể, kể thì thủy ô.

    Như vàng mã chuối trỏ vô,

    Kể là sắc thổ chuối dò làm chi.

    *Màu tía (điều) là một ngoại lệ. Màu tía điển hình có lông bờm, lông mã và một phần của vai, cánh màu đỏ, trong khi thân và đuôi màu đen. Nếu bám sát định nghĩa ở trên thì màu tía thuộc hành thủy bởi thân màu đen, chỉ có gà khét mới đúng là hành hỏa. Đây là điểm mâu thuẫn củaKê kinh, bằng không gà tía (điều) trong bài này ám chỉ đến “gà khét” chứ không như cách mà chúng ta hiểu ngày nay.

    *Có sách gà viết “gà có đủ năm màu tương ứng với ngũ hành là gà ngũ sắc, gà ngũ sắc không theo mạng”. Kê kinh không đề cập gì đến việc này mà chỉ nói lấy sắc chính làm đại diện.

    Ngũ hành luận

    *Tương hòa: là bình hòa, không hỗ trợ hoặc cản trở, kim~kim, mộc~mộc, thủy~thủy, hỏa~hỏa, thổ~thổ.

    *Tương thừa: hàm ý “thừa thế lấn áp”, chẳng hạn “mộc khắc thổ”, nếu mộc quá mạnh hoặc thổ quá suy thì gọi là “mộc thừa thổ”.

    *Tương vũ: hàm ý “khinh nhờn”, chẳng hạn “thủy khắc hỏa”, nếu hỏa quá mạnh hoặc thủy quá suy thì gọi là “hỏa vũ thủy”.

    Quan hệ biện chứng

    *Tương sinh lại chia ra làm “sinh nhập” và “sinh xuất”; sinh nhập = kẻ khác hỗ trợ mình nhờ vậy gia tăng công lực; “sinh xuất” = mình hỗ trợ cho kẻ khác nên bị hao tổn công lực. Ví dụ: “mộc sinh hỏa” thì mộc là “sinh xuất”, hỏa là “sinh nhập”, mộc hao tổn công lực trong khi hỏa tăng thêm công lực.

    *Tương khắc cũng chia làm “khắc nhập” và “khắc xuất”; “khắc nhập” = bị kẻ khác khắc chế; “khắc xuất” = khắc chế kẻ khác. Ví dụ: “thổ khắc thủy” thì thổ là “khắc xuất”, thủy là “khắc nhập”, thổ đè nén thủy, thủy không phát huy được.

    Sinh khắc của màu lông

    *Nhạn: ăn ó vàng, xám – thua ô, điều.

    *Xám: ăn ô, ó vàng – thua điều, nhạn

    *Ô: ăn nhạn, điều – thua xám, ó vàng

    *Điều: ăn xám, nhạn – thua ó vàng, ô

    *Ó: vàng ăn điều, ô – thua nhạn, xám

    *Kê kinh không nói rõ thắng-thua trong quan hệ tương-sinh như thế nào nhưng ở phần nhật thần sinh-khắc, “sinh nhập” luôn thu được lợi thế trong khi “sinh xuất” bị liệt vào vận hạn. Chẳng hạn, ngày mộc thì gà tía mạnh nhất bởi mộc sinh hỏa, ngày thủy thì gà nhạn (kim) bị rơi vào ngày kỵ. Như vậy, chúng ta có thể mạnh dạn suy luận rằng “sinh nhập ăn sinh xuất”, điều này cũng thuận với ngũ hành luận. Phải nêu rõ như vậy bởi có tồn tại quan điểm trái ngược “sinh xuất ăn sinh nhập”, ví như ta sinh địch = ta thắng, địch thua, địch sinh ta = địch thắng, ta thua.

    Tứ thời sinh khắc

    *Tứ thời sinh khắc là quan hệ vượng-suy của các hành theo mùa.

    *Xuân, hạ, thu, đông: bốn mùa tuần hoàn, hoán chuyển. Cuối mỗi mùa đều có một giai đoạn nhập thổ (tứ quý). Hành đại diện của các mùa: xuân-mộc, hạ-hỏa, thu-kim, đông-thủy, tứ quý-thổ.

    *Quan hệ của màu gà theo mùa. Chẳng hạn, gà xám cực thịnh (vượng) vào mùa đông, mạnh (tướng) và mùa đông, ổn định (hưu) vào mùa hạ, sa sút (tù) vào tứ quý và bại (tử) vào mua thu.

    *Quan hệ của mùa theo màu gà. Chẳng hạn, vào mùa đông, gà ô cực thịnh (vượng), gà xám mạnh (tướng), gà nhạn ổn định (hưu), gà ó vàng sa sút (tù) và gà điều bại (tử).

    *Khi một hành quá vượng hoặc quá suy sẽ diễn ra sự mất cân bằng trong quan hệ sinh-khắc, hiện tượng khinh lờn hay tương vũ xuất hiện. Các hành ở “vượng”, “tướng” chuyển hung thành cát, các hành ở “tù”, “tử” chuyển cát thành hung. Chẳng hạn:

    Mùa xuân mộc thạnh khôn cùng

    Gà nhạn tuyết ấy khắc đồng mấy cho

    Gà nhạn sa sút (tù) vào mùa xuân. Giả sử gà nhạn đá với gà xám, theo lẽ thường “kim khắc mộc” thì nhạn phải thắng xám. Nhưng vì nhạn sa sút (tù) trong khi xám cực thịnh (vượng) nên “mộc vũ kim”, xám thắng ngược nhạn!

    *Mùa thu rơi vào đỉnh điểm của mùa mưa, mùa này gà thường xổ lông, không mấy ai đá nên gà nhạn dù lợi thế cũng không có nhiều cơ hội để thi thố.

    *Bảng ở trên dựa vào ngày âm lịch. Chẳng hạn, tra lịch vạn niên: ngày 16-10-2011 là ngày 20-9 năm Tân Mão (âm lịch), rơi vào tứ quý (nhập thổ). Theo tứ quý thì thứ tự ưu tiên như sau: ó vàng, nhạn, điều, xám, ô. Tốt nhất nên mang gà ó vàng hay nhạn đi đá, tránh các màu còn lại. Bấm vào đây để xem: ví dụ.

    Nhật thần sinh khắc

    *Nhật thần sinh khắc là quan hệ sinh-khắc của màu gà đối với hành của ngày.

    *Hành của thập thiên can:

    Giáp, Ất=mộc

    Bính, Đinh=hỏa

    Canh, Tân=kim

    Nhâm, Quí=thủy

    Mậu, Kỷ=thổ

    *Tra nhật thần (lịch vạn niên): chẳng hạn ngày Ất Mão, theo bảng trên Ất=mộc suy ra ngày Ất Mão hành mộc.

    *Ngày kỵ: nếu rơi vào “vận tam lâm” thì không mang gà đi đá; “vận tam lâm” bao gồm các trường hợp sau: gà khắc ngày, ngày khắc gà, gà sinh xuất ngày (mất công lực). Chẳng hạn, ngày Nhâm Thìn hành thủy, các gà ó vàng, nhạn, và điều kỵ ngày, không đá được.

    Thổ, kim, hoả, vận tam lâm

    Nhựt thần là thủy khắc thâm ba chàng

    *Ngày tốt: bình hòa hoặc sinh nhập; chẳng hạn, ngày Ất Mão hành mộc, gà xám và gà điều tốt ngày, đem đá được; nhưng gà điều mạnh hơn vì được tiếp thêm công lực (mộc sinh hỏa).

    Ngày nào thuộc mộc tía no

    *Một ví dụ về tầm quan trọng của nhật thần: bình thường thì ô ăn tía (thủy khắc hỏa) nhưng vào ngày hỏa thì “hỏa vũ thủy”, tía ăn ngược lại ô!

    Tía thuộc mạng hoả là thường,

    Ô thủy gặp (ngày) hoả phải nhường anh va

    *Ngày âm lịch bao gồm 2 yếu tố: thiên can và địa chi. Thiên can có hành của thiên can, địa chi có hành của địa chi. Khi thiên can kết hợp với địa chi thì chúng ta có một yếu tố thứ 3 là nạp âm, nạp âm cũng có hành riêng. Kê kinh lấy hành của thiên can để tính nhật thần cho gà (mà bỏ qua địa chi và nạp âm), chẳng hạn ngày Giáp Thìn, tra bảng trên: Giáp=mộc suy ra ngày Giáp Thìn hành mộc. Bởi mộc sinh hỏa nên đem gà tía đi đá là lợi nhất, kế đó là gà xám. Bấm vào đây để xem: ví dụ.

    *Nhiều cách xem mạng gà khác dựa vào nạp âm. Nạp âm là kết hợp của can chi theo bảng Lục thập hoa giáp. Bảng này có nguồn gốc cổ xưa và người ta vẫn thường áp dụng vào việc bói toán, xem tuổi cho người. Chẳng hạn, ngày Giáp Thìn hành hỏa nhưng là “phú đăng hỏa” (lửa đèn). Có vài ba loại hành hỏa và các hành khác như kim, mộc, thủy, thổ cũng vậy. DẫuKê kinh không sử dụng nạp âm trong tính toán nhật thần nhưng cũng xin liệt kê ra đây để tránh nhầm lẫn!

    *Một trong những khác biệt của bản Kê kinh diễn nghĩa đăng trên báo Nông cổ mín đàm (1902) với những bản Kê kinh lưu hành trong dân gian (và được các sách gà ngày nay đăng lại) là phần nói về “nhật thần sinh khắc”. Bản đăng trên báo hơi lủng củng, và có đôi chỗ mâu thuẫn về “ngũ hành luận” nhưng vẫn truyền tải được nội dung chính; trong khi các bản “chỉnh lý” lưu hành trong dân gian hầu như cắt bỏ phần này và thay bằng vài ba câu đơn giản, tuy đúng nhưng lại không đầy đủ.

    Thảo luận

    *Xem ra việc xác định sắc lông chính của gà là quan trọng nhất bởi nó không chỉ ảnh hưởng đến màu mạng mà còn đến các yếu tố khác như tứ thời sinh-khắc và nhật thần sinh-khắc. Đôi khi, việc này không hề dễ dàng vì gà chọi ngày nay được lai tạo với nhiều màu sắc khác lạ, chẳng hạn những màu pha như cam hay nâu. Hoặc giả, gà có hai, ba màu mà không màu nào tỏ ra vượt trội thì biết lấy màu nào làm sắc chính? Do vậy, nếu coi trọng phép xem mạng này thì người chơi nên chọn màu gà không rơi vào trạng thái lửng lơ, hành phải thể hiện một cách rõ rệt. Có như vậy thì việc tính toán mới thuận lợi.

    *Nếu tuân theo quy luật “màu xanh thuộc hành mộc” thì chỉ có những màu lông lẫn sắc xanh như xám khô (blue) hay xám bùn (splash) thuộc về hành mộc. Màu xám không lẫn sắc xanh, chẳng hạn như màu bờm, mã của gà chuối tro, là màu pha trắng-đen (kim pha thủy). Tham khảo ở đây.

    *Trên thực tế, phép xem màu mạng gà phổ biến đến nỗi người ta không cho đối phương nhìn thấy gà khi cáp, gà được cất trong giỏ, cáp theo cân nặng, một khi hai bên đồng ý là lấy ra đá luôn. Bỏ đá sẽ bị phạt.

    *Lưu ý đến quan hệ “tương vũ”. Kê kinh nhấn mạnh đến quan hệ này trong các phần tứ thời sinh-khắc và nhật thần sinh-khắc. Qua đó, chúng ta nhận thấy hai phần này quan trọng hơn hẳn sinh-khắc của màu lông.

    *Bởi không thể biết trước màu lông gà địch, mỗi khi ra trận, chúng ta chỉ có thể tính toán tứ thời sinh-khắc và nhật thần sinh-khắc sao cho có lợi nhất cho gà của mình. Theo Kê kinh thì hai yếu tố này quan trọng hơn so với sinh-khắc của màu lông. Chẳng hạn, vào mùa xuân thì gà xám mạnh nhất kế đó là gà điều, khi đem gà xám đi đá thì chọn ngày thủy, kế đó là ngày mộc; khi đem gà điều đi đá thì chọn ngày mộc, kế đó là ngày hỏa. Bởi trường gà thường mở vào cuối tuần, chúng ta cần tính tiếp xem ngày cuối tuần nào là phù hợp. Sau khi xác định được màu gà và ngày xuất trường rồi thì lên kế hoạch biệt dưỡng và ốp sao cho gà tới độ vào đúng thời điểm dự tính.

    *Còn một số cách tính nữa tuy Kê kinh không bàn đến nhưng vẫn có người áp dụng, chẳng hạn:

    Sinh khắc theo giờ: dưới đây là bảng quy đổi từ giờ sang hành. Một khi có hành, chúng ta sẽ tra theo bảng ở phần “nhật thần sinh khắc” để tránh giờ kỵ, chọn giờ thuận lợi.

    Qua bảng tính giờ này chúng ta sẽ thấy khoảng thời gian đá gà trong ngày (7 giờ sáng đến 5 giờ chiều) ứng với các hành thổ, hỏa và kim. Qua phân tích chúng ta sẽ thấy các màu nhạn, ó vàng và ô đều có những lúc lợi nhất, màu điều cũng có lúc lợi nhưng không bằng. Đặc biệt gà xám luôn bất lợi (trừ phi tổ chức đá lúc nửa đêm!).

    Phương hướng thả gà: mỗi giờ ứng với một hướng, dựa vào đó mà thả gà.

    Sinh khắc theo màu chân: vàng ăn chì, chì ăn trắng, trắng ăn xanh và vàng, xanh ăn vàng và chì.

    *Người Philippines lập bảng tử vi cho gà (cock horoscope) tức tương quan giữa màu lông & màu chân với tuần trăng. Khả năng đá được tính theo thang đo từ 1 đến 18. Nguyên tắc chung: vào tuần trăng non, trời tối thì gà sẫm màu, chân chì đá tốt; vào tuần trăng rằm, trời sáng thì gà sáng màu, chân trắng, chân vàng đá tốt.

    *RB Sugbo Gamefowl Technology, một công ty chuyên kinh doanh và nghiên cứu về gà đá ở Philippines, tiến hành thí nghiệm trên gà đá (gà Mỹ) từ tháng 12/2004 đến tháng 3/2005: kết quả cho thấy gà đá có nhịp điệu sinh học (bio rhythm) nhưng trái với điều mà mọi người vẫn nghĩ, nhịp điệu sinh học không liên quan gì đến bảng tử vi của gà. Cách thực hiện: 20 con gà trống và trống tơ được chọn một cách ngẫu nhiên từ các dòng và bầy lai khác nhau. Mỗi con gà được cáp đá sau mỗi 4 ngày và các thông số được ghi nhận. Sau 24 trận, biểu đồ cho thấy gà có nhịp điệu sinh học theo một chu kỳ bao gồm 4 pha trùng với 4 tuần trăng trong một nguyệt kỳ. Gà đá hay dần trong hai tuần trăng đầu rồi sút dần trong hai tuần kế đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Để Lan Mọc Thêm Nhiều Mầm Mới
  • Cách Trồng Lan Cắt Cành
  • Ánh Sáng Như Thế Nào Là Tốt Cho Lan
  • Nghề Chơi Lan Lắm Kỳ Công
  • Thế Nào Là Một Giỏ Lan Đẹp?
  • Vi Rút (Virus) Trên Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Bọ Cánh Cứng Hại Hoa Lan
  • Khử Trùng Và Diệt Bệnh Cho Cây Lan
  • Tìm Hiểu Chính Xác Về Lan Và Phụ Cảnh
  • Các Loại Phân Bón Cho Lan
  • Nhân Giống Hoa Lan Đúng Cách
  • Trong các chứng bệnh của hoa lan, khi bị nhiễm vi rút, rất khó lòng nhận diện cũng như không có cách nào chữa trị hữu hiệu cả. Hiện nay coi như là vô phương cách.

    Cây lan này nên vất bỏ để khỏi lây lan sang cây khác. Cũng đừng nên tìm cách bán đi hay cho người khác. Làm như vậy sẽ có hại cho mọi người. Cách đây không lâu có một vài vườn lan tại miền Nam California có nhiều cây bị nhiễm bệnh virus vẫn bán cây ra ngoài, sau đó bị phát giác, vườn lan bị tẩy chay và đành khai phá sản. Hiện nay trên Internet cũng có nhiều người than phiền một vườn lan bán cây bị nhiễm vi khuẩn.

    Trong bài “Bệnh tật và Sâu bọ” viết vào tháng 5 năm 2006 chúng tôi chỉ trình bầy vắn tắt, nay xin nói rộng thêm ra để chúng ta biết cách đề phòng.

    Hiện nay có khoảng 25 giống virus tìm thấy trên các cây lan, nhưng tệ hại hơn cả là 3 loại ORSV (Odontoglosum Ringspot Virus), TMV (Tobacco Mosaic Virus), và CyMV (Cymbidium Mosaic Virus). Những vi khuẩn này rất nhỏ, phải phóng lớn ra hàng ngàn lần mới nhìn thấy.

    Nguyên nhân

    Nguyên nhân bị nhiễm vi rút tùy thuộc vào loài lan, loài vi rút và điều kiện về nhiệt độ và ánh sáng. Có khi cây lan bị nhiễm vi rút mà không có một dấu hiệu nào có thể nhìn thấy được. Ngoài ra nếu chất dinh dưỡng không cân bằng, quá nhiều muối, nắng quá, lạnh quá, bị bọ rệp, bị nấm hay bị nhiễm trùng hoặc rối loạn di truyền cũng có những dấu hiệu như là bị vi khuẩn. Thí dụ như quá nhiều chất urea trong phân bón sẽ tạo ra dấu hiệu Cymbidium Mosaic Virus trên lá cây lan đất (Cymbidium)

    Vi rút thường lây lan vì cây nọ đụng cây kia, hoặc do côn trùng hay bọ rệp và con người dùng dao kéo hay tay không sạch mang bệnh từ cây này sang cây khác. Khi xâm nhập qua các vết cắt, vết thương vi rút sẽ sinh sản mau lẹ. Tobacco Mosaic Virus có thể nhân lên 11 triệu lần trong vòng 20 giờ và lan ra bởi nhựa cây.

    Thông thường khi bị nhiễm vi rút trên lá lan có các dấu hiệu như sau:

    Các đốm mầu, những chấm hay sọc vàng, mầu nâu hay mầu đen trên mặt lá.

    Những chỗ bị mất mầu và thường lõm xuống.

    Những vòng mầu vàng hay mầu nâu

    Những mảng mầu vàng hay mầu xanh trên lá.

    Hoa

    Có những vệt nâu hoặc bị biến mất mầu, nhưng nhiều khi chỉ hiện ra khi hoa đã nở ra khoảng 2 tuần lễ. Những vệt biến mầu này đôi khi không phải là vi rút mà là vì gen bị thay đổi.

