Top 20 # Xem Lan Hac Vi / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Hoa Lan Vanda Có Hương Thơm / 2023

Một vài bạn hỏi rằng có phải cây lan Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana) của ta có phải là thơm nhất không?

Xin thưa rằng cây này không phải của riêng chúng ta mà Miến Điện, Trung Hoa, Thái Lan, Lào đều có cả. Còn thơm nhất thì cũng xin thưa rằng không, hơn nữa câu hỏi quá bao quát, không rõ ràng. Bạn muốn nói thơm nhất trong loài Vanda hay thơm nhất trong các loài hoa Lan?

Theo John Clark Cuddy một nhà trồng lan và nghiên cứu về hương thơm, những cây Vanda có hương thơm được xếp hạng như sau:

1. Vanda tricolor 2. Vanda cristata hay Trudelia cristata 3. Vanda denisoniana 4. Vanda amesiana hay Holcoglossum amesiana 5. Vanda pumila hay Trudelia pumila 6. Vanda alpina hay Trudelia alpina

Chúng ta cũng nên tìm hiểu sơ qua về sự khác biệt giữa 2 loài Vanda và Trudelia. Năm 1881 Nathaniel Wallich khám phá được cây lan Vanda cristata tại Nepal và gửi về vườn bách thảo Kew, Anh quốc. John Lindleyi là người đầu tiên mô tả cây này vào năm 1834 trong cuốn “Những loài và những giống hoa lan” (Genera and Species of Orchidaceous Plants).

Năm 1986 Leslie Garay lập ra loài Trudelia căn cứ vào lưỡi của bông hoa Trudelia alpina không có cựa và hướng ra phía trước và Karlheins Senghas chuyển các cây Vanda cristata và Vanda pumila sang loại Trudelia vào năm 1888. Nhưng năm 1992-1996 Eric Christenson vẫn cho rằng những cây này thuộc loài Vanda. Vì vậy bây giờ nhiều người cho 2 loại kể trên chỉ là đồng danh, ai muốn gọi sao thì gọi.

Trong số 6 cây này, ngoại trừ cây Vanda Tricolor mọc ở Java và Lào, 4 cây sau đều có mọc tại Việt Nam, nhưng biết đâu chúng ta chẳng có, có thể là tìm chưa ra đó thôi.

*Vanda tricolor thường mọc ở trên cành cây hoăc ở gần gốc, thân cao trên dưới 1 m, lá dài 40-50 cm, rộng 3-4 cm. Chùm hoa mọc ở nách lá, dài 25-35 cm mang theo 7-15 hoa. Hoa to từ 5-7 cm, mầu trắng có những đốm hay sọc tím nâu ở mặt trước, mặt sau trắng tuyền, nở vào mùa Hạ và lâu tàn. Hương thơm ngát khi có nắng vào khoảng 9-10 giờ sáng đến giờ chiều.

* * * * *Vanda alpina hay Trudelia alpina Thân cao chừng 20-25 cm, lá dài 15-20 cm hoa 2-3 chiếc, to khoảng 2 cm, nở vào cuối mùa Xuân. Cánh hoa mầu xanh đậm hơn các giống Trudelia cristata và Trudelia pumila và lưỡi hoa hình tam giác với mầu nâu sậm.

Vanda pumila hay Trudelia pumila là một cây lan nhỏ moc tại các nước Á Châu. Cao chừng 20-30 cm, lá dài khoảng 12 cm. Dò hoa ngắn có từ 3-5 hoa mầu xanh trắng hay xanh nhạt, to khoảng 3-5 cm. Có người nhầm lẫn cây này với Vanda cristata. Nếu nhìn kỹ sẽ thấy lưỡi hoa Trudelia cristata chẻ làm 2 như lưỡi rắn, trái lại lưỡi hoa Trudelia pumila hình tròn. Người ta thường gọi là Lan Uyên Ương vì phần đông chỉ có 2 hoa nhưng tại vườn lan Vĩnh Mai và tại Đà lạt có nhiều cây có tới 4-5 hoa.

Vanda amesiana hay Holcoglossum amesiana cây, lá giống như Vanda, nhưng hoa lại giống như Holcoglosum, nên mỗi người gọi một khác. Thân cao từ 20-40 cm lá dài 20-25 cm. Dò hoa dài 30-25 cm có tới 15-30 hoa nở vào cuối mùa Đông tại Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Việt Nam và Căm Bốt.

Vanda denisoniana là một loài phong lan cao tới gần 1 m, lá mọc 2 bên dài 30-40 cm rộng 3-4 cm. Chùm hoa mọc ở nách lá thứ 6-7, dài 20-30 cm có 5-8 hoa to chừng 5-7 cm mầu vàng chanh nở vào mùa Xuân hay dầu mùa Hạ. Hương thơm như mùi va-ni vào lúc nhá nhem tối. Hình ảnh bên dưới chúng tôi chụp tại Vườn Lan Vĩnh Mai Đà Lạt vào tháng 4-2009. Nhưng Vanda denisoniana cũng có có cây hoa mầu vàng sậm hay nâu đậm được coi như là một biến dạng Vanda denisoniana var. hebraica mà cũng có người cho là Vanda brunei.

Vanda cristata hay Trudelia cristata là một cây phong lan lan cỡ trung bình, mọc tại Hồi, Ấn độ, Tây Tạng và Trung Hoa trên các cao độ từ 600-2300 m. Thân cao chừng 25-30 cm, lá dài 20-30 cm, chùm hoa ngắn 15-20 cm. Hoa 5-7 chiếc to 3-5 cm, cánh hoa mầu xanh, dầy và cứng lâu tàn. Lưỡi hoa phía dưới chẻ làm hai.

Theo các sách vở và tài liệu để lại từ trước, cây lan này không mọc tại Việt Nam. Nhưng trong bản Turczaninowia 2005, 8(1): 39-97 Tiến sĩ Leonid Averyanov xác nhận ngày 9-3-2004 Tiến sĩ Phan Kế Lộc và T. T. Anh đã tìm thấy tại Thuận Châu, Sơn La. Trong bộ sưu tập của các anh Nguyễn Minh Đức, Chu xuân Cảnh đều có cây này. Và chính tôi cũng thấy cây này tại Vườn Quốc gia Hoàng Liên Sơn vào tháng 3 năm 2009.

Martin R. Motes một chuyên gia về Vanda cho biết mầu sắc của lưỡi hoa có thể thay đổi từ mầu nâu đen sang đỏ thẫm cùng trong một cây hay từ năm này qua năm khác.

Thực ra nếu chỉ nghe mô tả và xem qua các hình ảnh, chúng ta khó lòng nhận xét và so sánh giữa các cây Trudelia. Nhưng may thay một người có lẽ là người Việt, với biệt danh Cholon đã đưa lên hình ảnh của cây Trudelia alpina với 3 chiếc hoa của Trudelia cristata, Trudelia pumila và Trudelia alpina chụp chung với nhau bên chiếc thước, thực là rõ ràng.

Cách Xem Chân Gà Đòn Tổng Quát, Hay Cách Xem Chân Gà Chọi / 2023

Đạo kê diễn nghĩa bình giải Bình giải: Mộng Lang – Minh họa: Độc Cô Cầu Hòa

1. Hậu biên yến quản đồng hành  Hậu biên đồng hành tức là Hậu Biên Tiên Lộ. Hàng biên và hàng hậu cùng song song đi xuống, cuối cùng hàng hậu tấp vào hàng biên cùng đi xuống ngón ngoại. Đây là gà quý.

2. Giáp Long Chi Tự Điềm Lành Hữu Linh Vảy Giáp Long đóng ở ngón thới. Vảy có hình cánh bướm hoặc từa tựa vảy rồng nên được gọi là giáp long. Loại thần kê này chuyên dùng móng làm trảo để điểm vào mắt địch.

3. Âm minh thư đoản tài tình, 4. Âm minh hùng đoản thanh vang hổ gầm. 5. Hổ gầm khẩu chớ lặng câm, 6. Hoặc rung khẩu hạ biết ra vẹn toàn. Âm minh thư đoản là tiếng gáy thanh, rít mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Cũng là loại gà có tài. Âm minh hùng đoản là tiếng gáy mạnh mà ngắn ở tiếng ngân cuối. Tiếng gáy có âm thanh như cọp rống. Khi gà gáy mạnh và tiếng gáy kết thúc ngắn gọn thì đó là gà dữ.

– Gà gáy phải há lớn miệng mới tốt. Ngậm miệng lặng câm không tốt. – Khi gáy mỏ dưới không rung mới tốt. Rung thì cũng chưa vẹn toàn.

7. Vậy thời cho rõ đừng oan, 8. Kẻo mà hay phản “Đạo Kê” là thường. 9. Xem gà ta phải cho tường, Người xưa xem phép đá gà là Ðạo vì nó đòi hỏi sự thông suốt kê kinh. Ðoạn này xác quyết sự chính xác của kinh và quy sự thất bại vào người xem kinh chưa thông suốt.

10. Rõ ràng “hoa thới” một đường thẳng ngay. 11. Nội lên tiếp ứng nào hay, 12. Có mà “giáp độc” chận ngay là tài.

– “Hoa Thới” tức là Thới Hoa Ðăng. Vảy của ngón thới không ngưng lại ở chậu mà chạy thẳng lên tới cựa rõ ràng thắng tắp thì gọi là Hoa Thới. – Vảy của ngón nội không ngưng ở chậu mà chạy thẳng lên tiếp ứng với Thới Hoa Ðăng tạo thành ngã ba và nhập một đi thẳng tới cựa. – Cả hai hàng vảy này bị Ðộc giáp chặn lại tại cựa. Vảy độc giáp ở hàng Quách là một vảy lớn hả mồm ngậm chiếc vảy cuối cùng của Hoa Ðăng.

Lưu ý: vảy Ðộc giáp không phải là một liên giáp mà chỉ là một vảy lớn.

13. Chận rồi còn thể là hai, 14. Chấn trên giữ dưới thế hoài phải phân. 15. “Thần hổ đệ nhất” nên cân, Đoạn này mô tả vảy “Đệ Nhất Thần Hổ Đao”. – Vảy ĐNTHĐ là đại giáp nội đóng tại hàng Quách, tức là liên giáp bao gồm ba vảy. – ĐNTHĐ hả miệng ngậm chiếc vảy cuối cùng của Thới Hoa Đăng đi lên vì thế vảy này đóng trên cựa 1 ly. – ĐNTHĐ phải đóng cả hai chân.

Gà có vảy này được liệt vào hạng “Linh Kê”.

16. “Hổ Thần Đệ Nhị” cũng phân rõ ràng.  – Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm ở hàng Quách và cũng hả miệng ngậm ngọc giống như Đệ Nhất Thần Hổ Đao. Cả hai đều nằm trên cựa 1 ly nhưng Đệ Nhị Thần Hổ Đao không phải là một đại giáp mà chỉ là một liên giáp. Đại giáp do ba vảy tạo thành, liên giáp chỉ do hai vảy mà thôi.

– Hai chân đều có Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng, nếu không thì thất cách. – Thới Hoa Đăng của vảy phải rõ ràng và thẳng tắp. (Đăng có nghĩa là đèn. Đèn đỏ rực thắp sáng thẳng hàng đẹp như hoa nở nên gọi là đèn hoa.) Có lẽ vì những vảy này nổi lên tròn trịa đẹp như đèn hoa nên có tên là Hoa Đăng. – Gà có chân này có tài cản cựa địch khó đâm. Rất quý.

Thưa quý độc giả, Tàng Kinh Các của Nhất Phẩm Ðường lưu trữ nhiều Giáp Kinh của các danh gia. Một trong những Giáp Kinh này do danh sư Phan Kim Hồng Phúc biên soạn và trong đó có sự khác biệt của Ðệ Nhất và Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao.

Sau đây Mộng Lang xin trình bày những điểm quan trọng của ngài Hồng Phúc.

Theo như Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc thì Thần Hổ Ðao không phải là một liên giáp hay đại giáp mà chỉ là một giáp tại hàng Quách.

– Ðệ Nhất Thần Hổ Ðao thì đóng trên cựa một ly và cũng mở miệng ngậm ngọc. – Ðệ Nhị Thần Hổ Ðao cũng có hình dáng tương tự nhưng nằm cao hơn.

Gà có vảy này thì ra đòn xuất quỷ nhập thần. Khó có địch thủ nào sống sót để gáy.

*Thầy Phan Kim Hồng Phúc không cho biết vảy Đệ Nhị Thần Hổ Đao nằm cách cựa bao nhiêu nhưng phỏng theo hình vẽ của thầy thì Đệ Nhất Hổ Đao nằm cách cựa khoảng một vảy hoa đăng, Đệ Nhị Hổ Đao nằm cách cựa khoảng 2 vảy hoa đăng. Hình vẽ dưới đây là tài liệu riêng của Tàng Kinh Các nhưng phương vị của vảy thì giống nhau.

17. Quay sang “liên cước tam hoàn”, 18. Đôi chân phải có ngọc song mặt tiền. Ngọc song có thể là Song Cúc và cũng có thể là Lưỡng Ngọc Song Cước. Mộng Lang xin đưa ra cả hai để quý độc giả dễ bề nghiên cứu. Vảy Song Cúc đóng ở mặt tiền cả hai chân. Vị trí của vảy ở hai chân phải tương xứng nhau thì mới tốt. Nếu vảy này đóng ngay cựa thì đúng cách.

Gà có vảy Song Cúc có biệt tài đá liên hoàn cước. Mỗi lần xuất chiêu là đá liên tục ba bốn đòn.

Lưỡng Ngọc Song Cước Cả hai chân đều có vảy to phía trên cựa. Một chân có đại giáp ở hàng Thành. Một chân có đại giáp ở hàng Quách. Gà có vảy này luôn luôn có biệt tài đá song cước cực kỳ lợi hại và được nổi danh là Lưỡng Cước Kê ( Theo Sư Kê Phan Kim Hồng Phúc)

Gà có Lưỡng Ngọc Song Cước đá song cước nhưng gà này có đá “ liên cước tam hoàn” hay không thì không thấy sư kê nhắc đến.

19. Rõ ràng nó đá đòn kiêng, 20. Lại thêm đòn thủ mé cần đòn ngang. 21. Thêm rằng bể hậu khai biên, 22. Là tiên giáng xuống cậu tên gà nòi. Ðòn kiêng có lẽ là đòn quăng còn gọi là xạ. Ðòn quăng là đòn đá vào mặt và cần cổ địch thủ bất thình lình mà không mổ trước.

Bể Hậu Khai Biên là cậu của gà nòi. Có sách chép: ” Bể Biên Khai Hậu” là cậu gà nòi. Bể hay khai thì cũng giống nhau. Ðường “Quách” và đường Hậu đều có một vảy nứt ra chia làm hai. Gà ấy là gà hay.