    Nhận diện

    Rất khó lòng nhận diện chính xác là giống vi rút. Chỉ có thử nghiệm mới biết chắc được. Hiện nay có những nơi bán các dụng cụ để chúng ta thử nghiệm giá từ 40-50$ trở lên hoặc có những phòng thí nghiệm nhận thử nghiệm vi rút. Muốn biết rõ chi tiết xin vào Orchids virus testing kit hay www.agdia.com

    Dấu hiệu khác thường

    Khi lan bị nhiễm vi rút, cây lan trên lá có những đốm, những vệt đen hoặc nấu sẫm. Khổ một nỗi những dấu hiệu này chẳng khác gì dấu hiệu khi cây bị quá lạnh, bị quá nóng hay bị nhiễm trùng hay nhiễm nấm như sau:

    Lá bị rách và sắp rụng

    Kể ra còn nhiều dấu hiệu trện thân, trên lá gần giống như là bị vi rút, nhưng nếu những tật bệnh do nhiễm trùng nhiễm nấm đã được chữa khỏi, các vết hay đốm sẽ không lan rộng ra. Muốn biết rõ hãy lấy bút khoanh một vòng chung quanh đốm để theo dõi. Nhưng các vết đó sẽ như là vết sẹo còn tồn tại cho tới khi lá rụng hoặc khi được chúng ta cắt bỏ.

    Nếu thấy lá cây vàng úa và rụng toàn bộ chớ vội kết luận là lan bị bệnh, bởi vì có nhiều cây đến mùa thu sẽ vào chu kỳ rụng lá để sang năm mọc chồi mới như những loài Calanthe, Stenoglottis và nhiều giống Dendrobium chỉ ra hoa trên cành đã khô trụi lá.

    Những đốm hay chấm trắng đục trên lá cũng không hoàn toàn là do nấm, bị nhiễm trùng hay virus mà chỉ là dấu hiệu thiếu chất lục diệp tố của cây lan như cây Phaius macculata và nhiều cây khác.

    Những lá già phần đông đều có dấu hiệu trông chẳng khác gì bị bệnh. Chỉ có thí nghiệm mới biết chắc chắn.

    Có một điều nên biết là những cây bị nhiễm trùng hay nấm nếu đã được chữa trị, vết đốm vẫn còn nhưng sẽ không lây lan sang các cây con.

    Trái lại, nếu bị nhiễm vi rút sẽ lây lan sang các cây con và không có cách gì chữa trị được đành phải vất bỏ, bởi vì cây sẽ quặt quẹo, yếu đuối, hoa bị lệch lạc, cong queo, có những tì vết và chóng tàn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lan Nở Vào Dịp Tết
  • Trồng Lan Trên Gỗ Lũa
  • Trồng Lan Trên Ban Công Hay Sân Thượng
  • Mùa Hoa Lan Nở
  • Nên Dùng Phân Chậm Tan Hay Không?
  • Hướng Dẫn Cách Xem Tướng Gà Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Loại Thần Kê, Linh Kê Và Quý Kê
  • Hướng Dẫn Bí Quyết Xem Mạng Gà Hay
  • Chế Độ Nuôi Chiến Kê Của Người Thái
  • Dinh Dưỡng Và Áp Lực Đối Với Gà Chọi
  • Chia Sẻ Bí Quyết Và Kinh Nghiệm Về Vi – Vảy – Cán Gà Chọi
  • LƯNG GÀ

    Lưng gà hay phải theo xuôi với cần cổ bằng ngang, thẳng băng, xéo tiếp với đuôi.

    + Gà lưng dài thì tốt, lưng ngắn thì dở, to hông thì có dư sức khỏe.

    + Tránh chơi gà lưng gù, vòm cong như lưng tôm, loại gà bất tài.

    + Lưng gà và lưng cánh, tạo thành một mặt phẳng trên lưng, gọn gang nhỏ dần về đuôi, hơi xéo xuống đuôi, gà ấy giỏi lắm.

    + Lưng xéo xuống đất về phía cổ, gà dở.

    + Lưng xéo xuống đất về phía đuôi, gà tốt.

    + Lưng bằng ngang, có con hay con dở, đa số là dở.

    + Bề ngang của lưng tại hai bên nách, nhỏ, lép, gà thiếu tính bền.

    + Trên lưng có bộ lông mã thả thong hai bên hông, phía sát đuôi, gà nhiều lông mã, xem rậm rạp, tốt lắm.

    Nếu những lông này dài, nhọn như kim được thả xuống, mũi chỉ về phía trước, chứng tỏ gà bền sức, cựa đâm nhiều, rất quý, mã ấy gọi là “mã kim”.

    + Nếu lông mã, cái to cái nhỏ, nửa mái lại nửa gà thường, gà ấy tốt, thường là gà hay. Lông mã mọc nhiều hai bên đùi, quý lắm.

    + Gà xám tro, ô ướt, tuyền một sắc, tốt.

    + Ngũ sắc thì may độ lắm, không kỵ sắc nào.

    + Lông mã nhiều sắc không tốt, nhưng có ít chấm như sao, lại quý.

    + Lông mã có màu như lông công là gà hay, có tài.

    + Đôi vai gồ lên, không bằng phẳng, vai hẹp, tốt. Gà ấy đứng nước khuya giỏi ( chẳng nên lầm với hai trái chanh, càng lớn càng tốt).

    CẦN CỔ GÀ

    Cổ gà nòi thường dài, nhưng nếu dài quá thì lại yếu, cần cổ sẽ không lấn được lúc giao chiến. Cần cổ được kể từ dưới lỗ tai trở xuống đến gáy, chạm lưng, nếu gà cần cổ quá nhỏ, thật bất tiện, gà ấy yếu, khó trả đòn mãnh liệt. “Gà cựa” cũng như “gà đòn”, cổ to là tốt, nhưng thường “gà cựa” cổ bé nhỏ hơn “gà đòn”. Cổ có nhiều hình thù khác nhau: cổ tròn, cổ dẹp, cổ liền, cổ rời, cổ cò và cổ kên kên.

    Cổ tròn thì tốt, cổ dẹp thì xấu

    Cổ liền thì tốt, cổ rời xấu

    Cổ kên – kên thì tốt, cổ cò xấu

    Cổ đôi thì rất tốt

    Cần cổ tròn và liền: hay tạt hay quăng, đá trên

    Cần cổ dẹp và ngắn: hay đá dưới, đá lòn.

    Cần cổ dẹp và dài hoặc tròn mà lỏng rời: là cổ xấu.

    CỔ TRÒN: Đứng nhìn gà, ta thấy cần cổ tròn như một ống tre.

    CỔ DẸP: Cần gà sẽ chia làm đôi một cách rõ rệt, một nửa dành cho xương cần, một nửa dành cho cuống họng, cổ không được no tròn.

    CỔ LIỀN: Cổ liền thường tròn, đưa tay bóp xương cần, không thấy nhưng mắt cần ráp lại, tựa như mắt tre vậy.

    CỔ ĐÔI: Cần cổ gà cứng, tròn to từ trên xuống quá khỏi gáy, không phải cổ đôi, thường ở gáy có miếng da mỏng kéo từ cổ xuống lưng.

    CỔ RỜI: Trái ngược với cổ liền, ta sẽ thấy từng mắt nổi lên rõ ràng khi đưa tay nắn cần cổ.

    CỔ CÒ: Gà cố dài nhòng thẳng tắp hoặc quá cong sau ót và trước ngực.

    CỔ KÊN KÊN: Là cổ ngắn, tròn, cong trên ót, trước ngực, cổ không lồi ra, cổ to và liền. Lấy tay đẩy cổ gà qua lại, lên xuống, trong khi tay kia giữ thân gà, cốt xem cần có cứng không, yếu là dở.

    –    Cổ ngắn là đúng cách nên dung.

    –    Cổ tròn và dài là gà đi trên, đánh từ cần cổ địch thủ trở lên.

    –    Cổ dẹp và ngắn là gà chạy dưới, đá chuyên hầu, vai, đùi, ngực.

    Cổ gà vừa đòn vừa cựa thường to mà đẹp, như vậy vẫn có khi dung được.

    Cổ gà nếu thấy một vảy đóng sau tai, tựa như vảy dưới chân, có khi lông cổ che mất, xem rõ mới biết, rất tốt, gà này được mệnh danh là “linh kê”, quý lắm.

    –    Cần cổ tròn và liền: hay tạt xuống hay quăng, đá trên

    –    Cần cổ dẹp và ngắn: hay đá dưới đá lòn

    –    Cần cổ dẹp và dài hoặc tròn mà lỏng rời, cổ xấu.

    MẮT GÀ

    Mắt gà: giác quan bất lộ. Con mắt là nơi biểu lộ tính khí của con gà nhiều nhất. Nó gan lì, hung hăng và tài ba là dường nào, cũng đều nhận thấy từ nơi con mắt. Tiền khởi nhìn con mắt phải sâu, đừng sâu hoắm khiến con gà chậm chạp. Mắt bằng ngang, không sâu chẳng lồi, gà ấy có bản tánh hiền lành, nhát đòn. Nếu mắt lồi, không tốt, dễ đuối, nhát. Mắt gà tốt thường có viền đen chung quanh mí, tròn và con ngươi phải tròn như hạt trai, con ngươi đen, thật tròn, nhỏ mới linh động, thế mới đúng câu “giác tâm nhị tiểu” của Lê Văn Duyệt. Trong mắt có nhiều màu sắc khác nhau.

    1/ NHỮNG MÀU MẮT NÊN CHƠI.

    –    Trắng dã: tính khí lỳ lợm, gan dạ, đòn độc.

    –    Trắng ngà: cũng tốt nhưng kém hơn màu trắng dã.

    –    Bạc: lanh lẹ, linh động.

    –    Vàng thau: hung hăng, dữ tợn, lỳ lợm.

    –    Vàng đất đốm đen: gọi là mắt rắn hổ, nếu mí mắt bằng ngang, gọi chung là “mắt ếch” (mí mắt không cong theo vòng tròn của mắt).

    –    Mắt ếch: màu nâu có đốm đen hoặc nâu huyền, gà lỳ lợm.

    –    Mắt sao: tựa như mắt bạc và xám.

    –    Mắt hạt cau: mắt trắng, hoặc đỏ hay xám hoặc vàng, có tủa ra chỉ hồng, dữ dằn.

    –    Mắt lửa: mắt màu đỏ tía như lửa, gan dạ, hung hăng.

    –    Mắt xanh: có màu xanh nhạt, nhìn xa tựa như mắt trắng, gà có tài.

    2/ NHỮNG MÀU MẮT CHẲNG NÊN CHƠI

    –    Mắt đen thui: còn gọi là “mắt cá lóc”, nhát, dễ chạy bậy.

    –    Mắt đỏ nhạt: nếu hơi lồi thì gọi là “mắt ốc cao”.

    –    Mắt vàng: yếu.

    –    Mắt xám: thường.

    + Nếu là loại nhạn, chuối, ô bông, bông nhạn, bướm, xám gạch, ngũ sắc, xám tro, mà có những màu mắt kể trên thì khôn, xứng tướng.

    + Nếu mà có đôi chân trắng (những màu mắt kể trên) sẽ không tốt. Ngoại trừ mắt hạt cau dung được. Nếu là loại: điều, ó, ô, xám, khét, ngũ sắc, ô điều, và có những màu sắc trên chơi mới quý.

    –    Cặp mắt trắng, đôi chân trắng, cái mỏ trắng, nếu là: ô, ô điều, điều xám, đều là gà tốt.

    –    Gà có chân xanh mắt bạc, vàng thau, tốt.

    –    Gà ô chân xanh hoặc đen, nên có những mắt trắng hoặc những màu nên chơi. ( chung quy chỉ nên dung những màu mắt kể trên). Nếu gà có mỗi mắt một màu khác nhau, gà này tuy khá nhưng không nên chơi, vì nó kém bền, không đúng cách, thuận một bên, dễ mù. Còn gà có hai màu, nhợt nhạt ở một bên mắt, gà ấy yếu, bở sức, đòn thường. Loại gà “đổi màu” theo cảnh vật xung quanh, gà này có tài, nhưng nhát gan (lúc màu này lúc màu nọ).

    –    Độc long là gà từ trứng sinh ra chỉ có một mắt (quí tướng) thuộc loại gà hay.

    –    Bổ túc cho mắt, mí mắt phải mỏng, để mở ra khép lại dễ dàng, dễ cảm kích hơn.

    ĐẦU GÀ

    1) GÒ MÁ: Gò má của gà cần phải cao mới quý, và cũng để bảo vệ đôi mắt khỏi nguy hiểm, nếu cao mà rộng càng quý hơn.

    2) LỖ TAI: Phải được nhiều lông nhỏ, cứng che kín, để bảo vệ khi giao chiến, có thể đất cát lọt vào, gây trở ngại cho óc, làm gà mất nhanh nhẹn.

    3) LỖ MŨI: Lỗ mũi nên mở rộng, để gà không nghẹt thở lắm.

    4) GÒ TRÊN MẮT: Phía trên mắt gà nòi thường thường nhô lên một cái gò, khiến ta thấy con mắt sâu xuống gò này có nhiều hình, có con gò cao, con lại gò thấp, thường gò cao tốt hơn, nhưng đừng quá cao để che mất mắt khi đứng trên nhìn xuống, chỉ them chậm chạp.

    Những gò này được tính từ lỗ tai chạy dài ra gần phía mũi.

    Gò nổi: nổi lên sát phía mỏ, con mắt hơi lui về phía sau tai, thì bộ mặt gà dữ hiện ra ngay.

    Gò lép: gà thường đánh trên, nhưng kém gan dạ.

    Gò lồi: gà đánh trên, đánh dưới tùy con, nhưng gan lỳ. Đầu gà phải nhỏ hơn cổ, ít ra cũng bằng cổ, đừng lớn hơn sinh ra chậm chạp, nặng nề, trên đỉnh đầu chia ra làm hai, ấy là sọ đôi thường yếu. Đầu gà bằng láng, tròn, thon xuôi như quả xoài là tốt. Đầu tròn xuôi xuống cổ, nhưng cách cổ bằng một khấc, lõm xuống rồi mới đến cổ, tiếp tục cong vòng xuống thân, loại đầu này thường trên đỉnh bằng trơn, tốt lắm, đích thị gà thế, lúc giao chiến gà này luôn luôn thủ giấu cái đầu của nó dưới bụng, dưới cánh địch thủ.

    *Chú ý: gà nào thì sọ với cổ cũng cách nhau 1 rãnh ngang, nhưng tùy con, nhiều và ít mà thôi.

    – Gà mặt có nhiều vết nhăn nheo, gọi là mặt “gốc tre”, tốt lắm, gà này rất bền sức và gan dạ.

    – Mặt gà có những bớt đen, gọi là “mặt lọ”, gà này dữ.

    – Con mắt nghiêng, ngửa lên trời, mắt hơi cao lên đỉnh đầu, gọi là “gà mặt cóc”, gan dạ, bền sức.

    – Đứng trước mặt gà, nhìn xuống đầu, sẽ thấy đầu hình tam giác, tính từ trái qua phải, nếu đầu gà dẹp, gà ấy lẹ lắm, tránh né rất nhanh, trái lại, đầy, to là gà chậm.

    – Trên đỉnh đầu, sọ được chia làm hai, gọi là “sọ đôi” như đã nói trên, gà tuy yếu nhưng “quăng” giỏi, có biệt tài đá “song phi”, không cần cắn cổ, gà này đá mở rộng.

    – Đầu gà bề ngang rộng, gà ấy gan dạ, chậm chạp hay hứng đòn.

    – Đầu gà hẹp (nhìn từ trên xuống), nhút nhát, chuyên môn so vảy trước khi đá, nếu thấy địch tài ba, là cuốn gói (độn khứ lai kê).

    – Đầu vừa, không quá rộng và quá hẹp, mắt sâu, gà lỳ lợm, chịu đựng giỏi, ra đòn khéo, nhưng coi chừng mắt quá sâu thì chậm.

    – Con mắt to, lớn cả ngoài khuôn loại ấy có biệt danh là “chí tứ bất thoái”, gà ấy sống chết coi thường, rất gan lỳ nên chơi.

    MẶT GÀ

    Mặt gà cũng có lắm hình dáng khác nhau tùy theo từng dòng, “dòng cựa” khác “dòng đòn” khác, “dòng chung đúc” và nhiều loại ” dòng bản xứ” khác nhau.

    Thí dụ:

    Mặt điền: vuông

    Mặt tam giác: tam giác

    Mặt nhật: chữ nhật

    Mặt góc tre: nhăn nheo như gốc tre

    Mặt cú: giống mặt con cú

    Mặt lục: lục giác

    Mặt khuyết: tam giác lõm

    Mặt ó: giống mặt con ó.

    Mặt tròn: tròn

    Mặt nhọn: nhọn

    Mặc cóc: giống mặt con cóc

    Mặt lọ: có bớt đen như lọ

    Mặt bán nguyệt: hình bán nguyệt

    Mặt quạ: giống mặt con quạ

    Khuôn mặt là khoảng chung quanh con mắt.

    + Gà có “mặt điền”: thường là gà đòn, gan góc, đòn đá hóc hiểm,  nếu con mắt thụt sâu, gan lỳ.

    + Gà có “mặt tam giác”: thường là gà cựa, cựa đâm liên tục, nhanh nhẹn lẹ làng, gà mặt tam giác thuộc dòng gà cựa danh tiếng.

    + Gà “mặt nhọn”: lẹ làng, nhưng nhát, bở. Gà mặt nhọn có thể được chung đúc từ gà “mặt tròn’ và “tam giác” mà ra.

    + Gà “mặt tròn”: gà lỳ và lanh lẹ, nhưng kém bền sức, bằng gà “mặt điền”.

    + Gà “mặt nhật”: có tướng đẹp trai, điêu luyện, nếu hay thì tuyệt hay, bằng không bình thường, nhưng không dở.

    + Gà “mặt cóc”: biệt danh là “chí tử bất khoái”, gan lắm, chết không chạy.

    + Gà mặt “gốc tre’: cũng gan dạ không kém, xem bộ mặt không thấy thư sinh, chỉ thấy lầm lỳ, sống chết bất cần.

    + Gà “mặt cú”: mang trong mình tính tình dữ tợn, thêm điêu ngoa.

    + Gà “mặt lọ”: cũng nên chơi, chẳng kém gì các gà khác.

    + Gà “mặt lục”: hay dở tùy con.

    + Gà mặt “bán nguyệt”: dữ tợn hơn mặt tròn. Còn nhiều loại mặt khác, chung quy cũng là do những loại mặt nói trên chung đúc ra, vẫn nên chơi tùy con, tùy tài. Gà đòn nên chơi mặt vuông, gà cựa mặt tam giác, gà pha đòn pha cựa mặt nhật là đúng.

    + Gà “mặt khuyết”: đòn hoặc cựa đều hay. Các loại mặt tốt thì gò má và gò mắt phải cao  mới hay.

    + Gà “mặt quạ”: trông dữ dằn, ham chiến đấu.

    + Gà “mặt ó”: lanh lợi dữ tợn và to gan, đa số gà mặt ó thuộc dòng giống tốt.

    –    Khoảng cách ở mặt từ mí mắt đến lỗ mũi, rộng sâu là gà nhạy đòn, địch thủ dễ mất bình tĩnh với nó.

    –    Khuôn mặt gà tròn, rộng chung quanh khuôn viên ra tới mũi bằng phẳng, gà ấy bình tĩnh điềm đạm, đánh một đòn đáng một đòn.

    –    Gà “mắt lửa”: đỏ như lửa, có thể đổi màu tùy lúc, hoặc thêm đốm đen, xanh xanh, con ngươi cũng đen hoặc xanh, đúng gà ấy được mệnh danh là “cuồng kê”, gà quý lắm.

    –    Gà tròng vàng sậm có điểm đen hoặc xanh, loại mắt thau cũng quý. Như đã nói qua, mắt trắng dã, đá nhanh đòn, né tránh gọn gang, ra đòn nguy hiểm, mắt long lanh sáng ngời, chớp có sao, là loại khôn ngoan ít có.

    CỰA GÀ

    Cựa gà được gắn liền gần thới tại đôi chân. Cựa giống một long xương, ruột có máu bọng, đầu nhọn. Cựa có khi to gần bằng ngón tay út, có khi nhỏ như đầu đũa, thường chỉ về phía sau, hơi cong hoặc thẳng tùy con. Cựa có nhiều loại:

    1)    Cựa sáp: bên ngoài được bao bọc bởi một lớp men, dẻo như sáp, nếu lấy dao mà cạo, ta sẽ thấy ra những lớp như cạo đèn cầy, sau đó là đến lớp xương rồi mới đến máu.

    2)    Cựa thép: thường màu đen, nếu cạo sẽ thấy cứng hơn nữa, dẻo.

    3)    Cựa xương: màu trắng đục, nếu cạo sẽ thấy giòn cứng.

    4)    Cựa vôi: lớp ngoài rất bở, tựa như vôi đóng, không gọt chuốt được.

    5)    Cựa da: đụng mạnh vào cựa thấy lung lay, rung rinh (cựa giấp).

    * Hình dáng của cựa:

    –    Đôi cựa dài, hơi cong mũi được gọi là “song đao”.

    –    Nếu mũi cựa hơi nghiêng về phía sau một chút, đứng cất chéo lên nhau, được gọi là “song đao nghiêng” (cựa độc).

    –    Nếu cong ít hơn song đao gọi là “siêu đạo” (cựa độc).

    –    Hai cựa ngay thẳng chỉ vào nhau gọi là “giao chỉ” (cựa khá).

    –    Nếu thẳng, quay mũi ra phía khác, gọi là cựa “hứng gió” (dở).

    –    Nếu ngay thẳng, và chỉ xuống đất được gọi là “chỉ địa” (thường).

    –    Nếu cựa “chỉ địa” được vảy huyền tram đóng ngay cựa (đâm nhiều), còn gọi vảy ấy là “trung huyền” (huyền tram công tự)

    –    Cựa cong ra phía sau nhiều như cặp sừng trâu gọi là “hom lọp” (xấu).

    –    Trên cựa có một vảy to, dưới cựa có một vảy to, có đòn tài.

    –    Trên và dưới cựa chính, có nổi lên hai cựa phụ thấp hơn, nếu hai cựa này rung rinh, thì tốt, gà quý, gọi là “cựa lục đinh”.

    –    Gà cựa, cựa có chấm hình lưỡi liềm, hay lưỡi đao, nó ửng nổi trong cựa, cựa trắng thì ửng đen, cựa đen ửng trắng, nhìn qua ánh sáng mới thấy được, cựa này không kỵ gà nào, nếu có gà tài đâm là đâm chết, gọi là “uyên võ đệm giáp”.

    –    Cựa có ba chấm mọc ra, nhọn như móng cọp, đâm rất độc, gà địch bị đâm chịu không nổi mà chạy, gọi là “cựa độc đinh”.

    –    Cách từ cựa xuống thới, có bốn năm chấm tròn, trên to dưới nhỏ, chân cựa vuông, đáu tròn nhỏ, là cựa độc, gọi là “thượng áp hạ”.

    –    Cựa nhỏ như đầu đũa, dài, gọi là “cựa kim”.

    –    Cựa ngắn ngay sát với thới, xuôi một chiều như nhau, ngược với cựa”hứng gió” gọi là “cựa êm”, còn tùy xuôi nhiều hay ít, nếu xuôi ít và cất chéo lên nhau thì tốt, đồng thời phải cong vừa.

    –    Nếu đóng sát thới cựa đâm nhiều.

    –    Hai cựa một màu đen một màu trắng, hoặc phân nửa trắng phân nửa đen cho một cựa, có tên là “nhật nguyệt” (cựa dữ, tốt).

    –    Tam cường: mỗi chân có ba cựa, một cựa dài và hai cựa ngắn hai bên, hai chân như nhau, gọi là “tam cường” gà này đá hiểm (hai cựa phụ gần như lộ nổi).

    –    Cựa lục đinh: trên dưới cựa chính có kèm hai cựa phụ nhưng thấp hơn, nếu hai cựa phụ này rung rinh thì rất quý, gà quý mới có.

    –    Đại đoản cao: cựa to bản và ngắn, tầy đầu, thường thấy ở cựa “lục đinh” (gà đòn), gà này ưa đá cần, đòn khá.

    –    Cựa thắt lại ở gốc và nở ra ở phía ngoài, nó khấu vào chung quanh cựa, gà có cựa như thế nhất định đâm mắt địch thủ.

    –    Cựa nhiều thép, chột nhỏ, tròn, cựa đóng sát thới, cần nhất là “vọng cựa” chiều cựa theo thới, khi xếp xuống phía dưới gọn hơi cong lên, nghiêng từ gốc đến ngọn cựa lối 10 hay 12 độ và dài tới 3 hoặc 4 phân là cựa đáng sợ nhất.

    –    Cựa dóng cao, to chột gọi là cựa “củ cải”, xấu.

    –    Cựa xốc lên gối gọi là “chỉ thiên” xấu.

    –    Cựa “hứng gió” cựa gài của nó xoay ngang, quẹt ra phía sau và chúi đầu xuống là cựa xấu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Quyết Xem Tướng Gà Hay Bạn Cần Biết
  • Các Phương Pháp Tập Luyện Cho Gà Đá Cựa Sắt
  • Tìm Hiểu Về Các Dạng Mồng Gà Đá
  • Chia Sẻ Bí Quyết Chế Độ Nuôi Dưỡng Gà Chọi Trong 14 Ngày
  • Phương Pháp Nuôi Dưỡng Gà Chọi Ra Trường Đấu
  • Hướng Dẫn Cách Xem Vảy Gà Chọi

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Lan Đai Châu Miền Nam
  • Chiết Tách Lan Dendro Từ Cây Mẹ
  • Khắc Phục Lan Hồ Điệp Bị Thối Nhũn Vào Mùa Mưa
  • Cây Lan Hải Yến
  • Cách Phân Biệt Lan Đai Châu (Ngọc Điểm) Trắng & Đỏ
  • 1. Kích Giáp

    Kích giáp là vảy tựa như quấn cán, cách 4 hàng vảy, tính từ gối xuống. Tương truyền, gà có vảy này thuộc hàng tướng kê, ra đòn nhanh lẹ dũng mảnh, ăn độ chớp nhoáng, khiến cho địch thủ đa số tử trận, hộc máu chết tại chỗ.

    2. Thất Đao Thiên

    Thất Đao Thiên là loại vảy có 7 vảy quấn cán từ cựa hướng lên tới gối. Tương truyền, gà này là gà sát kê, ra đòn nhẹ nhàng nhưng hiểm độc vô cùng. Nhìn thế đá, cứ tưởng là bình thường nhưng với vài cú nhảy đầu tiên là đã hạ đối phương hộc máu chết tại chỗ, không cho đối phương có cơ hội phản đòn.

    3. Giáp Thới Phòng Đao

    Giáp Thới Phòng Đao là hàng vảy tại thới, đi đều lên qua cựa, cong vào, ôm lấy cựa, hình thức phải rõ ràng, vảy phải đều nhau, không bị khai chia. Gà có vảy này, tài ba xuất chúng, nếu cả hai chân đều có vảy này là cực quý, dứt địch chớp nhoáng.

    4. Hàm long

    Hàm Long là vảy lớn hơn các vảy khác, có 1 đường nứt chính giữa đi ra phía ngoài (hàng nội/hàng quách) và đụng 1 vảy nhỏ nằm giữa. Gà có vảy này là gà hay.

    5. Giáp Vy Đao

    Giáp Vy Đao là vảy gồm 4 đến 5 cái ở hàng nội (hàng quách) nằm gần cựa chụm đầu vào nhau, hướng về phía cựa. Gà có vảy này cũng thuộc hàng quý hiếm khó tìm, được các sư kê xếp vào hàng tướng kê vì gà này thường ra đòn rất đẹp mắt và có chân cựa cực kỳ nguy hiểm.

    6. Nội Hoa Đăng

    Nội Hoa Đăng là loại vảy có các vảy của hàng nội đi thẳng đều lên tới cựa. Gà nào có nội hoa đăng cả hai chân thì được liệt vào thần kê, còn tài giỏi hơn cả linh kê nữa. Gà này có đủ tài hay của một võ sư, tiến thoái nhịp nhàng, ra đòn xuất nhập tùy ý, thân pháp linh hoạt, là gà cực quý.

    7. Văn Võ Song Toàn

    Văn Võ Song Toàn là một chân có 3 hàng vảy ở mặt tiền, một chân có 2 hàng trơn. Gà có loại vảy này thì chắc chắn một điều là đi đến đâu cũng vô địch, bách chiến bách thắng. Gà này có đủ bài bản của các đòn độc như song phi, đá tạt ngang, đá kèo trên, đá kèo dưới, và biến đòn cực kỳ nhanh khiến cho gà địch lung túng, lãnh đòn hiểm mà chết.

    8. Linh Giáp Tử

    Linh Giáp Tử là vảy từ thẳng từ thới chạy lên đụng hai giáp đóng ngay cựa hàng nội (hàng quách). Gà này được các sư kê sếp vào hàng thần kê, thường đá rất hay và những đòn rất độc ở nước cuối.

    9. Song Phủ Đao

    Song Phủ Đao là hai vảy của hàng quách đóng sát nhau tại cựa, hai đầu nhọn đâm thẳng vào cựa. Gà nào có cựa này thì rất nhanh lẹ, xuất đòn nhanh, trả đòn lẹ, đúng là một con gà kỳ tài. Đây là gà chuyên dùng cựa đâm chém vào các chỗ nhược của gà địch, do vậy gà nào cáp độ với loại gà này thì không có thua chạy, mà chỉ có chết tại trường thôi.

    10. Trường Thành

    Trường Thành là khi vảy của hàng hàng ngoại (hàng thành) lấn nhiều sang phía hàng nội (hàng quách). Vảy này thuộc loại vảy hiếm, lâu lâu mới có một con, được các sư kê liệt vào hàng quý kê. Gà này tài ba xuất chúng, ra đòn rất mạnh, hiểm, có tài quăng giỏi, đã từng làm không ít hàng cao thủ võ kê hồn lìa khỏi xác!

    11. Lạc Ma Hàm Cốc

    Lạc Ma Hàm Cốc là vảy ở hàng quách, từ cựa đổ xuống, đầu hơi tròn. Gà nào có vảy này sở trường về đá mép, đá hầu, nhảy cao đá tạt ngang, càng đá càng trổ nhiều tài hay, đòn đẹp, đúng là một chiến kê. Gà này có một đặc điểm là khi cáp độ xong, vừa thả gà ra là bay thẳng vào đá luôn mấy đòn áp đảo gà địch, nhiều lúc gà địch không chống đỡ kịp, lãnh luôn mấy cựa vào chỗ hiểm như hang cua hay mắt, ngã lăn ra chết. Gà này còn có biệt tài là bay cao, đá ngay vào mắt, cựa đâm xuyên qua óc khiến gà địch thủ phải chết tươi. Gà này rất quý, giới chơi gà rất thích.

    12. Yểm Nguyệt

    Yểm Nguyệt là 1 vảy lớn nẳm ở hàng nội (hàng quách) từ cựa hướng lên gối. Vảy này có hình dạng đầu to, đuôi nhỏ, phần đầu hướng ra ngoài, còn phần đuôi thì hướng thẳng về phía cựa. Gà có vày này thường hay đá dĩa, hầu, cắn lông rồi đá.

    13. Tiểu Son

    Tiểu Son là giữa hàng thới và hàng nội có những vảy rất nhỏ. Nếu trong các vảy nhỏ có vảy màu đỏ như son thì gọi là tiểu son, hoặc nhỏ lấm tấm thì gọi là tấm son. Đây là loại gà ác tinh, đâm cựa, đá đòn đều ác liệt, khó có gà nào sánh bằng.

    14. Gạc Thập

    Gạc Thập là vảy được hợp thành từ 4 vảy tạo rãnh vuông thành dấu thập (+), được đóng ngang hành với cựa. Gà có vảy này đá chân cựa rất tốt, đá sỏ ngang giỏi, làm đối thủ không xoay xở kịp, chết không kịp ngáp.

    15. Nhật Thới

    Nhật Thới là 1 vảy to dính liền, giống hình chữ nhật, nằm ở hàng thới, cách 2 vảy từ móng. Gà này thuộc hàng quý hiếm, lâu lắm mới có 1 con. Gà này có lối đá nhanh lẹ, ra đòn liên hoàn, ăn độ chớp nhoáng, chuyên phá mắt địch thủ.

    16. Khai Hậu

    Khai Hậu là vảy hậu nứt ra, không dùng được, ngoại trừ mặt trước có vảy vấn cán thì dùng được, hoặc mặt trước nội có một vảy nứt ra thì cũng dùng được.

    17. Lộc Điền Nội

    Lộc Điền Nội được tạo thành bởi 4 vẩy (2 vảy nhỏ nằm ở hàng nội và 2 vảy lớn nằm ở hàng ngoại), có hình dạng nhìn giống cây cung có gài tên bắn dịch thủ, quay mũi vào phía trong. Gà có vảy này được liệt vào hàng tài kê.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chăm Sóc Lan Mokara Đạt Hiệu Quả Kinh Tế Cao
  • Kỹ Thuật Trồng Lan Mokara Trên Giá Thể Vỏ Đậu Phộng
  • Thơ Hay Về Kinh Nghiệm Và Cách Chọn Gà Chọi Hay
  • Hướng Dẫn Bí Quyết Và Cách Chọn Gà Tre Đá Cựa Sắt
  • Hướng Dẫn Bí Quyết Cách Chọn Giống Gà Đá Tốt
  • Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng Mời Bạn Đọc Xem Qua

    --- Bài mới hơn ---

  • Shop Hoa Lan Hồ Điệp Ở Tại Bà Rịa
  • 101 + Phi Điệp 5 Cánh Trắng Các Mặt Hoa Đột Biến Đẹp Nhất
  • Cách Nhận Biết Lan Phi Điệp Đột Biến 5 Cánh Trắng
  • Hoa Lan Phi Điệp 5 Cánh Trắng Phú Thọ
  • Hoa Lan Ho Diep Pha Le Cách Làm Đơn Giản Để Trang Trí Tết
  • Top 5 Cửa Hàng Hoa Lan Tại Đà Nẵng

    Có lẽ hoa lan đã quá nổi tiếng với tất cả mọi người, trong đó gồm có hoa phong lan và hoa lan hồ điệp là 2 loại được biết đến nhiều nhất. Điểm nổi bậc của hoa lan khiến mọi người yêu thích nhiều nhất đó có lẽ bởi màu sắc nhẹ nhàng, cánh hoa với đường cong sắc nét và tổng thể của một cây hoa với kích thước trung có thể trưng bày được ở bất kỳ không gian nào trong nhà cũng như môi trường làm việc.

    Hôm nay xin được chia sẻ đến bạn các cửa hàng bán hoa lan uy tín nhất trên địa bàn thành phốĐà Nẵng, đây là các cơ sở đã có nhiều năm phục vụ chính vì thế khâu thẩm mỹ cho đến quy trình làm việc đều đạt hiệu quả cao. Bạn có thể tham khảo thông tin từng cửa hàng phía dưới và đưa ra được sự lựa chọn tốt nhất dành cho mình trước khi có quyết định mua hoa.

    Các Cửa Hàng Hoa Lan Tại Đà Nẵng phục vụ và cam kết cắm hoa theo đúng yêu cầu của khách hàng, chỉ việc lên ý tưởng các chuyên gia cắm hoa của cửa hàng sẽ giúp bạn có được một chậu hoa đúng với mong muốn của mình.

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – Đẹp Không Tưởng

    Tự hào là đơn vị có mặt hơn 10 năm, sở hữu một vườn hoa với diện tích 2 heta trong đó hoa lan hồ điệp là chủ đạo. Mỗi ngày Vườn Hoa Lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng phục vụ cho nhu cầu mua hoa của hàng trăm khách không chỉ trên địa bàn thành phố mà còn giao đến các tỉnh thành lân cận.

    Thấu hiểu khách hàng và từ đó tạo nên những chậu hoa phù hợp nhất đảm bảo đáp ứng được các tiêu chí mà bạn đề ra. Đặt lợi ích cùng quyền lợi dành cho khách hàng lên hàng đầu, luôn nổ lực hết mình để hoàn thiện mình chính những điều đó luôn giúp cho Shop Lan Hồ Điệp Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng gặt hái được nhiều thành quả tuyệt vời nhất và để lại những ấn tượng tốt nhất trong mắt của mọi khách hàng.

    Cửa hàng Hoa Lan Hồ Điệp Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng còn nhận giao hoa tận nơi cho tất cả các quận như Ngũ Hành Sơn, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Cẩm Lệ, Hải Châu.. cùng các tỉnh thành lân cận. Cửa hàng sở hữu rất nhiều những mẫu hoa lan quý hiếm được nhập từ nhiều nơi khác nhau, với đa màu sắc sẽ giúp bạn có được một quyết định mua hoa đúng đắn nhất dành cho mình.

    Không ngừng nâng cấp chính mình, cải tiến từ mẫu mã cho đến quy trình phục vụ mang đến cho khách hàng những sự hài lòng tốt nhất khi đến Shop Hoa Lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng. Đặc biệt sở hữu một mức giá hết sức hợp lý cửa hàng sẽ đáp ứng được mọi mức ngân sách của các cá nhân cũng như các doanh nghiệm đang có nhu cầu mua hoa.

    Hệ thống shop hoa lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng hiện nay:

    • Shop hoa lan đường Ngô Quyền q.Sơn Trà
    • Shop hoa lan đường Điện Biên Phủ q. Thanh Khê
    • Shop hoa lan đường Lê Duẩn q.Hải Châu
    • Shop hoa lan đường Tôn Đức Thắng q.Liên Chiểu
    • Shop hoa lan đường Nguyễn Hữu Thọ q. Cẩm Lệ

    Thông tin về shop bán hoa lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng xin mời bạn tham khảo phía dưới.

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – Điện Hoa 24gio

    Với lối cắm tỉ mỉ và trao chuốt chính vì thế mỗi chậu hoa khi ra khỏi cửa hàng luôn nhận được những đánh giá tích cực từ khách hàng. Bên cạnh đó Cửa Hàng Hoa Lan Tại Đà Nẵng Điện Hoa 24gio còn nhận giao hoa tận nơi cho mọi tuyến đường không chỉ trên địa bàn thành phố mà còn các tỉnh thành lân cận.

    Mọi chi tiết về shop hoa lan Điện Hoa 24gio Đà Nẵng vui lòng xem bên dưới.

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – shophoatuoidep

    Có lẽ nhắt đến thương hiệu trên thì người dân Đà Nẵng nghĩ ngay đến một thương hiệu lâu năm, giá thành hợp lý và tay nghề cắm hoa hết sức nghệ thuật. Với cơ sở chính được đặt tại đường Đống Đa trung tâm thành phố, qua nhiều năm làm việc Shop Hoa Lan Ở Đà Nẵng shophoatuoidep rút ra được cho mình rất nhiều những kinh nghiệm quý giá cùng với một quy trình làm việc hết sức chuyên nghiệp.