23. Trường thành địa giáp nên coi, 24. Những vảy ấy có gà hay thường thường. Trường thành là vảy ở hàng Thành lấn sang hàng Quách. Khi ta nhìn ở mặt tiền thì thấy vảy hàng Thành có diện tích rộng theo chiều ngang.

Vảy Ðịa Giáp là một vảy nhỏ ở dưới lòng bàn chân. Phải lật lên mới thấy. Loại gà này được liệt vào “Linh Kê”.

25. Thới mang nhân tự một đường, 26. Dễ mà khinh nó sọ bêu phải tường. Ngón thới có vảy nứt như chữ Nhân thì gọi là Nhân Tự Thới. Gà có vảy này chuyên nhả đòn độc và thượng hành đi trên. Nếu nhân tự mà đóng ở các vảy cuối sát móng thì gà có tài móc mắt.

27. Phải tường tứ ứng mà thương, 28. Đôi chân như một trường nương người mời. Tứ Ứng Độ Sơn là 4 vảy độ đếm từ cựa trở lên nằm trên gò cao cách biệt với các vảy độ kế tiếp khuyết hẳn xuống. Nếu được 3 vảy nổi cồm lên thì gọi là “Độ Tam Ứng” và kém hơn gà tứ ứng, ngũ ứng, lục ứng v.v.

Gà có Tứ Ứng Độ Sơn cả hai chân là gà quý. Gọi là Độ Sơn vì hình thể cao hẳn lên như 4 ngọn núi. Lưu ý: Bốn vảy này phải to lớn gần bằng nhau.

29. Song liên là vảy của trời, 30. Phải xem cho nhớ đời đời nước hai. Song Liên là liên giáp nội do hai vảy dính liền tạo thành và đóng tại hàng Quách. Theo tài liệu trong Tàng Kinh Các thì có hai loại song liên tự.

Loại thứ nhất  – Song Liên đóng ngay cựa nhưng không cần phải ngậm ngọc, và cũng không cần phải có đường thới hoa đăng.

Loại thứ hai  – Song Liên phải ngậm ngọc và đóng ngay cựa. Đường thới hoa đăng phải tốt. Viên ngọc bị ngậm không nhất thiết là ngọc cuối cùng. Gà có Song Liên Tự theo cách này ăn đứt các vảy Nhật Thần, Hổ Khẩu, và Hàm Long. Lưu ý: Đừng lộn Song Liên Tự với Đệ Nhị Thần Hổ Đao. Đệ Nhị Thần Hổ Đao đóng trên cựa. Song Liên Tự đóng tại cựa.

Theo các sư kê thì gà có Song Liên thì có đòn độc từ cuối nước thứ hai đổ đi.

31. Hiểu rằng vảy nhỏ “lạc mai”, 32. Chẳng nên căn cứ một hai đòn tài. Lạc Mai là bốn năm vảy chụm lại và đóng trên hoặc dưới cựa. Gà có vảy này thuộc loại thường. Ta không nên căn cứ một hai đòn hay mà giữ gà này vì nó không phải là chiến kê.

33. Đòn tài bán nguyệt nữ giai, 34. Thêm vào ngón giữa ra oai nhiều đường. Vảy bán nguyệt là một đường chỉ vòng bán nguyệt tại cựa. Tuy nhiên, câu này không mô tả đường chỉ đó mà muốn đề cập tới ngón chân cong hình bán nguyệt.

Bán Nguyệt Nội là hai ngón nội của cả hai chân cong hình bán nguyệt. Nếu gà mà có bán nguyệt tại ngón giữa (ngón Chúa) thì lại càng cực kỳ hay.

Chiến kê có chân cong hình bán nguyệt có biệt tài móc mắt đối phương, giỏi song cước, nhảy cao và đá tạt ngang rất ác nghiệt.

35. Đừng cho thất hậu bản lườn, 36. Riêng hai thứ ấy kiên cường phải sâu. Những sư kê có nhiều kinh nghiệm thì họ cho rằng hàng vảy quan trọng bậc nhất không phải là hàng vảy tiền phía trước mà chính là hàng vảy hậu phía sau. Tiền hư thì còn gỡ gạc được, chứ nếu hậu hỏng thì không thể dùng được nữa.

Một con thần điểu tốt phải có hàng vảy hậu no tròn và đều đặn từ chậu đến gối.

Bản lườn tức là lườn tam bản. Loại lườn này có đáy trệt và hai vách hơi vuông vức trông giống như đáy của loại thuyền đóng bởi ba miếng ván nên gọi là lườn tam bản. Kinh sách khuyên ta không nên dùng loại gà có lườn tam bản.

Ngược lại với lườn tam bản thì có lườn tàu có đáy nhọn. Khi ta “vô tay” nâng gà lên thì sẽ cảm thấy đáy lườn cộm vào lòng bàn tay.

“Vẹo lườn thì bỏ, vẹo mỏ thì nuôi”

Xương lườn nằm ở phía dưới bụng của gà. Nếu xương lườn sâu và thẳng không bị “vạy” thì chiến kê ấy có thể tạm coi là tốt.

37. Tam tài tứ quý là đâu, 38. Song tam song quý mới hầu tài cho. Theo tài liệu của Tàng Kinh Các thì có rất nhiều loại tam tài khác nhau. Loại thông thường là ba vảy nhỏ đóng sát gối như hình vẽ này. Qúy điểu có loại vảy này thì ra đòn cực kỳ mãnh liệt hung ác.

Tứ quý là bốn hàng vảy đóng sát gối. Chiến kê có tứ quý chuyên đá lòn, đá dĩa. Con gà đi dưới cũng có nhiều đòn độc ma quái riêng của nó.

Song tam = hai chân có tam tài Song quý = hai chân có tứ qúy.

Nhân đọc bài của anh Mộng Lang, thấy hay quá nên tối dzìa lục lại các sách vở cũ thấy có các trường hợp sau, xin cũng góp vui:

1/ vảy “hoa mai”: ngoài trường hợp “Lạc Mai” mà anh Lang đã nêu còn có trường hợp khác gọi là “Mai Cựa”; do các vảy của hàng biên phụ đi ngang cựa đóng thành; Gà có Mai Cựa khá lắm, thỉnh thỏang gà này đâm cựa rất độc, khi nó trổ tài đối phương phải mang tật.2/ có sách viết “lệch Lông thì bỏ, lệch mỏ thì nuôi”: tức số lượng lông lớn 2 bên cánh của gà phải bằng nhau mới tốt, bên ít bên nhiều thì bỏ không dùng (có lẽ ảnh hưởng đến thăng bằng của gà lúc bay nhảy chăng ? ), còn lệch (vẹo) mõ là dùng chắc là do người xưa nghĩ là “có tật có tài”

Trên giang hồ có nhiều tài liệu diễn giải khác nhau về vảy Tứ Trụ Giáp. Có sách chép “Tứ Trụ Giáp là một chân có Án Thiên và phủ địa, một chân khác có Án Thiên.

Có sách khác lại phác hoạ vảy Tứ Trụ Giáp như bốn ô vuông nằm gần và đều nhau tại cựa, hai ô ở trên, hai ô ở dưới.

Hướng Dẫn Cách Xem Tướng Gà Hay / 2023

LƯNG GÀ

Lưng gà hay phải theo xuôi với cần cổ bằng ngang, thẳng băng, xéo tiếp với đuôi.

+ Gà lưng dài thì tốt, lưng ngắn thì dở, to hông thì có dư sức khỏe.

+ Tránh chơi gà lưng gù, vòm cong như lưng tôm, loại gà bất tài.

+ Lưng gà và lưng cánh, tạo thành một mặt phẳng trên lưng, gọn gang nhỏ dần về đuôi, hơi xéo xuống đuôi, gà ấy giỏi lắm.

+ Lưng xéo xuống đất về phía cổ, gà dở.

+ Lưng xéo xuống đất về phía đuôi, gà tốt.

+ Lưng bằng ngang, có con hay con dở, đa số là dở.

+ Bề ngang của lưng tại hai bên nách, nhỏ, lép, gà thiếu tính bền.

+ Trên lưng có bộ lông mã thả thong hai bên hông, phía sát đuôi, gà nhiều lông mã, xem rậm rạp, tốt lắm.

Nếu những lông này dài, nhọn như kim được thả xuống, mũi chỉ về phía trước, chứng tỏ gà bền sức, cựa đâm nhiều, rất quý, mã ấy gọi là “mã kim”.

+ Nếu lông mã, cái to cái nhỏ, nửa mái lại nửa gà thường, gà ấy tốt, thường là gà hay. Lông mã mọc nhiều hai bên đùi, quý lắm.

+ Gà xám tro, ô ướt, tuyền một sắc, tốt.

+ Ngũ sắc thì may độ lắm, không kỵ sắc nào.

+ Lông mã nhiều sắc không tốt, nhưng có ít chấm như sao, lại quý.

+ Lông mã có màu như lông công là gà hay, có tài.

+ Đôi vai gồ lên, không bằng phẳng, vai hẹp, tốt. Gà ấy đứng nước khuya giỏi ( chẳng nên lầm với hai trái chanh, càng lớn càng tốt).

CẦN CỔ GÀ

Cổ gà nòi thường dài, nhưng nếu dài quá thì lại yếu, cần cổ sẽ không lấn được lúc giao chiến. Cần cổ được kể từ dưới lỗ tai trở xuống đến gáy, chạm lưng, nếu gà cần cổ quá nhỏ, thật bất tiện, gà ấy yếu, khó trả đòn mãnh liệt. “Gà cựa” cũng như “gà đòn”, cổ to là tốt, nhưng thường “gà cựa” cổ bé nhỏ hơn “gà đòn”. Cổ có nhiều hình thù khác nhau: cổ tròn, cổ dẹp, cổ liền, cổ rời, cổ cò và cổ kên kên.

Cổ tròn thì tốt, cổ dẹp thì xấu

Cổ liền thì tốt, cổ rời xấu

Cổ kên – kên thì tốt, cổ cò xấu

Cổ đôi thì rất tốt

Cần cổ tròn và liền: hay tạt hay quăng, đá trên

Cần cổ dẹp và ngắn: hay đá dưới, đá lòn.

Cần cổ dẹp và dài hoặc tròn mà lỏng rời: là cổ xấu.

CỔ TRÒN: Đứng nhìn gà, ta thấy cần cổ tròn như một ống tre.

CỔ DẸP: Cần gà sẽ chia làm đôi một cách rõ rệt, một nửa dành cho xương cần, một nửa dành cho cuống họng, cổ không được no tròn.

CỔ LIỀN: Cổ liền thường tròn, đưa tay bóp xương cần, không thấy nhưng mắt cần ráp lại, tựa như mắt tre vậy.

CỔ ĐÔI: Cần cổ gà cứng, tròn to từ trên xuống quá khỏi gáy, không phải cổ đôi, thường ở gáy có miếng da mỏng kéo từ cổ xuống lưng.

CỔ RỜI: Trái ngược với cổ liền, ta sẽ thấy từng mắt nổi lên rõ ràng khi đưa tay nắn cần cổ.

CỔ CÒ: Gà cố dài nhòng thẳng tắp hoặc quá cong sau ót và trước ngực.

CỔ KÊN KÊN: Là cổ ngắn, tròn, cong trên ót, trước ngực, cổ không lồi ra, cổ to và liền. Lấy tay đẩy cổ gà qua lại, lên xuống, trong khi tay kia giữ thân gà, cốt xem cần có cứng không, yếu là dở.

–    Cổ ngắn là đúng cách nên dung.

–    Cổ tròn và dài là gà đi trên, đánh từ cần cổ địch thủ trở lên.

–    Cổ dẹp và ngắn là gà chạy dưới, đá chuyên hầu, vai, đùi, ngực.

Cổ gà vừa đòn vừa cựa thường to mà đẹp, như vậy vẫn có khi dung được.

Cổ gà nếu thấy một vảy đóng sau tai, tựa như vảy dưới chân, có khi lông cổ che mất, xem rõ mới biết, rất tốt, gà này được mệnh danh là “linh kê”, quý lắm.

–    Cần cổ tròn và liền: hay tạt xuống hay quăng, đá trên

–    Cần cổ dẹp và ngắn: hay đá dưới đá lòn

–    Cần cổ dẹp và dài hoặc tròn mà lỏng rời, cổ xấu.

MẮT GÀ

Mắt gà: giác quan bất lộ. Con mắt là nơi biểu lộ tính khí của con gà nhiều nhất. Nó gan lì, hung hăng và tài ba là dường nào, cũng đều nhận thấy từ nơi con mắt. Tiền khởi nhìn con mắt phải sâu, đừng sâu hoắm khiến con gà chậm chạp. Mắt bằng ngang, không sâu chẳng lồi, gà ấy có bản tánh hiền lành, nhát đòn. Nếu mắt lồi, không tốt, dễ đuối, nhát. Mắt gà tốt thường có viền đen chung quanh mí, tròn và con ngươi phải tròn như hạt trai, con ngươi đen, thật tròn, nhỏ mới linh động, thế mới đúng câu “giác tâm nhị tiểu” của Lê Văn Duyệt. Trong mắt có nhiều màu sắc khác nhau.

1/ NHỮNG MÀU MẮT NÊN CHƠI.

–    Trắng dã: tính khí lỳ lợm, gan dạ, đòn độc.

–    Trắng ngà: cũng tốt nhưng kém hơn màu trắng dã.

–    Bạc: lanh lẹ, linh động.

–    Vàng thau: hung hăng, dữ tợn, lỳ lợm.

–    Vàng đất đốm đen: gọi là mắt rắn hổ, nếu mí mắt bằng ngang, gọi chung là “mắt ếch” (mí mắt không cong theo vòng tròn của mắt).

–    Mắt ếch: màu nâu có đốm đen hoặc nâu huyền, gà lỳ lợm.

–    Mắt sao: tựa như mắt bạc và xám.

–    Mắt hạt cau: mắt trắng, hoặc đỏ hay xám hoặc vàng, có tủa ra chỉ hồng, dữ dằn.

–    Mắt lửa: mắt màu đỏ tía như lửa, gan dạ, hung hăng.

–    Mắt xanh: có màu xanh nhạt, nhìn xa tựa như mắt trắng, gà có tài.

2/ NHỮNG MÀU MẮT CHẲNG NÊN CHƠI

–    Mắt đen thui: còn gọi là “mắt cá lóc”, nhát, dễ chạy bậy.

–    Mắt đỏ nhạt: nếu hơi lồi thì gọi là “mắt ốc cao”.

–    Mắt vàng: yếu.

–    Mắt xám: thường.