    Luôn học hỏi và tiếp thu những kiến thức mới, vươn lên bắt kịp với xu hướng của mọi thời đại nhằm mang đến những sản phẩm hoa thật ý nghĩa đúng với tiêu chí khách hàng đặt ra. Sẵn sàng khắc phục nếu kết quả chưa đạt như mong muốn mà khách hàng đề ra, mang đến sự hài lòng tốt nhất dành cho tất cả mọi người.

    Để tìm hiểu về shop hoa lan Đà Nẵng shophoatuoidep mời bạn xem phía dưới.

    Địa chỉ: 302 Đống Đa – Hải Châu – Đà Nẵng

    Điện Thoại Đặt Hoa: 0902615078

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – nhật huy

    Tuy mới có mặt trong 5 năm qua nhưng Tiệm Hoa Lan Đà Nẵng nhật huy đã ghi dấu ấn đặc biệt cho nhiều người dân thành phố. Cửa hàng sở hữu rất nhiều loại lan với đa màu sắc như vàng, trắng, tím và hồng giúp bạn có được một lựa chọn thích hợp nhất dành cho mình.

    Ngoài ra Cửa Hàng Lan Hồ Điệp Đà Nẵng nhật huy còn có một mức giá hết sức hợp lý có thể dễ dàng đáp ứng được mọi mức ngân sách mà bạn đề ra cho mình. Không ngừng cải tiến, bổ xung thêm lợi ích cho chính mình để giúp khách hàng có được những món quà thật ý nghĩa nhằm gửi đến những mối quan hệ đặc biệt của mình.

    Mọi nhu cầu thông tin về shop hoa lan Đà Nẵng nhật huy xin vui lòng xem thông tin phía dưới.

    Địa chỉ: 883 Ngô Quyền – Sơn Trà – Đà Nẵng

    Điện Thoại Đặt Hoa: 0901958595

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – thủy vy

    Shop hoa Bảo Ngọc được đánh giá là cơ sở có lối cắm hoa vô cùng nghệ thuật, tính sáng tạo trong công việc luôn được đặt lên hàng đầu và các loại hoa được sắp xếp một cách khoa học và thẩm mỹ. Đến với shop hoa lan Bảo Ngọc quý khách sẽ nhận được sự tư vấn nhiệt tình đến từ đội ngũ nhân viên vô cùng trẻ trung và sinh đẹp giúp khách hàng có được những quyết định sáng xuất nhất.

    Ngoài ra Shop Lan Đà Nẵng thủy vy còn cam kết giao hoa tận nơi cho mọi tuyến đường trên nội thành của thành phố và chỉ thu phí ship với các tỉnh thành lân cận, hoa được giao bởi xe bán tải chính vì thế sẽ được an toàn khi đến tay bạn.

    Mọi chi tiết về shop hoa lan Đà Nẵng thủy vy vui lòng xem phía dưới

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    Top 8 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    điên hoa 24gio , hoa tươi đẹp không tưởng, hoa tươi

    shop hoa tươi

    Top 5 Cửa Hàng Hoa Lan Tại Đà Nẵng

    Có lẽ hoa lan đã quá nổi tiếng với tất cả mọi người, trong đó gồm có hoa phong lan và hoa lan hồ điệp là 2 loại được biết đến nhiều nhất. Điểm nổi bậc của hoa lan khiến mọi người yêu thích nhiều nhất đó có lẽ bởi màu sắc nhẹ nhàng, cánh hoa với đường cong sắc nét và tổng thể của một cây hoa với kích thước trung có thể trưng bày được ở bất kỳ không gian nào trong nhà cũng như môi trường làm việc.

    Hôm nay xin được chia sẻ đến bạn các cửa hàng bán hoa lan uy tín nhất trên địa bàn thành phốĐà Nẵng, đây là các cơ sở đã có nhiều năm phục vụ chính vì thế khâu thẩm mỹ cho đến quy trình làm việc đều đạt hiệu quả cao. Bạn có thể tham khảo thông tin từng cửa hàng phía dưới và đưa ra được sự lựa chọn tốt nhất dành cho mình trước khi có quyết định mua hoa.

    Các Cửa Hàng Hoa Lan Tại Đà Nẵng phục vụ và cam kết cắm hoa theo đúng yêu cầu của khách hàng, chỉ việc lên ý tưởng các chuyên gia cắm hoa của cửa hàng sẽ giúp bạn có được một chậu hoa đúng với mong muốn của mình.

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – Đẹp Không Tưởng

    Tự hào là đơn vị có mặt hơn 10 năm, sở hữu một vườn hoa với diện tích 2 heta trong đó hoa lan hồ điệp là chủ đạo. Mỗi ngày Vườn Hoa Lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng phục vụ cho nhu cầu mua hoa của hàng trăm khách không chỉ trên địa bàn thành phố mà còn giao đến các tỉnh thành lân cận.

    Thấu hiểu khách hàng và từ đó tạo nên những chậu hoa phù hợp nhất đảm bảo đáp ứng được các tiêu chí mà bạn đề ra. Đặt lợi ích cùng quyền lợi dành cho khách hàng lên hàng đầu, luôn nổ lực hết mình để hoàn thiện mình chính những điều đó luôn giúp cho Shop Lan Hồ Điệp Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng gặt hái được nhiều thành quả tuyệt vời nhất và để lại những ấn tượng tốt nhất trong mắt của mọi khách hàng.

    Cửa hàng Hoa Lan Hồ Điệp Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng còn nhận giao hoa tận nơi cho tất cả các quận như Ngũ Hành Sơn, Thanh Khê, Liên Chiểu, Sơn Trà, Cẩm Lệ, Hải Châu.. cùng các tỉnh thành lân cận. Cửa hàng sở hữu rất nhiều những mẫu hoa lan quý hiếm được nhập từ nhiều nơi khác nhau, với đa màu sắc sẽ giúp bạn có được một quyết định mua hoa đúng đắn nhất dành cho mình.

    Không ngừng nâng cấp chính mình, cải tiến từ mẫu mã cho đến quy trình phục vụ mang đến cho khách hàng những sự hài lòng tốt nhất khi đến Shop Hoa Lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng. Đặc biệt sở hữu một mức giá hết sức hợp lý cửa hàng sẽ đáp ứng được mọi mức ngân sách của các cá nhân cũng như các doanh nghiệm đang có nhu cầu mua hoa.

    Hệ thống shop hoa lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng hiện nay:

    • Shop hoa lan đường Ngô Quyền q.Sơn Trà
    • Shop hoa lan đường Điện Biên Phủ q. Thanh Khê
    • Shop hoa lan đường Lê Duẩn q.Hải Châu
    • Shop hoa lan đường Tôn Đức Thắng q.Liên Chiểu
    • Shop hoa lan đường Nguyễn Hữu Thọ q. Cẩm Lệ

    Thông tin về shop bán hoa lan Đà Nẵng Đẹp Không Tưởng xin mời bạn tham khảo phía dưới.

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – Điện Hoa 24gio

    Với lối cắm tỉ mỉ và trao chuốt chính vì thế mỗi chậu hoa khi ra khỏi cửa hàng luôn nhận được những đánh giá tích cực từ khách hàng. Bên cạnh đó Cửa Hàng Hoa Lan Tại Đà Nẵng Điện Hoa 24gio còn nhận giao hoa tận nơi cho mọi tuyến đường không chỉ trên địa bàn thành phố mà còn các tỉnh thành lân cận.

    Mọi chi tiết về shop hoa lan Điện Hoa 24gio Đà Nẵng vui lòng xem bên dưới.

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – shophoatuoidep

    Có lẽ nhắt đến thương hiệu trên thì người dân Đà Nẵng nghĩ ngay đến một thương hiệu lâu năm, giá thành hợp lý và tay nghề cắm hoa hết sức nghệ thuật. Với cơ sở chính được đặt tại đường Đống Đa trung tâm thành phố, qua nhiều năm làm việc Shop Hoa Lan Ở Đà Nẵng shophoatuoidep rút ra được cho mình rất nhiều những kinh nghiệm quý giá cùng với một quy trình làm việc hết sức chuyên nghiệp.

    Luôn học hỏi và tiếp thu những kiến thức mới, vươn lên bắt kịp với xu hướng của mọi thời đại nhằm mang đến những sản phẩm hoa thật ý nghĩa đúng với tiêu chí khách hàng đặt ra. Sẵn sàng khắc phục nếu kết quả chưa đạt như mong muốn mà khách hàng đề ra, mang đến sự hài lòng tốt nhất dành cho tất cả mọi người.

    Để tìm hiểu về shop hoa lan Đà Nẵng shophoatuoidep mời bạn xem phía dưới.

    Địa chỉ: 302 Đống Đa – Hải Châu – Đà Nẵng

    Điện Thoại Đặt Hoa: 0902615078

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – nhật huy

    Tuy mới có mặt trong 5 năm qua nhưng Tiệm Hoa Lan Đà Nẵng nhật huy đã ghi dấu ấn đặc biệt cho nhiều người dân thành phố. Cửa hàng sở hữu rất nhiều loại lan với đa màu sắc như vàng, trắng, tím và hồng giúp bạn có được một lựa chọn thích hợp nhất dành cho mình.

    Ngoài ra Cửa Hàng Lan Hồ Điệp Đà Nẵng nhật huy còn có một mức giá hết sức hợp lý có thể dễ dàng đáp ứng được mọi mức ngân sách mà bạn đề ra cho mình. Không ngừng cải tiến, bổ xung thêm lợi ích cho chính mình để giúp khách hàng có được những món quà thật ý nghĩa nhằm gửi đến những mối quan hệ đặc biệt của mình.

    Mọi nhu cầu thông tin về shop hoa lan Đà Nẵng nhật huy xin vui lòng xem thông tin phía dưới.

    Địa chỉ: 883 Ngô Quyền – Sơn Trà – Đà Nẵng

    Điện Thoại Đặt Hoa: 0901958595

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    🏆 Shop Hoa Lan Đà Nẵng – thủy vy

    Shop hoa Bảo Ngọc được đánh giá là cơ sở có lối cắm hoa vô cùng nghệ thuật, tính sáng tạo trong công việc luôn được đặt lên hàng đầu và các loại hoa được sắp xếp một cách khoa học và thẩm mỹ. Đến với shop hoa lan Bảo Ngọc quý khách sẽ nhận được sự tư vấn nhiệt tình đến từ đội ngũ nhân viên vô cùng trẻ trung và sinh đẹp giúp khách hàng có được những quyết định sáng xuất nhất.

    Ngoài ra Shop Lan Đà Nẵng thủy vy còn cam kết giao hoa tận nơi cho mọi tuyến đường trên nội thành của thành phố và chỉ thu phí ship với các tỉnh thành lân cận, hoa được giao bởi xe bán tải chính vì thế sẽ được an toàn khi đến tay bạn.

    Mọi chi tiết về shop hoa lan Đà Nẵng thủy vy vui lòng xem phía dưới

    Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Shop Hoa Lan Hồ Điệp Củ Chi
  • Shop Bán Chậu Lan Hồ Điệp Ở Hà Nội
  • Lanhodiepdalat.vn Cung Cấp Hoa Lan Hồ Điệp Đà Lạt Giá Sỉ & Lẻ Tại Vườn
  • “soái Ca” Hoa Lan Ở Đà Lạt
  • Lan Ngọc Điểm Thái Cấy Mô
  • Nấm – Vi Khuẩn – Vi Rút Hại Lan – Nguyễn Ngọc Hà – Dân Chơi Lan

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Bệnh Của Lan Phi Điệp Cách Trị Bệnh Thán Thư Trên Lan
  • Các Loại Thuốc Phòng Bệnh Và Chữa Bệnh Cho Phong Lan
  • Để Lan Hạc Đỉnh Ra Hoa Đúng Tết
  • Hé Lộ Ý Nghĩa Của Loài Hoa Lạ
  • Tại Sao Hoa Lan Được Gọi Là Nữ Hoàng Của Các Loại Hoa?
  • THUỐC PHÒNG VÀ TRỊ CỤ THỂ TỪNG BỆNH

    CÁCH XỬ LÝ CỤ THỂ KHI LAN BỊ BỆNH

    Bài viết này sẽ giúp bạn tiết kiệm vô số tiền học phí, giúp ngành lan Việt Nam tiết kiệm mỗi năm nhiều tỷ đồng, giúp nhiều giống lan được bảo tồn và nuôi dưỡng niềm đam mê dài lâu cho các bạn.

    Đây là sự tổng kết kinh nghiệm và nền tảng kiến thức của cá nhân tôi, cộng với các nghiên cứu khoa học của các giáo sư tiến sĩ, các nhà sinh vật học, các viện nghiên cứu trên thế giới.

    Còn nhiều web của Việt Nam chúng ta thực sự không đáng tin cậy chút nào. Nội dung 1 đằng, hình 1 nẻo chẳng ăn nhập thì tôi không nói làm gì. Đằng này lan bị khuẩn mà khuyên dùng thuốc CHỈ DIỆT ĐƯỢC NẤM thì tôi chẳng hiểu nổi. Vì vậy đọc bài này, xin đừng so sánh vì CHÚNG TA KHÔNG THUỘC VỀ NHAU…

    PHẦN I: BỆNH DO NẤM

    1. THỐI ĐEN – Black Rot – (Nấm Pythium và Phytophthora). Hay còn gọi là bệnh CHẾT NHANH.

    Bệnh xảy ra trên tất cả các giống lan, nhưng thường gặp hơn cả là trên các giống lan ĐA THÂN có giả hành như Dendrobium, Vũ Nữ, Cattleya, Địa Lan…

    Nấm Phytophthora và Pythium là nấm thủy sinh, nên khi độ ẩm không khí cao, độ ẩm giá thể cao vào mùa mưa hoặc tưới đọng nước qua đêm, nấm sẽ sinh sôi nảy nở và xâm nhập hại cây lan nhà bạn.

    Chúng xâm nhập qua vết xước, vết côn trùng chích hút, cọ sát hoặc lay gâp dập các mô biểu bì….

    Thường thì do độ ẩm giá thể quá cao như mưa dầm hoặc giá thể bị mục, giò lan hơn 3 năm không thay giá thể, rễ sống trùm lên rễ chết… nấm sinh sôi dưới gốc, chúng xâm nhập vào cây lan từ rễ, cổ rễ, gốc gây ra thối dưới gốc, sau đó từ từ lan lên trên gay tóp giả hành. Giả hành từ từ chuyển qua màu vàng như bị luộc chín sau đó màu như rơm ngâm nước, rồi từ từ khô tóp lại, gục ngọn và chuyển sang màu đen. Chính vì thế mới gọi là thối đen.

    Hoặc có 1 số giống lan gần như khi bị thối đã màu đen và vết đen lan ra xung quanh dần dần.

    Sau một vài ngày khi bạn phát hiện gốc bị thối ủng và lan dần lên trên thì lúc này đã muộn, không còn cách nào cứu được nữa. Bạn chỉ có thể vớt vát một chút ít phần giả hành phía ngọn nếu chỗ đó chưa bị thối ủng để giành ươm kei.

    Những giống lan thường bị tình trạng này là Giả Hạc (Phi Điệp), Kiều (Thủy Tiên), Dendro, Cattleya, Đùi Gà, Kèn, các giống lan có lông đen, Kim Điệp, Ngọc Thạch, Trúc Quan Âm….

    Khi giò lan nhà bạn bị tình trạng này thì bạn nên nhổ lên trồng lại nếu thấy bệnh tình tiến triển cùng 1 lúc trên nhiều giả hành hoặc giò lan đã hơn 2 năm chưa thay giá thể. Nếu bị ít thì bạn nên tách triệt để phần giả hành bị bệnh đi và mang ra khỏi vườn ngay lập tức.

    Nấm đã tấn công và bạn nhìn thấy bằng mắt thường thì phải làm vậy thôi, muốn cứu giả hành bệnh gần như không tưởng. Nếu bạn cứ cố nuôi hy vọng và chỉ phun thuốc chữa bệnh thì có khi lây lan chết cả giò.

    Nguyên tắc chung đó là tách sát gốc giữa giả hành bệnh và giả hành không bệnh (dùng kéo mỏng sắc và mũi thật nhọn hoặc dao dọc giấy để tách), sau đó phun thật đẫm, thậm chí là ngâm cả giò lan vào dung dịch thuốc diệt nấm. Sai lầm cơ bản của các bạn đó là lan bị bệnh từ gốc mà chỉ tập trung phun thuốc vào giả hành hoặc lá. Nguyên nhân nằm ở giá thể (chậu lan, khúc gỗ, miếng dớn…) và nằm ở bộ rễ, vì thế bạn phải xử lý triệt để nguyên nhân.

    Sai lầm thứ 2 là khi bạn thấy cây lan lá nhăn nheo, giả hành tóp lại mà không chịu quan sát gốc và rễ xem nó có thối không, cứ nghĩ là lan thiếu độ ẩm rồi cố gắng tưới cho thật nhiệt tình. Đến khi từ giả hành non lây sang tới giả hành mẹ, rồi từ từ lây qua giả hành bà. Cho tới khi cả giò lan gục hoàn toàn, chỉ có thể vứt bỏ toàn bộ.

    Sai lầm thứ 3 là tưới nước với vòi phun áp suất cao, vừa làm xước lan, mở cửa cho nấm và vi khuẩn xâm nhập, vừa tạo điều kiện cho nấm theo hạt nước bắn sang giò khác làm lây cả giàn lan.

    Nếu nấm xâm nhập vào chỗ nào đó giữa giả hành lan, thì lan nhà bạn bị gục ở giữa giả hành, gốc không bị gì cả, ngọn không bị gì cả. Lúc này bạn đi hỏi các thầy, thầy thì phán nó bị ăn nắng chiều rồi gục, thầy nói nó nóng quá gục, thầy kia nói nó bị vi khuẩn thối nhũn, thầy nọ nói nó bị gió quật gục…. Bao nhiêu thầy sẽ có bấy nhiêu ma. Nếu bị nóng tự gục thì màu sắc chỗ gục sẽ nhạt và trong hơn so với bị nấm.

    Nếu nấm xâm nhập vào ngọn thì sẽ sinh ra thối ngọn, thối lá non. Vết thối màu vàng nâu, vàng ủng như bị luộc, viền giữa vùng bệnh và không bệnh không xác định rõ ràng. Bạn có thể rút ngọn hoặc vặt lá dễ dàng khi nấm lan tới giả hành. Sau 1 thời gian, chỗ bị bệnh sẽ chuyển sang màu đen.

    Đặc điểm nhận dạng để không bị nhầm lẫn giữa thối đen và thối nhũn là:

    VIỆC ĐẦU TIÊN CẦN LÀM LÀ CÁCH LY VÀ NGỪNG TƯỚI, DỪNG BÓN PHÂN CÓ NHIỀU ĐẠM.

    Nếu chỉ bị trên thân hoặc trên ngọn hoặc lá thì cách xử lý rất dễ, bạn chỉ cần lấy dao thật mỏng, sắc (dao dọc giấy, dao bổ cau, dao lam, dao mổ…) cắt 1 viết XÉO (đừng cắt vuông góc dễ đọng nước) CÁCH CHỖ BỆNH 3cm (3 xen ti mét), sau đó bôi thuốc diệt nấm sền sệt hoặc vôi sệt vào.