+ Nếu là loại nhạn, chuối, ô bông, bông nhạn, bướm, xám gạch, ngũ sắc, xám tro, mà có những màu mắt kể trên thì khôn, xứng tướng.

+ Nếu mà có đôi chân trắng (những màu mắt kể trên) sẽ không tốt. Ngoại trừ mắt hạt cau dung được. Nếu là loại: điều, ó, ô, xám, khét, ngũ sắc, ô điều, và có những màu sắc trên chơi mới quý.

–    Cặp mắt trắng, đôi chân trắng, cái mỏ trắng, nếu là: ô, ô điều, điều xám, đều là gà tốt.

–    Gà có chân xanh mắt bạc, vàng thau, tốt.

–    Gà ô chân xanh hoặc đen, nên có những mắt trắng hoặc những màu nên chơi. ( chung quy chỉ nên dung những màu mắt kể trên). Nếu gà có mỗi mắt một màu khác nhau, gà này tuy khá nhưng không nên chơi, vì nó kém bền, không đúng cách, thuận một bên, dễ mù. Còn gà có hai màu, nhợt nhạt ở một bên mắt, gà ấy yếu, bở sức, đòn thường. Loại gà “đổi màu” theo cảnh vật xung quanh, gà này có tài, nhưng nhát gan (lúc màu này lúc màu nọ).

–    Độc long là gà từ trứng sinh ra chỉ có một mắt (quí tướng) thuộc loại gà hay.

–    Bổ túc cho mắt, mí mắt phải mỏng, để mở ra khép lại dễ dàng, dễ cảm kích hơn.

ĐẦU GÀ

1) GÒ MÁ: Gò má của gà cần phải cao mới quý, và cũng để bảo vệ đôi mắt khỏi nguy hiểm, nếu cao mà rộng càng quý hơn.

2) LỖ TAI: Phải được nhiều lông nhỏ, cứng che kín, để bảo vệ khi giao chiến, có thể đất cát lọt vào, gây trở ngại cho óc, làm gà mất nhanh nhẹn.

3) LỖ MŨI: Lỗ mũi nên mở rộng, để gà không nghẹt thở lắm.

4) GÒ TRÊN MẮT: Phía trên mắt gà nòi thường thường nhô lên một cái gò, khiến ta thấy con mắt sâu xuống gò này có nhiều hình, có con gò cao, con lại gò thấp, thường gò cao tốt hơn, nhưng đừng quá cao để che mất mắt khi đứng trên nhìn xuống, chỉ them chậm chạp.

Những gò này được tính từ lỗ tai chạy dài ra gần phía mũi.

Gò nổi: nổi lên sát phía mỏ, con mắt hơi lui về phía sau tai, thì bộ mặt gà dữ hiện ra ngay.

Gò lép: gà thường đánh trên, nhưng kém gan dạ.

Gò lồi: gà đánh trên, đánh dưới tùy con, nhưng gan lỳ. Đầu gà phải nhỏ hơn cổ, ít ra cũng bằng cổ, đừng lớn hơn sinh ra chậm chạp, nặng nề, trên đỉnh đầu chia ra làm hai, ấy là sọ đôi thường yếu. Đầu gà bằng láng, tròn, thon xuôi như quả xoài là tốt. Đầu tròn xuôi xuống cổ, nhưng cách cổ bằng một khấc, lõm xuống rồi mới đến cổ, tiếp tục cong vòng xuống thân, loại đầu này thường trên đỉnh bằng trơn, tốt lắm, đích thị gà thế, lúc giao chiến gà này luôn luôn thủ giấu cái đầu của nó dưới bụng, dưới cánh địch thủ.

*Chú ý: gà nào thì sọ với cổ cũng cách nhau 1 rãnh ngang, nhưng tùy con, nhiều và ít mà thôi.

– Gà mặt có nhiều vết nhăn nheo, gọi là mặt “gốc tre”, tốt lắm, gà này rất bền sức và gan dạ.

– Mặt gà có những bớt đen, gọi là “mặt lọ”, gà này dữ.

– Con mắt nghiêng, ngửa lên trời, mắt hơi cao lên đỉnh đầu, gọi là “gà mặt cóc”, gan dạ, bền sức.

– Đứng trước mặt gà, nhìn xuống đầu, sẽ thấy đầu hình tam giác, tính từ trái qua phải, nếu đầu gà dẹp, gà ấy lẹ lắm, tránh né rất nhanh, trái lại, đầy, to là gà chậm.

– Trên đỉnh đầu, sọ được chia làm hai, gọi là “sọ đôi” như đã nói trên, gà tuy yếu nhưng “quăng” giỏi, có biệt tài đá “song phi”, không cần cắn cổ, gà này đá mở rộng.

– Đầu gà bề ngang rộng, gà ấy gan dạ, chậm chạp hay hứng đòn.

– Đầu gà hẹp (nhìn từ trên xuống), nhút nhát, chuyên môn so vảy trước khi đá, nếu thấy địch tài ba, là cuốn gói (độn khứ lai kê).

– Đầu vừa, không quá rộng và quá hẹp, mắt sâu, gà lỳ lợm, chịu đựng giỏi, ra đòn khéo, nhưng coi chừng mắt quá sâu thì chậm.

– Con mắt to, lớn cả ngoài khuôn loại ấy có biệt danh là “chí tứ bất thoái”, gà ấy sống chết coi thường, rất gan lỳ nên chơi.

MẶT GÀ

Mặt gà cũng có lắm hình dáng khác nhau tùy theo từng dòng, “dòng cựa” khác “dòng đòn” khác, “dòng chung đúc” và nhiều loại ” dòng bản xứ” khác nhau.

Thí dụ:

Mặt điền: vuông

Mặt tam giác: tam giác

Mặt nhật: chữ nhật

Mặt góc tre: nhăn nheo như gốc tre

Mặt cú: giống mặt con cú

Mặt lục: lục giác

Mặt khuyết: tam giác lõm

Mặt ó: giống mặt con ó.

Mặt tròn: tròn

Mặt nhọn: nhọn

Mặc cóc: giống mặt con cóc

Mặt lọ: có bớt đen như lọ

Mặt bán nguyệt: hình bán nguyệt

Mặt quạ: giống mặt con quạ

Khuôn mặt là khoảng chung quanh con mắt.

+ Gà có “mặt điền”: thường là gà đòn, gan góc, đòn đá hóc hiểm,  nếu con mắt thụt sâu, gan lỳ.

+ Gà có “mặt tam giác”: thường là gà cựa, cựa đâm liên tục, nhanh nhẹn lẹ làng, gà mặt tam giác thuộc dòng gà cựa danh tiếng.

+ Gà “mặt nhọn”: lẹ làng, nhưng nhát, bở. Gà mặt nhọn có thể được chung đúc từ gà “mặt tròn’ và “tam giác” mà ra.

+ Gà “mặt tròn”: gà lỳ và lanh lẹ, nhưng kém bền sức, bằng gà “mặt điền”.

+ Gà “mặt nhật”: có tướng đẹp trai, điêu luyện, nếu hay thì tuyệt hay, bằng không bình thường, nhưng không dở.

+ Gà “mặt cóc”: biệt danh là “chí tử bất khoái”, gan lắm, chết không chạy.

+ Gà mặt “gốc tre’: cũng gan dạ không kém, xem bộ mặt không thấy thư sinh, chỉ thấy lầm lỳ, sống chết bất cần.

+ Gà “mặt cú”: mang trong mình tính tình dữ tợn, thêm điêu ngoa.

+ Gà “mặt lọ”: cũng nên chơi, chẳng kém gì các gà khác.

+ Gà “mặt lục”: hay dở tùy con.

+ Gà mặt “bán nguyệt”: dữ tợn hơn mặt tròn. Còn nhiều loại mặt khác, chung quy cũng là do những loại mặt nói trên chung đúc ra, vẫn nên chơi tùy con, tùy tài. Gà đòn nên chơi mặt vuông, gà cựa mặt tam giác, gà pha đòn pha cựa mặt nhật là đúng.

+ Gà “mặt khuyết”: đòn hoặc cựa đều hay. Các loại mặt tốt thì gò má và gò mắt phải cao  mới hay.

+ Gà “mặt quạ”: trông dữ dằn, ham chiến đấu.

+ Gà “mặt ó”: lanh lợi dữ tợn và to gan, đa số gà mặt ó thuộc dòng giống tốt.

–    Khoảng cách ở mặt từ mí mắt đến lỗ mũi, rộng sâu là gà nhạy đòn, địch thủ dễ mất bình tĩnh với nó.

–    Khuôn mặt gà tròn, rộng chung quanh khuôn viên ra tới mũi bằng phẳng, gà ấy bình tĩnh điềm đạm, đánh một đòn đáng một đòn.

–    Gà “mắt lửa”: đỏ như lửa, có thể đổi màu tùy lúc, hoặc thêm đốm đen, xanh xanh, con ngươi cũng đen hoặc xanh, đúng gà ấy được mệnh danh là “cuồng kê”, gà quý lắm.

–    Gà tròng vàng sậm có điểm đen hoặc xanh, loại mắt thau cũng quý. Như đã nói qua, mắt trắng dã, đá nhanh đòn, né tránh gọn gang, ra đòn nguy hiểm, mắt long lanh sáng ngời, chớp có sao, là loại khôn ngoan ít có.

CỰA GÀ

Cựa gà được gắn liền gần thới tại đôi chân. Cựa giống một long xương, ruột có máu bọng, đầu nhọn. Cựa có khi to gần bằng ngón tay út, có khi nhỏ như đầu đũa, thường chỉ về phía sau, hơi cong hoặc thẳng tùy con. Cựa có nhiều loại:

1)    Cựa sáp: bên ngoài được bao bọc bởi một lớp men, dẻo như sáp, nếu lấy dao mà cạo, ta sẽ thấy ra những lớp như cạo đèn cầy, sau đó là đến lớp xương rồi mới đến máu.

2)    Cựa thép: thường màu đen, nếu cạo sẽ thấy cứng hơn nữa, dẻo.

3)    Cựa xương: màu trắng đục, nếu cạo sẽ thấy giòn cứng.

4)    Cựa vôi: lớp ngoài rất bở, tựa như vôi đóng, không gọt chuốt được.

5)    Cựa da: đụng mạnh vào cựa thấy lung lay, rung rinh (cựa giấp).

* Hình dáng của cựa:

–    Đôi cựa dài, hơi cong mũi được gọi là “song đao”.

–    Nếu mũi cựa hơi nghiêng về phía sau một chút, đứng cất chéo lên nhau, được gọi là “song đao nghiêng” (cựa độc).

–    Nếu cong ít hơn song đao gọi là “siêu đạo” (cựa độc).

–    Hai cựa ngay thẳng chỉ vào nhau gọi là “giao chỉ” (cựa khá).

–    Nếu thẳng, quay mũi ra phía khác, gọi là cựa “hứng gió” (dở).

–    Nếu ngay thẳng, và chỉ xuống đất được gọi là “chỉ địa” (thường).

–    Nếu cựa “chỉ địa” được vảy huyền tram đóng ngay cựa (đâm nhiều), còn gọi vảy ấy là “trung huyền” (huyền tram công tự)

–    Cựa cong ra phía sau nhiều như cặp sừng trâu gọi là “hom lọp” (xấu).

–    Trên cựa có một vảy to, dưới cựa có một vảy to, có đòn tài.

–    Trên và dưới cựa chính, có nổi lên hai cựa phụ thấp hơn, nếu hai cựa này rung rinh, thì tốt, gà quý, gọi là “cựa lục đinh”.

–    Gà cựa, cựa có chấm hình lưỡi liềm, hay lưỡi đao, nó ửng nổi trong cựa, cựa trắng thì ửng đen, cựa đen ửng trắng, nhìn qua ánh sáng mới thấy được, cựa này không kỵ gà nào, nếu có gà tài đâm là đâm chết, gọi là “uyên võ đệm giáp”.

–    Cựa có ba chấm mọc ra, nhọn như móng cọp, đâm rất độc, gà địch bị đâm chịu không nổi mà chạy, gọi là “cựa độc đinh”.

–    Cách từ cựa xuống thới, có bốn năm chấm tròn, trên to dưới nhỏ, chân cựa vuông, đáu tròn nhỏ, là cựa độc, gọi là “thượng áp hạ”.

–    Cựa nhỏ như đầu đũa, dài, gọi là “cựa kim”.

–    Cựa ngắn ngay sát với thới, xuôi một chiều như nhau, ngược với cựa”hứng gió” gọi là “cựa êm”, còn tùy xuôi nhiều hay ít, nếu xuôi ít và cất chéo lên nhau thì tốt, đồng thời phải cong vừa.

–    Nếu đóng sát thới cựa đâm nhiều.

–    Hai cựa một màu đen một màu trắng, hoặc phân nửa trắng phân nửa đen cho một cựa, có tên là “nhật nguyệt” (cựa dữ, tốt).

–    Tam cường: mỗi chân có ba cựa, một cựa dài và hai cựa ngắn hai bên, hai chân như nhau, gọi là “tam cường” gà này đá hiểm (hai cựa phụ gần như lộ nổi).

–    Cựa lục đinh: trên dưới cựa chính có kèm hai cựa phụ nhưng thấp hơn, nếu hai cựa phụ này rung rinh thì rất quý, gà quý mới có.

–    Đại đoản cao: cựa to bản và ngắn, tầy đầu, thường thấy ở cựa “lục đinh” (gà đòn), gà này ưa đá cần, đòn khá.

–    Cựa thắt lại ở gốc và nở ra ở phía ngoài, nó khấu vào chung quanh cựa, gà có cựa như thế nhất định đâm mắt địch thủ.

–    Cựa nhiều thép, chột nhỏ, tròn, cựa đóng sát thới, cần nhất là “vọng cựa” chiều cựa theo thới, khi xếp xuống phía dưới gọn hơi cong lên, nghiêng từ gốc đến ngọn cựa lối 10 hay 12 độ và dài tới 3 hoặc 4 phân là cựa đáng sợ nhất.

–    Cựa dóng cao, to chột gọi là cựa “củ cải”, xấu.

–    Cựa xốc lên gối gọi là “chỉ thiên” xấu.

–    Cựa “hứng gió” cựa gài của nó xoay ngang, quẹt ra phía sau và chúi đầu xuống là cựa xấu.

Nấm – Vi Khuẩn – Vi Rút Hại Lan – Nguyễn Ngọc Hà – Dân Chơi Lan / 2023

THUỐC PHÒNG VÀ TRỊ CỤ THỂ TỪNG BỆNH

CÁCH XỬ LÝ CỤ THỂ KHI LAN BỊ BỆNH

Bài viết này sẽ giúp bạn tiết kiệm vô số tiền học phí, giúp ngành lan Việt Nam tiết kiệm mỗi năm nhiều tỷ đồng, giúp nhiều giống lan được bảo tồn và nuôi dưỡng niềm đam mê dài lâu cho các bạn.