    Trong quá trình điều trị bệnh bạn nên bỏ hết phân tan chậm ra hoặc là tuyệt đối không phun phân có đạm (Vì đạm làm màng tế bào và tế bào biểu bì rất mỏng, dễ bị tổn thương theo kiểu nhà giàu đi chân đất giẵm phải gai mùng tơi cũng thấy đau ^-^). Bên cạnh đó nên ngừng tưới hoặc che mưa vài ba ngày.

    Thuốc gì để điều trị bệnh thối đen?

    Tôi pha 50 gam cho 1 bình 16 lít phun tấn công khi thấy dấu hiệu bệnh trong vườn. Và 33 gam cho 1 bình 16 lít khi phun phòng bệnh.

    – THỨ HAI là Antracol 70WP. Hoạt chất Propineb (là một dithiocarbamate kẽm chứa polyme).

    – THỨ 3 là Ridomilgold 68WG (Metalaxyl M 40g/L + Mancozeb 640g/L)

    Để tiêu diệt 2 loại nấm này thì có Metalaxyl đặc trị. Có nhiều bạn dùng Ridomilgold và nói rằng thuốc này yếu!

    Hoạt chất Metalaxyl M thì không nói yếu hay mạnh, chỉ nói là ĐẶC TRỊ. Tuy nhiên với 40g/L tương đương 4% thì đúng là GÃI NGỨA. Có CHẤT mà không đủ LƯỢNG thì ăn nhằm gì! Vì vậy, bạn nên mua thuốc có hoạt chất Metalaxyl M với trên 95% như MATAXYL thì hiệu quả sẽ trên cả tuyệt vời.

    Lưu ý nhỏ đó là hoạt chất này dùng liên tục sẽ bị LỜN (KHÁNG THUỐC) với dịch bệnh. Vì vậy nên đổi thuốc sau 2-3 lần dùng.

    * Ba loại thuốc trên bạn hoàn toàn có thể pha ra chậu sau đó ngâm cả giò lan vào chậu 5- 15 phút mà không sợ lan chết. Như thế mới chắc chắn là Nấm sẽ chết triệt để.

    Nếu có phun phòng và chữa thì nên phun khắp giàn, cả nền đất và thậm chí cả trên cây cảnh, cây ăn trái và vườn nhà hàng xóm để tránh bớt mầm bệnh lây lan.

    + Ngoài ra, bài này tôi giới thiệu thêm với các bạn có con nhỏ, vợ bầu hoặc mẹ già, dùng 1 loại thuốc (gọi là phân thì chuẩn hơn) chuyên PHÒNG VÀ TRỊ 2 loại nấm trên, đó là AGRIFOS 400.

    – Agri-Fos 400 diệt bệnh bằng cơ chế kích kháng chủ động (không diệt trực tiếp bằng chất độc, mà kích kháng cây tiết ra chất đề kháng đặc biệt như Phytoalexin, PR-proteins… tấn công tiêu diệt mầm bệnh, tạo tín hiệu báo động cho các tế bào còn lại hình thành hệ thống đề kháng chủ động cho cây). Thuốc giúp sản xuất các chất Polysacharides làm dày vách tế bào, phá vỡ lớp ngụy trang của nấm bệnh giúp hệ thống đề kháng phát hiện và tiêu diệt. Hệ thống này còn có hiệu lực phòng bệnh kéo dài đến 60 ngày và giúp cây chống lại một số tác nhân gậy hại khác.

    – Agri-Fos 400 trực tiếp ngăn chặn sự hình thành bào tử của nấm Phytophthora, Pythium, vi khuẩn Erwinia, Veturia… khoanh vùng nhiễm bệnh không cho vết loét lây lan, làm lành vết bệnh do tạo ra Ethylen và enzym lytase phân hủy tế bào chết.

    – Agri-Fos 400 gồm 400 g/l momo-potassium phosphonate và di-potassium phosphonate được tổng hợp từ acid phosphorous và phụ gia tạo thành dạng Phosphite PO3 có tác dụng trị bệnh, rất linh động nên dể dàng được hấp thu khi phun qua lá, rễ, tiêm thân, ngâm hom, nhúng cây con, quét vào vết thương…, lưu dẫn mạnh hai chiều trong xylem và phloem đến các bộ phân trong cây, hoàn toàn không độc hại, an toàn cho người, không gây hại vi sinh vật có lợi, không có thời gian cách ly sau thu hoạch.

    – Agri-Fos 400 không bị kháng thuốc, giúp cây mạnh khỏe, phục hồi bền vững, tăng năng suất, chất lượng mẫu mã…

    – Phosphite trong Agri-Fos 400 khác biệt hoàn toàn với phân bón phosphat vì Phosphite có công thức phân tử là PO3 còn phân bón phosphat có công thức phân tử là PO4. Phân phosphate PO4 không linh động và không có tác dụng trị bệnh.

    Tóm lại là thuốc này an toàn, hôm trước phun, hôm sau hái rau ăn vô tư.

    Do là không trực tiếp, NÊN DÙNG AGRIFOS PHUN ĐỊNH KỲ PHÒNG BỆNH. Khi bị bệnh thì nên dùng 1 trong 3 loại trên.

    2. THÁN THƯ – Anthracnose

    Nguyên nhân gây bệnh thán thư do nhiều loài nấm thuộc loại Colletotrichum gây ra, trong đó hại phổ biến là 2 loài Colletotrichum nigrum Ell et Hals và Colletotrichum capsici (Syd) Butler and Bisby.

    Nấm thường xâm nhập vào phần trên của cây lan, đặc biệt là lá. Đầu đỉnh lá hoặc mép lá sẽ có màu nâu và từ từ lan vào cuống lá. Có thể có sự phân cách rõ ràng giữa vùng bệnh và không bệnh đối với các giống lan lá mỏng, tuy nhiên đa số các giống lan lá dày thì đường phân cách rất mờ ảo không rõ ràng.

    Lúc đầu dịch từ tiếng Anh qua, họ ghi rằng bắt đầu từ chóp lá ăn lan vào cuống lá thành những vành đai, đôi khi như những vòng tròn đồng tâm. Tưởng tượng về vòng tròn đồng tâm là lấy compa cắm vào giữa lá, quay 1 vòng nhỏ, sau đó lại quay 1 vòng rộng hơn, rồi lại 1 vòng nữa rộng hơn.

    Bệnh này làm lá khô từ từ, khô từ chóp lá vào tới cuống và rụng đi. Bệnh càng phát mạnh khi ánh sáng thấp, độ ẩm cao và cây lan thiếu chất, đặc biệt là Lân.

    Phần bị bệnh thường là màu nâu hoặc đen và hơi lõm xuống so với chỗ không bị bệnh.

    Nếu bệnh phát triển trên hoa, thì sẽ có những mụn nước chảy ra nước đen hoặc nâu dưới các cánh hoa, đặc biệt là cánh đài.

    Phòng bệnh như nào thì bạn nên đọc lại bài 27 PHÒNG BỆNH CHO LAN.

    Thuốc đặc trị bệnh THÁN THƯ thì nhiều, nhưng dễ mua nhất và an toàn nhất là hoạt chất Carbendazim có trong thuốc Carbenzim hoặc Vicarben.

    Ngoài ra còn có các thuốc gốc ĐỒNG Cu (tuy nhiên bạn hạn chế dùng thì ổn hơn, vì tôi đã thử nghiệm thấy rằng phun Carbendazim lên hoa, hoa không sao và nụ vẫn tốt, nhưng phun Đồng Coc 85WP lên hoa và nụ thì hoa tàn nụ thối. Bộ rễ hơi rụt lại 1 chút xíu. Đó là tôi thử nghiệm trên Long Tu, Hải Yến, Hoàng Thảo Xoắn, Trúc Quan Âm, Sóc Lào.).

    Thuốc Ridomilgold 68WG với hoạt chất Mancozeb cũng trừ được bệnh này. Hoặc thuốc Score 250EC, Folpan 50SC, Topsin M cũng có tác dụng trị nấm gây bệnh thán thư.

    3. ĐỐM LÁ

    – Nấm Cercospora triệu chứng : Nhiễm lúc ban đầu như là một điểm màu vàng trên mặt dưới của lá. Ngay sau khi xảy ra bội nhiễm, các khu vực màu vàng-xanh có thể được ghi nhận trên bề mặt trên của lá. Các điểm này sẽ lan rộng ra xung quanh không có hình thù cố định, nó sẽ hơi chìm và hoại tử rồi chuyển sang màu nâu tím đến tím đen. Các điểm tiếp tục mở rộng tỏa ra xung quanh theo hình tròn hoặc một hướng nào đó và cuối cùng có thể bao phủ toàn bộ lá. Biên độ tiến vẫn còn màu vàng. Nhiều lá bị nhiễm bệnh thường rụng sớm, đặc biệt là nếu nhiễm nấm bắt đầu gần gốc của lá.

    – Nấm Phyllosticta Triệu chứng: Đốm bệnh do nấm Phyllosticta có thể bắt đầu bất cứ nơi nào trên lá hoặc giả hành. Các tổn thương là rất nhỏ, màu vàng và hơi lõm. Khi nó phóng to, nó trở nên tròn hình bầu dục và bị lõm hơn, đặc biệt là nếu nhiễm trùng là trên lá. Sau thời gian, vết bệnh sẽ chuyển dần thành màu nâu sẫm hoặc đỏ đến lề tím đen. Cuối cùng, thành màu đen. Bệnh nặng lá bị nhiễm bệnh có thể rụng sớm. Sự hiện diện của bệnh có thể chỉ ra lan nhà bạn không đủ ánh sáng.

    – Nấm Septoria Triệu chứng: Các đốm nhỏ có thể bắt đầu ở hai mặt lá như bị chìm, tổn thương màu vàng. Nó tiếp tục mở rộng, trở thành màu nâu sẫm đến tổn thương màu đen, hình tròn hoặc không đều. Đốm có thể sáp nhập để tạo thành lớn, các mảng vá bất thường trên lá. Nhiều lá bị nhiễm sẽ rụng sớm.

    Phòng ngừa: Làm thông thoáng giàn để không khí chuyển động. Hạn chế nước đọng trên lá. Phun thuốc phòng bệnh hàng tháng. Treo căn hướng Đông Tây giúp lan nhận đủ ánh sáng và ánh nắng.

    Thuốc đặc trị:

    Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl)

    Hoặc thuốc Daconil 75WP hoặc Daconil 500SC (Hoạt chất Chlorothalonil).

    Nên pha chung với thuốc có hoạt chất Carbendazim để trị bệnh triệt để hơn và làm phổ phòng diệt bệnh rộng hơn.

    4. BỆNH HÉO ÚA – HAY CÒN GỌI LÀ BỆNH CHẾT CHẬM

    Nguyên nhân do nấm Fusarium oxysporum schlecht

    Nấm nằm trong các MẠCH GỖ (Xylem vận chuyển nước và các chất vô cơ hòa tan trong đó từ rễ đi lên các lá) và MẠCH RÂY (Libe (phloem) vận chuyển các chất hữu cơ hòa tan đi khắp thân cây)) của cây lan. Chúng đi theo các dòng chảy dinh dưỡng và nước trong rễ, thân và lá cây lan.

    Nấm này có thể lây vào một cây lan khác qua đường rễ, qua dụng cụ cắt tỉa rễ không vệ sinh vô trùng. Cây lan sẽ từ từ héo rũ, tàn úa, lá nhăn nheo teo tóp như bị thiếu nước.

    Khi bạn xẻ dọc cây lan hoặc giả hành ra, sẽ thấy những đường như sợi chỉ hoặc các vệt MÀU TÍM hoặc HỒNG (giống như khi bạn ăn trúng cây mía có những vệt màu tím hồng khi bạn dóc vỏ ra).

    Nếu bệnh nặng thì từ từ rễ lan cũng thành màu tím. Phần bên ngoài của than và giả hành khi được cắt ngang cũng sẽ thấy một vòng xuyến màu tím xung quanh lõi.

    Lá sẽ có những vệt, những điểm lõm trũng xuống, dần dần sẽ tạo thành các vệt lõm trũng màu vàng. Lá già trở lên sần sùi như da người già và lá non thì chuyển dần sang màu đỏ (hoặc đỏ cam, đỏ hơi tía).

    Cây lan sẽ chết rất từ từ, sau khoảng 3-9 tuần thậm chí cả năm. Một cái chết RẤT CHẬM.

    Những cây bị hư hết bộ mạch dẫn và bộ rễ thì chỉ còn cách vứt bỏ. Nấm này phát triển mạnh khi giá thể bị mục, quá ướt không có sự thoát nước hoặc nhiệt độ môi trường quá lạnh. Bên cạnh đó lý do quan trọng hay mắc phải đó là trồng trong chậu đất nung 3-5 năm không thay giá thể, không rửa muối đọng trong chậu. Bản thân cái chậu đã giữ một lượng muối làm hại bộ rễ, vì thế vài tháng bạn phải tưới rửa giá thể với thật nhiều nước hoặc ngâm cả chậu lan trong thùng nước thật lớn để làm tan bớt muối.

    Thuốc đặc trị bệnh này thì giống y như bệnh ĐỐM LÁ.

    Đó chính là Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl)

    Hoặc thuốc Daconil 75WP hoặc Daconil 500SC (Hoạt chất Chlorothalonil).

    Nên pha chung với thuốc có hoạt chất Carbendazim để trị bệnh triệt để hơn và làm phổ phòng diệt bệnh rộng hơn.

    Nếu bạn chắc chắn lan bị bệnh thì phun không ăn thua gì đâu. Bạn phải hòa một chậu thuốc sau đó ngâm cả giò lan của bạn vào 5 – 10 phút mới được. Bạn nên nhớ nguyên tắc là bệnh bắt đầu từ đâu thì phải giải quyết từ chỗ đó.

    Khi trồng lan, bạn nên ngâm toàn bộ giá thể vào dung dịch Physan 20 30 phút trở lên để diệt sên, kiến, gián, nấm hồng, nấm trắng, nấm xanh, nấm mốc vàng, vi khuẩn và vi rút. Mỗi lần cắt rễ lan nên pha 1 ly Physan 20 và nhúng kéo, dao vào để sát trùng rồi mới chuyển sang cắt cây khác.

    5. NẤM THỐI RỄ

    Tác nhân do nấm Rhizoctonia.

    Nguyên nhân do môi trường của bộ rễ mất cân đối giữa độ ẩm, nhiệt độ, độ thông thoáng. Hệ thống thoát nước kém và các cây lan bị thừa nước. Nấm xâm nhập khi bộ rễ bị tổn thương cơ học hoặc do chậu tích muối khi mà lâu năm không thay giá thể.

    Nấm Rhizoctonia gây bệnh dưới gốc và bộ rễ, nhưng bằng mắt thường bạn cũng có thể thấy những biểu hiện trên thân, lá, giả hành. Dó là sự héo đi của lá, teo tóp nhăn nheo của giả hành. Nếu chỉ là hư rễ mà chưa hư tới giả hành hoặc thân thì lá sẽ nhăn nheo héo rũ xuống, cây đứng ngọn lại không dài ra nữa…. Rồi từ từ cây cũng chết đi.

    Phòng bệnh bằng cách thay giá thể khi thấy giá thể mục, đọng nước hoặc có 1 lớp rễ ngừng hoạt động. Tưới rửa muối trong chậu sau mỗi 2 tháng.

    – Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl)

    – Anvil 5SC (Hoạt chất Hexaconazole 50g/L)

    – Rovral 50 WP, 500WG, 750WG (Hoạt chất Iprodione (min 96 %))

    6. NẤM HẠT CẢI (HAY CÒN GỌI LÀ NẤM TRỨNG CÁ, NẤM MÙ TẠT)

    Tác nhân do nấm Slerotium rolfsii

    Nấm xâm nhiễm vào phần thân cây sát mặt giá thể hoặc phần gốc sát cổ rễ, vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu tươi hơi lõm, về sau vết bệnh lan rộng có thể dài tới vài centimet bao quanh thân, gốc, lan rộng xuống tận cổ rễ dưới mặt chất trồng.

    Mô vết bệnh dần dần bị phân hủy, các lá dưới gốc héo vàng và rụng trước, sau đó lan lên các lá phía trên, cuối cùng dẫn tới các lá héo rũ, cây khô toàn thân. Khi cây mới nhiễm bệnh thì rễ cây vẫn bình thường, sau đó rễ dần dần hóa nâu rồi đen, thâm nâu và thối mục.

    Trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, ẩm độ cao thì trên bề mặt vết bệnh sát mặt chất trồng sẽ xuất hiện lớp nấm màu trắng phát triển mạnh, sợi nấm mọc đâm tia lan dần ra mặt giá thể chung quanh gốc cây, tạo thành một đốm tản nấm màu trắng xốp, một vài ngày sau trên tản nấm đó sẽ hình thành nhiều hạch nấm. Khi còn non hạch có màu trắng sau chuyển dần sang màu nâu giống HẠT CẢI (có nơi gọi là NẤM TRỨNG CÁ hoặc ở nước ngoài người ta gọi là NẤM MÙ TẠT do có hình dạng giống như hạt mù tạt).

    Bệnh xuất hiện có thể rải rác hoặc từng vạt trong giàn lan tùy theo điều kiện ngoại cảnh vườn lan và quá trình chăm sóc.

    Cách phòng trừ và xử lý:

    -Tránh để cây bị mưa trực tiếp, nhất là cây con. Bệnh nấm trứng cá phát triển mạnh trong mùa mưa nên chú ý quan sát kỹ vườn lan nếu phát hiện có bệnh trong vườn cần phải tiêu hủy triệt để cây bị bệnh và chất trồng, tốt nhất là đốt bỏ để tiêu hủy mầm bệnh vì các hạch nấm tồn tại rất lâu.

    Nếu trồng trong chậu phải bỏ cả chất trồng và rửa sạch chậu, khử trùng kỹ trước khi sử dụng lại.

    Nếu trồng trong luống phải dọn sạch chỗ chất trồng xử lý bằng thuốc khử trùng. Các giống lan Vanda, Ascocenda và các cây lai của nó rất nhạy cảm với bệnh này. Hôm trước tôi còn thấy có bác đăng lên HỘI HOA LAN VIỆT NAM cây NGỌC ĐIỂM nhà bác ấy cũng bị bệnh này.

    – Lưu ý thêm nấm trứng cá hay mọc trên các cây tre hay tầm vông thường dùng để làm giàn hay treo chậu lan. Đây là nguồn lây lan bệnh cho vườn lan nhưng thường không được chú ý tới, tránh dùng cây tầm vông làm giàn che hoặc treo vì khi bị ướt nấm rất dễ phát triển.

    – Hạn chế tưới nước để bệnh không phát triển mạnh.

    – Hạn chế dùng phân bón có nhiều đạm, nên sử dụng phân bón Multi-K (Siêu Kali) , MKP (0-52-34) bón cho cây.

    – Sử dụng phối hợp 2 loại thuốc mới có tác dụng hạn chế bệnh. Có thể dùng:

    Một số loại nấm đối kháng như : Trichoderm, Gliocladium…

    Topsin (Hoạt chất Thiophanate-Methyl) + Bendazol,

    Topsin (Hoạt chất Thiophanate-Methyl) + Zineb,

    Carbenzim + Cadillac (Chính là Mancozed),

    Hoạt chất Carbendazim + Hoạt chất Iprodione

    7. ĐỐM BÔNG HOA

    Tác nhân: Nấm Botrytis Cinerea

    Triệu chứng là những đốm nhỏ riêng rẽ trên bông hoa, có màu nâu hoặc màu đen. Từ từ các đốm này sẽ mở rộng ra và có thể bao phủ toàn bộ bông hoa. Sau đó có thể xuất hiện những cả những nấm màu xám trên hoa khi điều kiện môi trường quá ẩm ướt.

    Bệnh bùng phát mạnh mẽ khi nhiệt độ môi trường từ 18-23 độ C, nghĩa là vào mùa thu, đông và đầu xuân.

    Cây bị nhiễm thường là do nguồn nước tưới bị nhiễm nấm. Nấm này hủy hoại nhiều loại cây trồng chứ không riêng gì Lan.

    Bạn chỉ cần làm giàn thông thoáng và giảm độ ẩm xuống bệnh sẽ giảm, cách ly cây lan bệnh và cắt bỏ vòi hoa bị bệnh đi. Khi nhiệt độ ấm lên, bệnh sẽ thuyên giảm nhanh chóng.

    Các loại thuốc để trị nấm Botrytis Cinerea gồm:

    Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl)

    Hoặc thuốc Daconil 75WP hoặc Daconil 500SC (Hoạt chất Chlorothalonil).

    Hoạt chất Iprodion có trong các thuốc như: Andoral / Tilral super 500WP / Gold cat 505SC / Hạt vàng 50 WP, 250SC…

    1. THỐI MỀM (THỐI NHŨN)

    Tác nhân: Vi khuẩn Erwinia

    Triệu chứng: Các bọng nước, dịch khuẩn trên lá và có các quầng loang vàng xung quanh (QUẦNG LOANG VÀNG NHƯ KIỂU NHỎ 1 GỌT NƯỚC LÊN GIẤY VÀ NÓ NGẤM VÀO TỜ GIẤY RỒI LOANG RA XUNG QUANH. ĐÂY CHÍNH LÀ ĐIỂM ĐẶC BIỆT ĐỂ TA PHÂN BIỆT VỚI THỐI DO NẤM PHYTOPHTHORA VÀ PYTHIUM. Vết loang do nấm nhìn có vẻ rất KHÔ RÁO chứ không ướt như do vi khuẩn). Vết bệnh sẽ từ từ lan tới thân, rễ, giả hành.

    Thật là khó khăn để dùng từ ngữ giúp các bạn hiểu ý tôi muốn truyền đạt là cái gì. Thôi thì các bạn chịu khó bị bệnh vài chục giò lan và cay đắng soi xét để tự rút ra vậy!

    Tóm lại là bị vi khuẩn thì quầng nhìn rất ướt át, còn nấm thì quầng có vẻ khô ráo.

    Đặc điểm nhận dạng đặc trưng là có mùi THỐI, MÙI THỐI RẤT KHÍ CHỊU, NỒNG NẶC (chứ không như thối do nấm Phytophthora và Pythium).

    Trên các chi lan khác nhau, bệnh sẽ có biểu hiện khác nhau 1 chút. Vì KHÔNG PHẢI trên giống lan nào Vi khuẩn Erwinia tấn công cũng sinh ra NHŨN – MỀM NHŨNG NHƯ BÁNH ĐA NGÂM NGƯỚC. Đa số các trang mạng của Việt Nam chỉ chú trọng vào chi Ngọc Điểm và chi Hồ Điệp khi bị vi khuẩn này tấn công sinh NHŨN nên mọi người gọi nó là THỐI NHŨN.

    – Trên lan thuộc chi HỒ ĐIỆP bệnh phát triển rất nhanh chóng và lá có thể NÁT NHŨNG HOÀN TOÀN sau 2-3 ngày. Vi khuẩn xâm nhập qua các vết xước, vết rách, vết côn trùng cắn và chích hút, hoặc các KHÍ KHỔNG của lá.

    – Trên chi lan Dendrobium xuất hiện các vết bọng nước vàng sau đó thành màu đen trũng xuống.

    – Trên Vanda xuất hiện các mảng bệnh vàng nâu hơi mờ và từ từ đậm dần rồi chuyển sang màu đen. Khi bạn bóp lá ra, day day cho nát rồi ngửi sát mũi sẽ thấy mùi thối rất nồng đậm (tôi ăn quả đắng này nhiều rồi nên tôi rất chú trọng việc nhận biết bệnh này, kinh nghiệm thực tế chứng minh rằng đôi lúc đôi mắt không hiệu quả bằng 2 lỗ mũi).

    – Trên chi lan Hoàng Hậu (Hoàng Hậu, Hoàng Xà – Thịnh Vượng) thì lá có điểm ngậm nước màu nâu, sau đó sẽ khô đi và chuyển sang màu đen lõm.

    CHỮA BỆNH:

    – Cách ly ngay cây bị bệnh ra khỏi giàn.

    – Cắt bỏ đoạn lá bệnh, cắt xa 2-3cm vết bệnh với dụng cụ vô trùng bằng Physan 20. Thật ra là không cần cắt cũng vẫn có thể chữa cho chỗ bệnh khô lại, tuy nhiên sẽ có 1 hoặc vài cái lỗ, vài cái sẹo nhìn cũng không ra gì. Bạn nào có đủ khả năng vá lại được chiếc lá bị thủng, lành lặn gần như ban đầu thì sẽ có khả năng làm rạng danh tổ quốc!

    – Giảm độ ẩm trong vườn, không tưới với vòi phun áp suất cao và không bón phân nhiều đạm.

    – Bôi vôi hoặc bôi thuốc diệt nấm như Ridomilgold pha sền sệt sau đó phun thuốc diệt khuẩn khắp vườn và ướt đều mặt lá, giá thể.

    Các bạn nên lưu ý rằng tài liệu của nước ngoài họ rất đề cao Physan 20, tất cả các bệnh khuẩn họ đều khuyên dùng Physan 20. Tuy nhiên Physan bán tại Việt Nam thì chất lượng không thể mang để so sánh với Physan 20 của Mỹ được. 01 chai Physan 20 nửa lít của Mỹ là 352 ngàn còn hàng Việt Nam, trên bao bì cũng ghi là U Ét A (USA) mà có giá 146 ngàn nửa lít. Trong chai Physan 20 của Mỹ có khoảng 10 hợp chất, còn bao bì của ta có 1 hợp chất duy nhất nhưng nồng độ cao thôi. Tôi nói cái này để các bác đừng có ẢO TƯỞNG VỀ SỨC MẠNH.

    Physan 20l của Việt Nam dùng được, nhưng đừng phét lác về sức mạnh quá như thế. Bạn muốn trị nấm trắng bám giá thể? Ok luôn. Bao bì hướng dẫn 1ml pha với 1 lít nước, bạn hãy pha 4ml với 1 lít nước. Ngâm cả giò lan, giá thể vào chậu thuốc 5-10 phút, đảm bảo nấm trắng, nấm hồng, nấm cam, nấm xanh chết tuốt. Còn bệnh thối mềm thì bạn phun Physan không ăn thua mấy đâu.

    Một số loại thuốc giành phòng bệnh thối mềm cho lan như Agrifos 400, Nano Bạc, Physan 20, Starner 20WP, Poner 40TB, Kasumin 2L, New Kasuran…

    THUỐC ĐẶC TRỊ THỐI MỀM – THỐI NHŨN:

    – STARNER 20WP – Hoạt chất Oxolinic acid 20%

    – KASUMIN 2L – Hoạt chất: Kasugamycin 2%

    – PONER 40TB – Hoạt chất: Streptomycin sulfate 40%

    2. THỐI NÂU

    Tác nhân vi khuẩn Pseudomonas (Cụ thể là Acidovorax (syn. Pseudomonas))

    Triệu chứng: Những điểm nhỏ ngậm nước có thể xuất hiện bất cứ khu vực nào của lá. Ban đầu là những đốm nhỏ màu xanh lá cây hơi nhạt hơn khu vực xung quanh, sau đó những đốm này mở rộng ra và hợp lại với nhau thành những chấm hoặc những khoang vùng bệnh màu nâu hoặc đen, những vết này khô đi và lõm hẳn xuống. Xung quanh có thể là VẦNG HÀO QUANG MÀU VÀNG hoặc VÀNG NHẠT hoặc XANH NHẠT tùy giống lan, vầng hào quang này có thể chỉ bao xung quanh đốm nâu (đen) nhưng có khi lan rộng ra cả chiếc lá (ĐÂY CHÍNH LÀ ĐẶC ĐIỂM NHẬN DẠNG ĐẶC TRƯNG CỦA BỆNH THỐI NÂU VI KHUẨN để phân biệt với bệnh đốm do nấm. Đốm do nấm thường không LÕM ĐEN VÀ CÓ VẦNG HÀO QUANG RÕ RÀNG).

    Tuy nhiên mọi thứ chỉ là tương đối nếu giả sử lan nhà bạn bị cùng 1 lúc cả nấm và vi khuẩn tấn công thì chỉ có mang chiếc lá đi xét nghiệm mới biết chính xác được. Vì biểu hiện của bệnh thối nâu do vi khuẩn và đốm đen do nấm Cercospora khá giống nhau. Lúc này lại phải xét tới các yếu tố khác như độ lõm của vết đốm, màu sắc của quầng hào quang… Nói chung là rất phức tạp và ngay cả các chuyên gia cũng đôi khi còn nhầm lẫn. Vậy điều duy nhất bạn có thể làm là xịt cả thuốc trị nấm và vi khuẩn cùng 1 lúc (ví dụ trộn Topsin M với Kasumin).

    Nó giống như việc bạn ăn bánh mỳ và uống nước mía, sau đó bị đau bụng. Thật sự là không thể biết do bánh mỳ hay nước mía hay cả hai nếu ta không xét nghiệm cái bánh và ly nước. Việc lúc này không phải là chờ kết quả xét nghiệm mà là cấp cứu kịp thời tống cả nước mía và bánh mỳ ra khỏi cơ thể.

    Vi khuẩn gây bệnh thối nâu này nhiễm vào lan theo nhiều cách, có thể là từ miệng, chân của côn trùng, từ các vết xước, từ khí khổng của lá…. Ta cần tìm nguyên nhân sau đó sẽ đi giải quyết nguyên nhân và giải quyết vi khuẩn. Ví dụ khi lan bị nhện đỏ cắn, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào lá sinh ra bệnh, bạn chỉ phun thuốc trị nấm và khuẩn Pseudomonas mà không hề chú ý tới nhện. Thì có ích gì đâu? Cứ cho là vết bệnh cũ khỏi thì sẽ lại có vết bệnh mới ngay thôi.

    THUỐC CHỮA THỐI NÂU DO VI KHUẨN PSEUDOMONAS

    – Physan 20 là 1 giải pháp người Mỹ thường dùng, tuy nhiên hàng Việt Nam thì hiệu quả hơi thấp. Dùng để phun hoặc ngâm phòng bệnh thì tốt. Nếu bạn không có thuốc gì khác ngoài Physan thì tốt nhất nên ngâm luôn cả giò lan trong thuốc 10 phút, phun không hiệu quả lắm.

    – Hydrogen peroxide chính là ÔXY GIÀ sát trùng vết thương, ta có thể khều với 1 cây kim vết đốm, sau đó nhỏ trực tiếp Oxy già vào. Nếu vẫn chưa hiệu quả sau vài lần thì bạn có thể chuyển dùng sang các loại thuốc bên dưới.

    Nói ngoài lề 1 chút, oxy già H2O2 với hàm lượng 3% dùng để súc miệng hoặc ngậm 10 phút làm trắng răng sát khuẩn miệng, sát trùng vết thương, tẩy vết máu trên vải, tẩy vết bẩn trên gạch men hoặc NHỎ TRỰC TIẾP VÀO NẤM TRẮNG, NẤM MỐC, NẤM HỒNG BÁM GIÁ THỂ nhằm tiêu diệt mấy vị khách không mời này. Ngoài ra nếu bạn bị HÔI NÁCH, dùng oxy già lau nhiều lần, hoặc giò lan cây cảnh èo uột bạn pha tỉ lệ 1/32 với nước rồi tưới cây. CHỐT, phụ nữ mà lông quá đen, đặc biệt là ria mép, lông tay chân lởm chởm có thể dùng nước oxygià để làm mất màu lông (https://www.baithuocquy.com).

    Trong số các loại thuốc trị khuẩn thì loại nào cũng trị được vi khuẩn Pseudomonas, nhưng không phải loại nào cũng dùng tốt cho tất cả các loại lan. Ví dụ như Poner (Streptomycin) tốt nhưng nếu có lan Vanda thì sẽ làm cây chậm phát triển. Hay thuốc Kasuran hoặc New Kasuran rất tốt để diệt nấm và khuẩn, nhưng do thuốc có chứa hợp chất Đồng nên sẽ ảnh hưởng xấu tới rễ của các giống lan trong chi Hoàng Thảo (Dendrobium) nếu bạn xịt liên tục với hàm lượng hơi cao 1 chút.

    CHỐT:

    – KASUMIN 2L – Hoạt chất: Kasugamycin 2% (ƯU TIÊN LOẠI NÀY NHẤT, chính xác là ưu tiên hoạt chất Kasugamycin % càng cao càng tốt)

    – STARNER 20WP – Hoạt chất Oxolinic acid 20%

    Lưu ý: Cùng 1 loại nấm hoặc khuẩn nhưng khi chúng phát bệnh ra trên từng giống lan lại có kiểu hình khác nhau, điều này đòi hỏi bạn phải soi kỹ từng hình và trồng nhiều giống lan cộng với sự trải nghiệm nghề lan của tháng năm cuộc đời.

    Hẹn các bạn một ngày nào đó, bài THUỐC CHO LAN đạt như tôi mong muốn, tôi sẽ viết tiếp.

    Bài này 18 trang A4 chắc cũng đủ để các bạn nghiên cứu dài dài. Bộ sưu tập hình ảnh trong bài có thể nói là khủng nhất các trang mạng xã hội hiện nay, tôi đã cố hết sức để làm thật rõ ràng và cụ thể nhằm phục vụ mong muốn của các bạn.

    Tôi không mong muốn gì hơn đó là sự CHIA SẺ bài viết này trên trang cá nhân của các bạn. Mục đích của tôi rất đơn giản thôi đó là TRẢ NỢ CUỘC ĐỜI và NHỜ GIÓ CUỐN ĐI 1 TẤM LÒNG, thế thôi!

    Tôi rất thất vọng khi có nhiều Web chạy đua theo số lượng bài, coppy linh tinh chồng chéo không chuẩn, nội dung 1 đường, hình 1 nẻo. Ngày mới chơi lan tôi bị lọt vào ma trận các bài viết và làm theo, cuối cùng ăn không ít quả đắng, tiền thì mất mà lan thì vẫn chết.

    Còn vài bạn coppy bài của tôi mà không ghi nguồn tôi cũng rất thất vọng. Không phải tôi ích kỷ hay ham mê danh tiếng, vấn đề ở chỗ coppy không trọn vẹn, nội dung và hình ảnh phải đi cùng nhau, bạn chỉ coppy nội dung mà không hề có cái hình nào (vì tôi ghi tên tôi trên hình)… Chính bạn bè của những người coppy không ghi nguồn báo bằng tin nhắn riêng cho tôi, vậy có phải là bạn tự làm mất uy tín và hạ thấp danh dự nhân phẩm của mình không?

    Tôi báo trước, nếu còn có bạn làm vậy, tôi sẽ giúp bạn bỏ nick facebook vì không chịu nổi dư luận. Nếu bạn cũng là chủ vườn lan, cũng muốn giúp khách hàng của bạn đọc bài tôi, nhưng lại sợ khi chia sẻ bài tôi trên trang của mình thì bị tôi giựt khách. Đơn giản là bạn chỉ cần copy lại y nguyên cả nội dung và hình ảnh, sau đó ghi dưới cùng tên tác giả Nguyễn Ngọc Hà là được.

    Tôi sẽ giành trang face cá nhân này chỉ để CHIA SẺ về lan, không đăng bán buôn. Nếu cần bán, tôi sẽ đăng chỗ khác hoặc các bạn chủ động Inbox cho tôi! Và cũng mong các bạn hạn chế gắn thẻ lên tường face này, chỉ đơn giản là tôi đã khóa tường rồi!

    Nội dung trong bài tham khảo tài liệu trên:

    www.aos.org

    https://staugorchidsociety.org

    https://nonghoc.com/

    Susan Jones trợ lý biên tập của Tạp chí hoa Lan Mỹ, 16.700 AOS Lane, Delray Beach, Florida 33.446

    Simone, Gary W., Giáo sư Tiến sĩ

    Harry C. Burnett, Giáo sư Tiến sĩ

    Schuster, James, Bruce Palsrud tại Đại học Illinois

    Appiah, AA, P. Jennings and JA Turner, 2004. Phytophthora ramorum

    Aryantha, INP and DI Guest, 2006. Ức chế Mycoparasitic và đối kháng trên Phytophthora cinnamomi

    J.I.Uchida and M.Agaraki

    Nguyễn Đức Tiến Addmin Hội Hoa Lan Việt Nam VOS

    Lê Hoàng Nam – Kỹ sư nông nghiệp, Addmin Hội Hoa Lan Việt Nam VOS

    …..

     

    Vì một ngành lan Việt Nam hùng mạnh.

    Nguyễn Ngọc Hà biên dịch và biên soạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Hoa Cưới Cầm Tay Cô Dâu Dáng Dài
  • Bí Quyết Để Có Bó Hoa Cầm Tay Cô Dâu Dạng Suối Đẹp Nhất
  • Hoàng Thảo Ý Ngọc – Dendrobium Transparens Đẹp Tinh Khiết Lạ Lùng
  • Loài Hoa Nhiều Ý Nghĩa Và Mang Lại Giá Trị Kinh Tế Cao
  • Những Cần Biết Liên Quan Đến Hoa Lan U Lồi
  • Hướng Dẫn Bí Quyết Xem Mạng Gà Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Chế Độ Nuôi Chiến Kê Của Người Thái
  • Dinh Dưỡng Và Áp Lực Đối Với Gà Chọi
  • Chia Sẻ Bí Quyết Và Kinh Nghiệm Về Vi – Vảy – Cán Gà Chọi
  • Kinh Kê Gà Chọi – Sách Gà Chép Tay Cực Quý Của Người Việt
  • Cách Chọn Gà Đá Theo Đòn Lối
  • A. XEM MÀU LÔNG – CHÂN, VẢY

    I. Vài lời mở đầu

    Có nhiều tranh cãi và ngộ nhận về việc so sánh “khập khiễng” khi chọn màu hợp cách giữa màu lông ở trên thân mình gà và màu vảy ở quản gà. Câu hỏi thường được dân chơi gà chọi đặt ra là “Thế nào mới là hợp cách?”. Những người mới tập tễnh chơi gà chọi thì lại càng rối trí hơn về các tên gọi màu sắc lông khác nhau giữa gà đòn và gà cựa, giữa các địa phương gọi tên màu lông khác nhau. Do đó nếu xem lại trong Văn chương truyền khẩu chúng ta có một số câu ca dao đúng và một số câu ca dao sai do hiểu lầm hay không dựa trên cơ sở của Ngũ Hành mà ra.Thí dụ:

    “Gà ô chân trắng mẹ mắng cũng mua.