Đây là sự tổng kết kinh nghiệm và nền tảng kiến thức của cá nhân tôi, cộng với các nghiên cứu khoa học của các giáo sư tiến sĩ, các nhà sinh vật học, các viện nghiên cứu trên thế giới.

Còn nhiều web của Việt Nam chúng ta thực sự không đáng tin cậy chút nào. Nội dung 1 đằng, hình 1 nẻo chẳng ăn nhập thì tôi không nói làm gì. Đằng này lan bị khuẩn mà khuyên dùng thuốc CHỈ DIỆT ĐƯỢC NẤM thì tôi chẳng hiểu nổi. Vì vậy đọc bài này, xin đừng so sánh vì CHÚNG TA KHÔNG THUỘC VỀ NHAU…

PHẦN I: BỆNH DO NẤM

1. THỐI ĐEN – Black Rot – (Nấm Pythium và Phytophthora). Hay còn gọi là bệnh CHẾT NHANH.

Bệnh xảy ra trên tất cả các giống lan, nhưng thường gặp hơn cả là trên các giống lan ĐA THÂN có giả hành như Dendrobium, Vũ Nữ, Cattleya, Địa Lan…

Nấm Phytophthora và Pythium là nấm thủy sinh, nên khi độ ẩm không khí cao, độ ẩm giá thể cao vào mùa mưa hoặc tưới đọng nước qua đêm, nấm sẽ sinh sôi nảy nở và xâm nhập hại cây lan nhà bạn.

Chúng xâm nhập qua vết xước, vết côn trùng chích hút, cọ sát hoặc lay gâp dập các mô biểu bì….

Thường thì do độ ẩm giá thể quá cao như mưa dầm hoặc giá thể bị mục, giò lan hơn 3 năm không thay giá thể, rễ sống trùm lên rễ chết… nấm sinh sôi dưới gốc, chúng xâm nhập vào cây lan từ rễ, cổ rễ, gốc gây ra thối dưới gốc, sau đó từ từ lan lên trên gay tóp giả hành. Giả hành từ từ chuyển qua màu vàng như bị luộc chín sau đó màu như rơm ngâm nước, rồi từ từ khô tóp lại, gục ngọn và chuyển sang màu đen. Chính vì thế mới gọi là thối đen.

Hoặc có 1 số giống lan gần như khi bị thối đã màu đen và vết đen lan ra xung quanh dần dần.

Sau một vài ngày khi bạn phát hiện gốc bị thối ủng và lan dần lên trên thì lúc này đã muộn, không còn cách nào cứu được nữa. Bạn chỉ có thể vớt vát một chút ít phần giả hành phía ngọn nếu chỗ đó chưa bị thối ủng để giành ươm kei.

Những giống lan thường bị tình trạng này là Giả Hạc (Phi Điệp), Kiều (Thủy Tiên), Dendro, Cattleya, Đùi Gà, Kèn, các giống lan có lông đen, Kim Điệp, Ngọc Thạch, Trúc Quan Âm….

Khi giò lan nhà bạn bị tình trạng này thì bạn nên nhổ lên trồng lại nếu thấy bệnh tình tiến triển cùng 1 lúc trên nhiều giả hành hoặc giò lan đã hơn 2 năm chưa thay giá thể. Nếu bị ít thì bạn nên tách triệt để phần giả hành bị bệnh đi và mang ra khỏi vườn ngay lập tức.

Nấm đã tấn công và bạn nhìn thấy bằng mắt thường thì phải làm vậy thôi, muốn cứu giả hành bệnh gần như không tưởng. Nếu bạn cứ cố nuôi hy vọng và chỉ phun thuốc chữa bệnh thì có khi lây lan chết cả giò.

Nguyên tắc chung đó là tách sát gốc giữa giả hành bệnh và giả hành không bệnh (dùng kéo mỏng sắc và mũi thật nhọn hoặc dao dọc giấy để tách), sau đó phun thật đẫm, thậm chí là ngâm cả giò lan vào dung dịch thuốc diệt nấm. Sai lầm cơ bản của các bạn đó là lan bị bệnh từ gốc mà chỉ tập trung phun thuốc vào giả hành hoặc lá. Nguyên nhân nằm ở giá thể (chậu lan, khúc gỗ, miếng dớn…) và nằm ở bộ rễ, vì thế bạn phải xử lý triệt để nguyên nhân.

Sai lầm thứ 2 là khi bạn thấy cây lan lá nhăn nheo, giả hành tóp lại mà không chịu quan sát gốc và rễ xem nó có thối không, cứ nghĩ là lan thiếu độ ẩm rồi cố gắng tưới cho thật nhiệt tình. Đến khi từ giả hành non lây sang tới giả hành mẹ, rồi từ từ lây qua giả hành bà. Cho tới khi cả giò lan gục hoàn toàn, chỉ có thể vứt bỏ toàn bộ.

Sai lầm thứ 3 là tưới nước với vòi phun áp suất cao, vừa làm xước lan, mở cửa cho nấm và vi khuẩn xâm nhập, vừa tạo điều kiện cho nấm theo hạt nước bắn sang giò khác làm lây cả giàn lan.

Nếu nấm xâm nhập vào chỗ nào đó giữa giả hành lan, thì lan nhà bạn bị gục ở giữa giả hành, gốc không bị gì cả, ngọn không bị gì cả. Lúc này bạn đi hỏi các thầy, thầy thì phán nó bị ăn nắng chiều rồi gục, thầy nói nó nóng quá gục, thầy kia nói nó bị vi khuẩn thối nhũn, thầy nọ nói nó bị gió quật gục…. Bao nhiêu thầy sẽ có bấy nhiêu ma. Nếu bị nóng tự gục thì màu sắc chỗ gục sẽ nhạt và trong hơn so với bị nấm.

Nếu nấm xâm nhập vào ngọn thì sẽ sinh ra thối ngọn, thối lá non. Vết thối màu vàng nâu, vàng ủng như bị luộc, viền giữa vùng bệnh và không bệnh không xác định rõ ràng. Bạn có thể rút ngọn hoặc vặt lá dễ dàng khi nấm lan tới giả hành. Sau 1 thời gian, chỗ bị bệnh sẽ chuyển sang màu đen.

Đặc điểm nhận dạng để không bị nhầm lẫn giữa thối đen và thối nhũn là:

VIỆC ĐẦU TIÊN CẦN LÀM LÀ CÁCH LY VÀ NGỪNG TƯỚI, DỪNG BÓN PHÂN CÓ NHIỀU ĐẠM.

Nếu chỉ bị trên thân hoặc trên ngọn hoặc lá thì cách xử lý rất dễ, bạn chỉ cần lấy dao thật mỏng, sắc (dao dọc giấy, dao bổ cau, dao lam, dao mổ…) cắt 1 viết XÉO (đừng cắt vuông góc dễ đọng nước) CÁCH CHỖ BỆNH 3cm (3 xen ti mét), sau đó bôi thuốc diệt nấm sền sệt hoặc vôi sệt vào.

Trong quá trình điều trị bệnh bạn nên bỏ hết phân tan chậm ra hoặc là tuyệt đối không phun phân có đạm (Vì đạm làm màng tế bào và tế bào biểu bì rất mỏng, dễ bị tổn thương theo kiểu nhà giàu đi chân đất giẵm phải gai mùng tơi cũng thấy đau ^-^). Bên cạnh đó nên ngừng tưới hoặc che mưa vài ba ngày.