    Gà trắng chân chì mua chi thứ ấy”

    Câu ca dao trên hoàn toàn đúng vì dựa vào căn bản của Ngũ Hành.

    Còn trong thí dụ dưới:

    “Xám chân vàng cả làng mất váy”

    Câu này tuy không hoàn toàn sai nhưng màu lông gà Xám được nhận xét 1 cách phổ quát tức là bao gồm cả Xám khô, Xám hồng (trong Nam gọi là Xám Điều hay Xám son), Xám sắt. Sự nhận xét này không dựa vào căn bản Ngũ Hành một cách xác thực mà chỉ dựa vào kinh nghiệm của một vài cá nhân, sự kiện xảy ra nên không có tính thuyết phục.

    Bài viết tham khảo này hy vọng làm sáng tỏ phần nào cách phối trí giữa màu lông và màu chân gà để định nghĩa cho sự hợp cách trong môn chơi gà chọi. Theo định nghĩa thông thường ta có 5 sắc lông : Ô, Xám, Điều (Tía), Nhạn và Vàng (gà Cú và và Chuối cũng được xếp trong hạng này). Ngày nay khi xét đến sắc lông rất có nhiều phức tạp do những màu sắc mới được pha cản và cho ra những cái tên như Khét, Sữa, Bướm,vv… Do đó làm thế nào để xác định cho đúng màu lông của con gà để định vị trong Ngũ Hành cho nó ?

    II. Phân định màu lông theo Ngũ Hành.

    Muốn phân định màu lông 1 cách chính xác chúng ta phải nhìn vào lông mã và lông bờm cổ của gà để xác định chứ không dựa trên lông ở thân hay đuôi gà. Đó chỉ là màu lông phụ để gọi cho dễ nhận diện con gà mà thôi. Thí dụ con gà có lông ức, lông đùi, lông cánh, lông đuôi màu đen nhưng lông mã và lông bờm cổ màu đỏ thì ta gọi là con gà Ô Tía hay Tía chứ không gọi nó là gà Ô được. Tuy chữ Ô đọc trước chữ Tía nhưng Ô không phải là màu lông chính mà là lông Tía là màu chủ đạo để định màu trong Ngũ hành.1. Gà Ô – mạng Thuỷ – đây là con gà có lông mã và bờm cổ màu đen, bất luận là mã kim hay mã tre hay mã lại. Con gà Ô hợp cách theo thứ tự các màu vảy sau đây: màu trắng, kế đến là đen và sau cùng là màu xanh hay màu chì (màu chì còn được gọi là màu da đá do màu đen pha với trắng hay xanh mà ra).

    Những màu sau đây được xem là không hợp cách : đó là màu mây ráng đỏ do màu chân vàng pha màu đỏ bên trên vảy như màu mây. Thứ đến là màu chân vàng.

    Ô Mã lại hợp cách chân đen.

    2. Gà Xám – mạng Mộc – đây là con gà có lông mã và bờm cổ có màu xám khô, xám bẩn hay xám mã lại. Con gà Xám có màu lông này sẽ hợp các màu chân sau đây: màu chân đen, màu chân xanh, chì và sau cùng là màu chân vàng mây có pha ráng đỏ.

    Những màu chân sau đây được xem là không hợp cách : đó là màu chân vàng và màu chân trắng. Trong câu ca dao ở trên “Xám chân vàng cả làng mất váy” ý muốn nói đến Xám tuyền mạng mộc. Còn những màu lông xám khác như Xám hồng hay Xám son thì màu chân vàng lại được xem là hợp cách vì màu lông chủ đạo của xám hồng là màu đỏ (tía) chứ không là xám nữa nên sự hợp cách thay đổi theo Ngũ Hành, vì trong trường hợp này lông Xám chỉ là tên gọi để nhận diện mà thôi.

    Riêng màu lông Xám sắt tức là gà Xám có lông mã và lông bờm cổ màu đen. Nếu lông mã và bờm cổ chỉ pha lẫn ít lông đen thì được gọi là Xám bẩn. Gà Xám bẩn chính là mạng Mộc nên rất kỵ màu chân trắng. Nhưng nếu gà Xám có mã và bờm cổ đen hoàn toàn thì đây là Xám Sắt chinh hiệu hay gọi cho đúng màu lông là Xám Ô thì chân trằng lại đúng mạng và hợp cách. (phần này để giải thích cho câu hỏi của bạn HoaSontay ở phần dưới)

    Xám sắt (Xám Ô) hợp cách chân Xanh.

    3. Gà Điều – mạng Hoả – đây là con gà có màu chiếm đại đa số trong các màu lông của gà chọi. Gà điều có lông mã và bờm cổ màu đỏ rực hay màu đỏ mật. Có nơi như ngoài Bắc hay miền Trung thì gọi đây là gà Tía. Còn trong miền Nam thì thường gọi là lông điều, riêng dân chơi gà cựa còn tuỳ theo màu lông cánh, đuôi, ức mà gọi con gà những cái tên nghe rất lạ là Khét, Que,… như đã nói đến ở trên những màu lông này chỉ là phụ và giúp nhận diện màu lông con gà dễ dàng hơn mà thôi. Nếu những con gà khét, que này có mã và bờm cổ màu đỏ thì vẫn là gà mang mạng Hoả. Những màu chân sau đây được xem là hợp cách: chân xanh, chì, chân vàng mây có ráng đỏ và sau cùng là chân vàng.

    Những màu chân sau đây được xem là không hợp cách: chân trắng và chân đen.

    Gà Điều hợp cách chân xanh.

    4. Gà Vàng – mạng Thổ – con gà có lông vàng ít được chuộng vì hay bị nhầm lẫn cho là màu lông gà Tam hoàng, gà tàu là loại gà thịt. Tuy nhiên có những loại màu lông khác cũng được xếp hạng là gà mạng Thổ đó là gà cú, gà bịp là tiếng ngoài Bắc gọi gà lông ó mã lại, gà có màu lông chuối trắng hay chuối vàng. Gà mạng Thổ thì hợp với các màu chân sau: chân vàng có ráng mây đỏ, chân vàng và chân trắng.

    Những màu chân sau đây được xem không hợp cách với con gà mang mạng Thổ: đó là màu chân đen và chân xanh hay chì.

    Con gà mạng Thổ không hợp cách.

    Khi xét màu lông vàng thổ và màu lông điều đỏ thì nhiều người hay lẫn lộn và gọi một cách “vô thưởng vô phạt” là Tía đỏ hay Tía vàng – nghe buồn cười và sai lạc hoàn toàn về màu sắc. Đã là Tía thì dĩ nhiên là đỏ và không phải là màu vàng.

    Khi xét màu lông mà không xét kỹ là đỏ hay vàng, cứ cho là lông màu Tía tràn phát rạ thì dễ xảy ra sự nhầm lẫn, chẳng hạn như chân trắng thì hợp với con gà mạng Thổ lông vàng, trong khi con gà Tía mạng Hoả thì lại không hợp cách với màu chân trắng.

    5. Gà Nhạn – mạng Kim – gà nhạn là gà có màu mã kim và lông bờm cổ màu trắng. Một điều lý thú là rất ít khi thấy gà nhạn lông mã mái. những con gà có màu lông bướm, khét sữa, vv… nhưng nếu lông mã và bờm cổ màu vàng như gà chuối đều được xem là gà có mạng Thổ. Gà Nhạn hợp cách với màu chân như sau: chân vàng, chân trắng và chân đen.

    Những màu sau đây được xem là không hợp cách: chân xanh và chân vàng mây có ráng đỏ.

    Nhạn hợp cách chân vàng.

    III. Kết Luận

    Bài tham khảo này chỉ đưa ra một góc độ nhỏ, đó là cách xét màu lông và màu vảy chân sao cho hợp cách. Phương pháp xét màu cho hợp cách ở trên ở trên đều dựa trên căn bản của Ngũ hành tương sinh và tương khắc. Ở đây chúng ta chỉ đưa ra những cách ghép màu sắc cho hợp với phương pháp của Ngũ hành để thấy sự hài hoà theo lẽ tự nhiên. Sự hợp cách này không có nghĩa tuyệt đối và cũng không có nghĩa sẽ mang lại kết quả thực tiễn là sẽ mang về chiến thắng hay chiến bại khi đem gà ra sới.

    Những yếu tố về màu sắc như màu lông, màu vảy ở chân, màu mỏ và màu mắt đều là do yếu tố di truyền từ những con gà gốc (gà nọc) đã được truyền xuống cho các thế hệ sau qua việc phối giống. Ngoài việc phối giống cho hợp cách về màu lông và màu vảy ở chân, người nuôi gà chọi phải hiểu biết và ứng dụng những yếu tố khác quan trọng hơn trong di truyền học đó là cách chọn gà về đòn lối, thế đá, thể lực và hình trạng để mang lại kết quả khả tín và cho ra những chiến kê xuất sắc hơn.

    B. XEM MÀU MẮT

    Mạng gà được xác định dựa vào viền màu xung quanh con ngươi. Về cơ bản có các màu sau đây: viền vàng, gạch=mạng thổ, viền đen=mạng thủy, viền trắng=mạng kim và viền xanh=mạng mộc; viền đỏ=mạng hỏa không tồn tại trên thực tế.

    Áp dụng ngũ hành tương sinh & tương khắc:

    Gà “trắng” ăn gà “đen” & gà “xanh”, thua gà “vàng”

    Gà “xanh” ăn gà “vàng” & gà “đen”, thua gà “trắng”

    Gà “đen” ăn gà “xanh”, thua gà “trắng” và gà “vàng”

    Gà “vàng” ăn gà “trắng” & gà “đen”, thua gà “xanh”

    Đa phần gà đá ngoài trường đều mạng mộc (70-80%), mạng kim (5-10%), mạng thổ (5-10%), mạng thủy (5%). Các sách tướng gà thường cho gà mắt đen (mạng thủy) là yếu, nhát; có lẽ vì vậy mà người ta ít mang gà đi đá. Bởi mạng thổ chiếm đa số nên đem gà mạng kim đi đá dễ ăn độ. Mạng thổ để dành đá với gà dữ ngoài trường (thường là mạng kim). Giả sử có con gà mạng hỏa thì nó sẽ hốt xác hết những con gà dữ mạng kim & mạng mộc ngoài trường!

    Ngoài viền mắt, một đặc điểm quan trọng nữa của phép xem mạng này là nặng tính thực tiễn. Mạng thổ và mạng thủy dễ đoán, trong khi mạng kim và mạng mộc khó đoán hơn; nếu viền trắng tinh thì có thể mạnh dạn đoán là “mạng kim” nhưng đa phần đều phớt xanh, khó đoán, người ta gọi nôm na là “xanh lên trắng”. Phải đem đá thử mới biết chắc; chẳng hạn đá với gà “xanh” nếu thắng gọn trong một, hai chân thì đó là gà “trắng”, nếu đá dằng dai thì cùng là mạng mộc, gà “xanh”.

    Có nhiều con gà “mạng ẩn” tức màu mạng không thể hiện ra ngoài, chẳng hạn viền mắt xanh hoặc thậm chí vàng nhưng lại là mạng kim. Cách tốt nhất vẫn là đem đá thử độ nhỏ trong xóm; một khi biết chắc mạng gà rồi thì mới đá độ lớn.

    Một số đặc điểm hỗ trợ việc đoán mạng:

    ·         Mạng kim thường có đuôi lau (lông đuôi trắng như bông lau).

    ·         Gà chân vàng với những bớt đen ở chân (không phải móng đen hay cựa đen) thì hầu như là mạng kim.

    ·         Gà chân trắng với những bớt xanh ở chân thì hầu như là mạng mộc.

    ·         Gà chân xanh và không có đuôi lau thì chắc chắn không phải mạng kim.

    Trường hợp gà cùng mạng thì lúc đó phải xem đến màu chân. Màu chân cũng tuân theo ngũ hành sinh khắc (liệt kê ở trên). Chẳng hạn, hai con gà mắt trắng thì con chân vàng sẽ ăn con chân trắng, nhưng khá chật vật vì dù sao cũng là anh em, chỉ trên cơ chút đỉnh. Nếu cùng màu chân thì sau cùng mới xem đến màu lông. Ngày, giờ và vảy không quan trọng đối với gà cựa.

    Đoán màu lông:

    ·         Nếu con gà màu vàng hoặc khét thì dù lông cánh thế nào cũng là gà vàng hoặc khét.

    ·         Nếu màu ô hoặc điều thì nếu cuối lông cánh nó màu đỏ thì là điều, còn nếu màu đen thì là ô.

    ·         Gà điều chân xanh thì thành gà xanh và thuộc hành mộc như là gà xám nhưng dưới cơ gà xám.

    ·         Gà xám bông trên cơ gà xám tuyền nhưng chỉ trên cơ chút đỉnh vì cơ bản nó vẫn là gà xám (ví dụ như gà vàng hay khét bông cũng đừng nên đụng gà xám vì về cơ bản chúng vẫn là vàng và khét).

    Cách cáp gà:

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Loại Thần Kê, Linh Kê Và Quý Kê
  • Hướng Dẫn Cách Xem Tướng Gà Hay
  • Bí Quyết Xem Tướng Gà Hay Bạn Cần Biết
  • Các Phương Pháp Tập Luyện Cho Gà Đá Cựa Sắt
  • Tìm Hiểu Về Các Dạng Mồng Gà Đá
  • Bí Quyết Xem Tướng Gà Hay Bạn Cần Biết

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Xem Tướng Gà Hay
  • Các Loại Thần Kê, Linh Kê Và Quý Kê
  • Hướng Dẫn Bí Quyết Xem Mạng Gà Hay
  • Chế Độ Nuôi Chiến Kê Của Người Thái
  • Dinh Dưỡng Và Áp Lực Đối Với Gà Chọi
  • Thân trường hùng dã Lưỡng túc tam phân Giác tâm nhi tiễn Thủ vĩ tương đồng Lưỡng dực trường tồn Hậu biên bất đoản Nhãn quang bất lộ Ức ngưỡng nghinh thiên Ðáo khứ huỳnh như phụng hoàng Thị ư thần kê dị dạng (*)

    CHÂN GÀ

    Mặt tiền chân gà có 2 hàng vảy,được gọi như sau:

    Theo ngón ngoại đi thẳng lên gối,gọi là hàng Ngoại hoặc hàng Thành

    Theo ngón thới đi lên gọi là hàng Thới

    Mặt sau có một hàng vảy lớn,gọi là hàng Hậu

    Từ cựa lên đến gối,gọi là hàng Độ

    Giữa hàng Ngoại và hàng Hậu có một hàng vảy nhỏ lăn tăn,dài từ gối xuống,gọi là hàng Biên.

    DANH XƯNG VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA VẢY GÀ:

    Vảy nhỏ ăn vảy lớn

     Ngũ quỹ ăn Tứ thánh, Tứ thánh ăn Tư tượng, Tư tượng ăn Tam tài.

    1. Án Thiên: Tức một vảy lớn nằm sát đầu gối trên cao nhất. Nếu cách gối một hàng thì gọi là Án Thiên 2, cách một hàng nữa là Án Thiên 3. Gà có vảy này sức lực bền bỉ, tránh né tài tình, ra đòn thường chính xác. Rất Tốt.

    2.Phủ địa: Có hình dáng giống như Án Thiên,nhưng được đặt dưới cựa,sát đầu bốn ngón chân. Gà có vảy này khi chinh chiến rất tinh nhanh, cựa địch khó lòng xuyên thấu. Tốt.

    3.Khai Tiền: Một vảy thuộc hàng Thành nứt ra,bất luận trên hay dưới cựa đều không tốt. Gà này không nên dùng,vì thời vàng son đã tận. Rất Xấu.

    4.Vấn Cán: Hình dáng như Án Thiên và Phủ Địa,nhưng được đặt ngoài nơi của Án Thiên và Phủ địa. Vảy này nếu trên cựa thì không tốt, nếu vấn 3 vảy sát đầu gối thì tốt, từ bốn vảy tuyệt đối không nên dùng.

    8. Ngậm Thẻ: Hai hàng vảy đều, bỗng nhiên có một vảy chen vào đường kẻ nhỏ,chia đôi ra. Gà này đá tứ tung,vô đòn vô thế.

    9. Liên Giáp Ngoại: Hai vảy ở hàng Thành dính nhau thành một vảy lớn, gà này không tốt. Nhưng nếu từ hàng thứ 4 từ gối xuống có vảy này thì dùng được,gọi là Kích Biên.

    10. Huyền Trâm: Còn gọi tên khác là Trung Huyền, là một vảy nhỏ nằm giữa hàng Thành và Quách, được đặt ngay và ngang với cựa. Vảy này có màu đen tuyền. Gà này đâm nhiều,chém dữ, thường đâm hỏng mắt đối thủ từ chân có vảy này.

    11. Liên Giáp Nội:  Hai vảy ở hàng Quách dính lại thành một vảy to. Nếu sát ngay cựa có hình giống miệng rồng gọi là Hàm Long, giống miệng cọp gọi là Hổ Khẩu. Nếu có hình tròn gọi là Nhật Thần. Gà có vảy này cựa đâm đòn độc, vào yếu huyệt của đối thủ.

    12. Gạc Thập: Bốn vảy sát nhau, hai vảy hàng Thành,hai vảy hàng Quách , tạo nên ở giữa có hàng chữ thập, đặt ngang hàng với cựa. Gà có gạc thập chân đâm cựa liên hoàn,rất tốt.

    13.  Khai Vương: Bốn vảy dính nhau,tạo thành hình chữ Vương, gà tốt.

    14. Ám Long: Còn gọi là Ẩn Long hoặc Vảy Yến., vảy này được đặt ngay ngón giữa,trước khi đụng ngón. Nếu vảy đó màu Hồng càng tốt,gọi là Ẩn Son. Gà này là “Linh Kê”.

    15. Khai Hậu: Một trong những vảy Hậu bị nứt ra,vỡ đôi. Gà này không tốt. Ngoại trừ mặt tiền có

    vảy Vấn Cán thì vẫn dùng được.

    16. Trường Thành: hàng Thành lấn sâu vào hàng Quách, rất tốt.

    17. Địa Giáp: Một vảy nhỏ mọc giữa lòng bàn chân,vảy này luôn chạm đất. Gà có vảy này là “Linh Kê”.

    18. Liên Châu: Vảy của ngón nội đi thẳng lên quá cựa, nó sẽ nhập vào đường thới . Nếu thẳng, no tròn từ trên xuống gọi là Liên Châu. Gà này có tài dùng cựa rất giỏi. (Chú ý khác liên chu: Nếu vảy điểm ngay cựa thì gọi là”liên chu” còn điểm ở ngón chúa thì gọi là “ác tinh” hay “ác hổ báo” gà này có tài đá hư mắt đối phương).

    19. Nhân Tự:  Hai hàng vảy nhập một tạo đường chỉ ra hình chữ Nhân, gọi là Giáp Long Nhân Tự, là gà rất quý.

    20. Liên Móng: Những vảy trên ngón dính đôi hoặc ba, cho biết cái chân ấy mạnh. Khi đá, gà dùng ngón và móng nhiều, hiểm lắm, gọi là Liên Móng hay Liên Tự Thừa Thiên, gà có nhiều đòn lạ.

    21. Đại Giáp: Trên hàng Quách có 3 vảy dính lại tạo thành một vảy lớn,đóng gần cựa là tốt nhất. Gà này có nhiều thế, đâm đòn hiểm độc. Nếu Đại Giáp mà có mở miệng ngậm một vảy nhỏ gọi là Đại Giáp Ngữ Ngọc, gà này tài cao hiếm thấy, sử dụng cựa nhanh như tên bắn.

    22. Trễ Giáp: Hai vảy ở hàng Quách song song sát nhau,cùng đuôi chỉ xuống vào cựa. Gà có Trễ Giáp ra đòn rất nhanh, hay tạt hay quăng, rất tốt.

    tựa như hoa mai. Gà có hậu vận tốt.

    41. Song Cúc: Dưới cựa có hai vảy Dậm nhỏ đi liền với nhau, theo chiều thẳng đứng, hình dáng như Tam tài hoặc Huyền châm, vảy nầy gọi là Song cúc, còn mỗi chân có một vảy đối chiếu nhau cũng gọi là Song Cúc, nếu chỉ có một chân có vảy thì gọi là Cúc Bồn.

    Gà Song Cúc có đòn liên hoàn từ hai, ba cái đá trở lên, còn vảy Cúc Bồn thì vô thưởng vô phạt. Nếu vảy nầy đóng trên cửa thì gọi là Ngậm Thẻ. BạchGà nầy dở, đòn đá thì tứ tung không đâu ra đâu.

    42. Huỳnh kiều: Vảy vấn đóng ở hàng thứ 2-5 đầu ở hàng thành đuôi hàng quách là huỳnh kiều gà có huỳnh kiều may độ và có đòn chết gà.

    43. Bản phủ: Vảy vấn mà đầu nhỏ đuôi to hình như luỡi búa (rìu) đầu ở hàng thành đuôi ở hàng quách thì đó là bản phủ rất hay ăn đuợc kích giáp hay yểm long.

    44. Xuyên Thành Giáp: Dưới cựa có 2 liên giáp ngoại, đồng thời có theo 2 vấn cán . Rất tốt.

    45. Nhất Đầu Hổ: Ngón giữa,vảy gần móng có điểm lốm đốm nhỏ. Gà này khi nếm đón mới trả đòn, nhưng sức bền, đòn mạnh như vũ bão.

    46. Bạch Đầu Hổ: Toàn thể 3 móng chân đen tuyền,ngoại trừ ngón giữa có móng trắng, hai chân đều như vậy, đó là gà tài.

    47. Hắc Hổ Thới: Toàn thể 3 móng chân trước màu trắng, ngoại trừ ngón thới có móng đen. Gà này có đòn thế sáng sủa, đòn nào ra đòn ấy, gà này giao tống mạnh.

    48. Trung Cang Điểm: Ngón giữa cứ cách 2 vảy lại có một đốm, gà này đá hay nước khuya, càng lâu càng giỏi.

    49. Liệt Bái: Có đốm nhỏ ngoài đầu vảy,rất nhỏ, trên ngón giữa. Gà này có uy thế khiến địch sợ hãi mà chạy ngay trong lúc giao đấu, đôi khi chuyển bại thành thắng.

    50. Lạc Diệp: Gần vảy Liệt Bái có một vảy nhỏ dặm thêm trên ngón giữa . Gà này có nhiều đòn tài dễ hạ địch ngay trong hiệp đầu.

    51. Diệp Báo: Ngón giữa, ở đốt giữa có vảy lớn  có đốm nhỏ trên vảy.  Gà này có đòn hiểm, khi đã ra đòn thì địch phải thua chạy.

    52. Thập Hậu: Tại hàng hậu và hàng kẽm  có 4 vảy sát nhau tạo thành hình chữ thập. Gà có quý tướng.

    53. Thập Độ: Tại hàng độ và hàng kẽm có 4 vảy sát nhau tạo thành hình chữ thập. Gà giỏi, đánh đồng chạng dễ thắng.

    54. Liên Kẽm:  Hai vảy thuộc hàng kẽm dính nhau như liên giáp, báo hiệu chân ấy bảo vệ mạng gà. Chân đó có nhiều tài, vừa đánh vừa thủ.

    55. Khẩu Đao: Những vảy ở đường thới đi lên ,nếu đến cựa có một vảy hình chữ Khẩu  gọi là Khẩu Đao. Cựa ấy sử dụng rất độc. Khẩu Đao còn tên gọi khác là Ngọc Đao.

    56. Giáp Thới Phòng Đao: Hàng vảy ngón thới đi đều lên quá cựa,và cong vào ôm lấy cựa. Gà này là Kỳ Tài, có thể hạ đối thủ trong nháy mắt.

    57. Phiến Hậu: Vảy hậu mỏng và phắng, rất tốt.

    58. Long Biên: Gà có một đường biên sát hàng Thành to rõ rệt, kèm theo đó vẫn có những đường biên thường nằm cạnh. Gà này mạnh đòn quăng giỏi.

    59. Nhật Thới: Những vảy ngón thới,đếm từ móng vào khoảng 2 vảy thì có một vảy to hơn,hình chữ nhật. Gà này tinh nhanh, biết sử dụng thới vào yếu điểm của địch.

    60. Giáp Long Thới: Vảy thới gần móng có vảy hình tựa cánh bướm. Gà này dùng thới mãnh liệt, chuyên phá mặt địch bằng thới.

    61. Song Long Tự: tại hành Thành và hàng Quách,hai hàng vảy xếp lên nhau và cùng cong xuống qua hai bên như hai hình bán nguyệt. Đây là chân gà quý,biết dùng cựa.

    62. Giao Long: Vảy này đóng từ hàng thứ hai hoặc ba trở xuống.Một vảy của hàng Quách,dài ngang,lấn qua hàng Thành.Đuôi ở hàng Thành,đầu hàng Quách. Gà có Giao Long hay chui lòn,cắn gối,cắn đùi,đá vỉa,đá mé.

    63. Sát Cang Điểm: Ngón giữa có hai vảy sát nhau,cùng có hai điểm đốm. Gà này có ưu thế là hay đá đùi,đá vai,đá lưng…

    64. Nhân Tự Trung Tiết: Hai vảy đóng như hình chữ Nhân tại khoảng giữa ngón ngọ. Gà này thường không may độ.

    65. Tứ Trực: Một chân có vảy Án Thiên,chân kia có vảy Phủ Địa. Vảy này thuộc Quý Kê.

    66. Hổ Trảo: Vảy gà có điểm đốm xanh,đen,hoặc đỏ gọi là Hổ Trảo. Gà này đá chắc đòn,nhiều thế hiểm ác.

    67. Vấn Án Hoành Khai: Nó có hình của vảy Phủ Địa hay Án Thiên,nhưng chính giữa có một đường lõm xuống,chia đôi vảy. Gà này đá đòn ngang hiểm hóc,hay chém hay tạc.

    68. Song Phủ Đao: Hai vảy của hàng Quách đóng ngay cựa,sát nhau,cùng có 2 đầu nhọn chỉ thẳng vào cựa. Gà này nhạy cựa,khôn lanh,trả đòn tức thì.

    69. Tam Vinh: Chân gà minh bạch,sạch sẽ.Hành độ,hàng kẽm phải đúng cách ,hàng biên phải liên tục,hàng hậu xuống quá cựa. Gà này là Linh kê.

    70. Tứ Trụ Giáp: Một chân có 2 Án Thiên,một chân có 2 Phủ Địa. Gà này đâm nhiều chém dữ, lấy tấn công làm phòng thủ.

    71. Nội Ngoại Hợp Công: Hai hàng Thành,Quách rõ ràng,phân minh,sạch sẽ. Tốt.

    72. Thượng Hạ Giao Chinh: Một Chân có 3 Quấn Cán, chân kia có 3 điểm Đen hoặc Đỏ. Gà này rất tài nghệ trong từng thế võ,thế nào cũng hung ác.

    73. Văn Võ Song Toàn: Một chân có 3 hàng vảy ở mặt tiền, chân kia có 2 hàng trơn. Gà này hay đá thế hiểm,biết lợi dụng thời cơ và sơ hở của đối phương để tung đòn hiểm ác,giết chết đối thủ trong nháy mắt.

    74. Tiền Phú Hậu Bần: Chân gà từ cựa đổ lên vảy đóng chặt,rõ ràng phân minh. Từ cựa đổ xuống đóng rời rạc,không liền mí. Gà này đá càng lâu thì càng yếu sức,không tốt.

    75. Tam Tài: Mặt tiền chân gà tính từ sát gối xuống đến vảy thứ 3, có 3 hàng vảy liên tiếp nhau.Gà có Tam Tài là Quý Kê, đòn tài mãnh liệt, đá đồng chạng dễ thắng.

    76. Bàng Khai: Tại hàng Thành hoặc Quách có 1 vảy nứt ra. Tốt.

    77. Hoàng Thành Chỉ Địa: Hàng Quách có vảy hơi lớn và xéo,chỉ xuống cựa . Chân gà này tốt,đá nhanh,đòn khéo léo.

    78. Áp Khẩu: Hàng Thới có một hàng vảy đi lên thì bỗng chia đôi thành 2 vảy nhỏ: Xấu, đường Hoa Đăng không sáng.

    79. Tứ Quý: Giống như Tam Tài,nhưng có 4 vảy từ gối xuống. Gà này rất tốt đường Sinh Đạo.

    81. Song Liên Tự: Hai chân đều có liên giáp nội đóng ngang cựa,cùng mở miệng ngậm ngọc, đường thới hoa đăng tốt. Gà này có đòn tài,thế hiểm.

    82. Ngũ Quỷ: Một chân có 3 hàng vảy liên tiếp nhau,đóng từ gối đổ xuống đến vảy thứ 5. Gà này hung ác vô cùng,khó có đối thủ cân sức.

    83. Độc Giác: Hai chân đều có 2 vảy to,cùng mở miệng ngậm ngọc, đóng ngay cựa. Gà tài.

    84. Lưỡng thiệt: Gà này hoàn toàn không có lưỡi, chính là Linh Kê.

    85. Bạch Giáp: Chân Xanh, hoặc Đen, hay Xám, có 1 vảy nhỏ màu trắng đóng từ cựa đổ xuống. Gà này chính là Quý Kê.

    86. No Hậu: Hàng hậu từ gối không bị chia đôi,hay ba vảy. Xuống đến cựa vẫn to và rõ ràng. Gà này thắng trận bền bỉ, tám phần là gà hay.

    87. Kém Hậu: Hàng Hậu từ gối chia đôi,xuống chưa đến cựa đã nhỏ lăn tăn. Gà này không nên dùng.

    88. Thất Hậu: Hàng Hậu từ gối xuống chia 2 hàng hoặc không liền mạch. Gà này cũng không nên dùng.

    89. Phản Hậu: Hàng Hậu thường up lên, trái lại Phản Hậu úp xuống. Những Quý Kê mới có đường tài này.

    90. Giao long: Vảy vấn mà nằm từ hàng vẩy thứ 2-3 có đầu to đuôi nhỏ đầu ở hàng quách đuôi ở hàng thành đầu cao đuôi thấp thì đó là giao long gà có giao long là gà chuyên đi duới chui luờn cắn gối đá phá đùi đối thủ.

    91. Nghịch lân: Là vảy vấn ngang cựa nhưng nó gồm một vảy bên hàng quách và 2 vẩy bên hàng thành gà có vảy này thiện nghệ dùng cựa và cưa cực kỳ uy lực.

    92. Kích giáp: là vảy tựa như quấn cán, cách 4 hàng vảy, tính từ gối xuống. Tương truyền, gà có vảy này thuộc hàng tướng kê, ra đòn nhanh lẹ dũng mãnh, ăn độ chớp nhoáng, khiến cho địch thủ đa số tử trận, hộc máu chết tại chỗ.

    LUẬN THÊM VỀ VẢY:

    Vảy gà ở “hàng thành” và  “hàng quách” phải rõ ràng, phân minh, vảy lớn, vuông vắn, đừng quá thiếu, quá thừa mới tốt.

    Vảy độ:

    Vảy độ đôi khi có một hàng, đôi khi hai hàng, nếu chân này một hàng, chân kia hai hàng thì dở, “hàng độ” và  “hàng hậu” lấn hết chỗ, để không có “hàng kẽm” thì xấu, rất khó ăn độ, “đường hậu” và “đường độ” đụng nhau thì nan giải lắm.

    “Hàng độ” luôn luôn nghiêng về mặt tiền thì tốt.

    –    Vảy kẽm sát cựa nhỏ, to dần đi lên gối, nếu hai hàng kẽm của hai chân thật giống nhau như đúc là quá tốt. “Kẽm” và “độ” cùng song song đi lên đừng thiếu nhau là tốt.

    Hàng độ có phân chia vảy độ ra thì phải thua.

    –    Chân hai hàng trơn tru, rõ ràng sạch sẽ, nếu tướng cũng tốt thì gà hay, đá có nhiều thế khác nhau.

    –    “Hàng độ” đóng nhiều hàng, vảy nhỏ lăn tăn thì không tốt(độ tấm).

    “Hàng độ” đóng càng cao càng nhỏ dần và ngả về “hàng quách”, là đúng cách nhất.

    “Hàng độ”, hai phân cao thấp không đều, coi chừng có thua….

    –    “Hàng kẽm” phải song song với “hàng độ”, và dài hơn “hàng độ” lên tận gối mới tốt, khỏe gà.

    Hàng kẽm và độ đều nhau, song song, nhưng nếu kẽm thiếu một vảy với hàng độ, vảy thứ mấy, độ thứ ấy phải thua.

    Song khai: một “hàng kẽm” và một “hàng độ” gọi là độ “song khai”.

    Độ tam tằng: gà có một “hàng độ” và hai “hàng kẽm’, gọi là “tam tằng”, khá lắm. “Hàng kẽm” có một cái chấm, và một vảy yếm ở cuối hàng kẽm và độ nhập lại, vuốt đuôi có một vảy chính giữa gọi là chấn, con gà có hai thứ ấy nên dùng, chỉ có một cũng dùng, nếu thiếu cả hai thì không nên xài.

    Độ liên ba: gà có một “hàng độ” và ba “hàng kẽm”.

    Độ tam trái: gà có một “hàng độ” và một “hàng kẽm”, thêm có ba vảy chụm lại hình chữ “phẩm” nằm ngang, không lớn không nhỏ, chẳng thấp, gà này không phải trả độ (không thua). Gà một chân có độ “tam tằng”, chân kia “song khai” như vậy không đúng cách, hay thua bậy.

    Biên hoặc chu vi: Biên một hàng không đứt quãng rất tốt, thượng sách, vảy chữ nhật hoặc vuông, gà vảy mặt tiền loạn, thì hàng liên hai và ba hàng cũng dùng tốt.

    –    Gà nào “hàng quách” loạn thứ loạn lớp, mà “hàng độ”, “hàng kẽm” minh bạch, biên liền lạc, ngay thẳng một hàng, gà này vào hạng ưu tú, ăn liền mấy độ, khó thua.

    –    Gà hàng thành, quách như một lùm, một chân có hai hàng, còn một chân có điểm đốm chính giữa từ trên xuống khỏi cựa, ấy là văn võ toàn tài, khó ăn được gà này.

    –    Nếu có vảy “huỳnh kiền” đóng từ vảy thứ 2 đến 5 đều tốt. Vảy thứ 2 ăn vảy thứ 5, thứ 3 ăn thứ 4 v.v… “Huỳnh kiền” có ăn độ rồi đá với gà “huỳnh kiền” chưa ăn độ, thì như chưa ăn độ.

    Vấn cán hoàng khai: đóng trên thì đá ngang, đóng tại cựa thì đá cần cổ, nếu vảy “vấn cán hoành khai” có thêm “xuyên giáp”, thường hay ở hàng quách, dưới cựa, có vậy gà thường đi trên, ưa lòn xuống dưới, giỏi đá nhiều thế.

    Vấn cán hoành khai, ở trên có ba hoặc bốn cái, ở dưới có vảy “nguyệt tà”, gà ấy cứng đòn, ưa đá hầu, dọc, ngang.

    Vấn cán hoành khai dưới cựa có vảy “hàm cốt”, xuyên giáp hay “lạc mai” gà hay đá mé. Nếu gà có “án thiên” II hoặc III đã thắng độ, không nên đá với gà có “phủ địa” chưa thắng độ.

    –    Gà hai chân đều có “phủ địa”  hoặc I, II, III không đồng bậc, gà này phải thua gà có “tứ trực”. Nếu “phủ địa” liền bốn cái, thì không phải cách.

    + Tất cả những vảy, những chấm, những điểm đốm, đều theo: đỏ ăn đen, đen ăn xanh, xanh ăn lợt, lợt ăn bán sắc.

    + Những ngón chân thì vảy phải xếp quay đầu ra phía trước, gốc về sau mới đúng cách.

    + Hậu phải từ 14 vảy đổ lên mới tốt. + Có những vảy tài vảy tốt thường đóng ở chân trái mới đúng cách, vì vảy tài chân trái ăn vảy tài chân phải.

    + Chẳng thà không có vảy tốt, còn nếu có “án thiên”, “phủ địa”, “bản phủ kích giáp”, “ám long”, mà không đúng cách và nhất là hàng độ và kẽm chẳng may thì không nên xài.

    Lục đinh lục giáp: là gà “lục đinh” mỗi chân có quấn thêm ba cái quấn ngang cựa, cũng gọi là “tam cường”, ấy cũng là gà độc.

    + Gà có những điểm đốm nhỏ, ẩn trong vảy lớn, màu đỏ hoặc xanh, đá dữ, ăn đòn trả đòn ngay, điểm đỏ ăn điểm xanh.

    + “Hàng hậu” phải cùng xếp lên mới đúng cách, tránh vảy lên vảy xuống, tránh chia đôi chia ba, gà có “hàng hậu” thật đúng  cách như thế đã tám phần mười hay rồi, “hàng hậu” cho đến cựa vẫn to và rõ. Một nửa hậu úp xuống, một nửa úp lên, trái lại nó thêm hay đôi chân đều khá lắm, gọi là “bán phản hậu”.

    Vảy thới hoa đăng: “Thới hoa đăng’ rất cần thiết cho vảy gà, “thới hoa đăng” tốt là : từ thới lên đều đến cựa và được một vảy của “hàng quách” chặn lại tại đó, cả đôi chân cũng thế, khá lắm, ngoài ra nếu lên thẳng đến gối thì càng quý, nhưng tránh lên quá cựa “giữa cán” rồi bị đứt quãng từ đó. Đôi thới đúng cách nhất ta đếm được 1-2 vảy mỗi bên, bằng không đều thì chân trái hơn chân phải mới nên dùng.

    Bể biên khai hậu là cậu gà nòi: “Đường quách” có một vảy nứt ra chia làm hai, đồng thời “đường hậu’ lại có một vảy khai ra rõ rệt, gà ấy là gà hay, gọi là “”bể biên khai hậu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Phương Pháp Tập Luyện Cho Gà Đá Cựa Sắt
  • Tìm Hiểu Về Các Dạng Mồng Gà Đá
  • Chia Sẻ Bí Quyết Chế Độ Nuôi Dưỡng Gà Chọi Trong 14 Ngày
  • Phương Pháp Nuôi Dưỡng Gà Chọi Ra Trường Đấu
  • Kỹ Thuật Chọn Và Nuôi Gà Chọi Sung Sức
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100