Thuốc gì để điều trị bệnh thối đen?

Tôi pha 50 gam cho 1 bình 16 lít phun tấn công khi thấy dấu hiệu bệnh trong vườn. Và 33 gam cho 1 bình 16 lít khi phun phòng bệnh.

– THỨ HAI là Antracol 70WP. Hoạt chất Propineb (là một dithiocarbamate kẽm chứa polyme).

– THỨ 3 là Ridomilgold 68WG (Metalaxyl M 40g/L + Mancozeb 640g/L) Để tiêu diệt 2 loại nấm này thì có Metalaxyl đặc trị. Có nhiều bạn dùng Ridomilgold và nói rằng thuốc này yếu! Hoạt chất Metalaxyl M thì không nói yếu hay mạnh, chỉ nói là ĐẶC TRỊ. Tuy nhiên với 40g/L tương đương 4% thì đúng là GÃI NGỨA. Có CHẤT mà không đủ LƯỢNG thì ăn nhằm gì! Vì vậy, bạn nên mua thuốc có hoạt chất Metalaxyl M với trên 95% như MATAXYL thì hiệu quả sẽ trên cả tuyệt vời.

Lưu ý nhỏ đó là hoạt chất này dùng liên tục sẽ bị LỜN (KHÁNG THUỐC) với dịch bệnh. Vì vậy nên đổi thuốc sau 2-3 lần dùng.

* Ba loại thuốc trên bạn hoàn toàn có thể pha ra chậu sau đó ngâm cả giò lan vào chậu 5- 15 phút mà không sợ lan chết. Như thế mới chắc chắn là Nấm sẽ chết triệt để. Nếu có phun phòng và chữa thì nên phun khắp giàn, cả nền đất và thậm chí cả trên cây cảnh, cây ăn trái và vườn nhà hàng xóm để tránh bớt mầm bệnh lây lan.

+ Ngoài ra, bài này tôi giới thiệu thêm với các bạn có con nhỏ, vợ bầu hoặc mẹ già, dùng 1 loại thuốc (gọi là phân thì chuẩn hơn) chuyên PHÒNG VÀ TRỊ 2 loại nấm trên, đó là AGRIFOS 400. – Agri-Fos 400 diệt bệnh bằng cơ chế kích kháng chủ động (không diệt trực tiếp bằng chất độc, mà kích kháng cây tiết ra chất đề kháng đặc biệt như Phytoalexin, PR-proteins… tấn công tiêu diệt mầm bệnh, tạo tín hiệu báo động cho các tế bào còn lại hình thành hệ thống đề kháng chủ động cho cây). Thuốc giúp sản xuất các chất Polysacharides làm dày vách tế bào, phá vỡ lớp ngụy trang của nấm bệnh giúp hệ thống đề kháng phát hiện và tiêu diệt. Hệ thống này còn có hiệu lực phòng bệnh kéo dài đến 60 ngày và giúp cây chống lại một số tác nhân gậy hại khác. – Agri-Fos 400 trực tiếp ngăn chặn sự hình thành bào tử của nấm Phytophthora, Pythium, vi khuẩn Erwinia, Veturia… khoanh vùng nhiễm bệnh không cho vết loét lây lan, làm lành vết bệnh do tạo ra Ethylen và enzym lytase phân hủy tế bào chết. – Agri-Fos 400 gồm 400 g/l momo-potassium phosphonate và di-potassium phosphonate được tổng hợp từ acid phosphorous và phụ gia tạo thành dạng Phosphite PO3 có tác dụng trị bệnh, rất linh động nên dể dàng được hấp thu khi phun qua lá, rễ, tiêm thân, ngâm hom, nhúng cây con, quét vào vết thương…, lưu dẫn mạnh hai chiều trong xylem và phloem đến các bộ phân trong cây, hoàn toàn không độc hại, an toàn cho người, không gây hại vi sinh vật có lợi, không có thời gian cách ly sau thu hoạch. – Agri-Fos 400 không bị kháng thuốc, giúp cây mạnh khỏe, phục hồi bền vững, tăng năng suất, chất lượng mẫu mã… – Phosphite trong Agri-Fos 400 khác biệt hoàn toàn với phân bón phosphat vì Phosphite có công thức phân tử là PO3 còn phân bón phosphat có công thức phân tử là PO4. Phân phosphate PO4 không linh động và không có tác dụng trị bệnh.

Tóm lại là thuốc này an toàn, hôm trước phun, hôm sau hái rau ăn vô tư. Do là không trực tiếp, NÊN DÙNG AGRIFOS PHUN ĐỊNH KỲ PHÒNG BỆNH. Khi bị bệnh thì nên dùng 1 trong 3 loại trên.

2. THÁN THƯ – Anthracnose

Nguyên nhân gây bệnh thán thư do nhiều loài nấm thuộc loại Colletotrichum gây ra, trong đó hại phổ biến là 2 loài Colletotrichum nigrum Ell et Hals và Colletotrichum capsici (Syd) Butler and Bisby.

Nấm thường xâm nhập vào phần trên của cây lan, đặc biệt là lá. Đầu đỉnh lá hoặc mép lá sẽ có màu nâu và từ từ lan vào cuống lá. Có thể có sự phân cách rõ ràng giữa vùng bệnh và không bệnh đối với các giống lan lá mỏng, tuy nhiên đa số các giống lan lá dày thì đường phân cách rất mờ ảo không rõ ràng.

Lúc đầu dịch từ tiếng Anh qua, họ ghi rằng bắt đầu từ chóp lá ăn lan vào cuống lá thành những vành đai, đôi khi như những vòng tròn đồng tâm. Tưởng tượng về vòng tròn đồng tâm là lấy compa cắm vào giữa lá, quay 1 vòng nhỏ, sau đó lại quay 1 vòng rộng hơn, rồi lại 1 vòng nữa rộng hơn.

Bệnh này làm lá khô từ từ, khô từ chóp lá vào tới cuống và rụng đi. Bệnh càng phát mạnh khi ánh sáng thấp, độ ẩm cao và cây lan thiếu chất, đặc biệt là Lân.

Phần bị bệnh thường là màu nâu hoặc đen và hơi lõm xuống so với chỗ không bị bệnh.

Nếu bệnh phát triển trên hoa, thì sẽ có những mụn nước chảy ra nước đen hoặc nâu dưới các cánh hoa, đặc biệt là cánh đài.

Phòng bệnh như nào thì bạn nên đọc lại bài 27 PHÒNG BỆNH CHO LAN.

Thuốc đặc trị bệnh THÁN THƯ thì nhiều, nhưng dễ mua nhất và an toàn nhất là hoạt chất Carbendazim có trong thuốc Carbenzim hoặc Vicarben.

Ngoài ra còn có các thuốc gốc ĐỒNG Cu (tuy nhiên bạn hạn chế dùng thì ổn hơn, vì tôi đã thử nghiệm thấy rằng phun Carbendazim lên hoa, hoa không sao và nụ vẫn tốt, nhưng phun Đồng Coc 85WP lên hoa và nụ thì hoa tàn nụ thối. Bộ rễ hơi rụt lại 1 chút xíu. Đó là tôi thử nghiệm trên Long Tu, Hải Yến, Hoàng Thảo Xoắn, Trúc Quan Âm, Sóc Lào.).

Thuốc Ridomilgold 68WG với hoạt chất Mancozeb cũng trừ được bệnh này. Hoặc thuốc Score 250EC, Folpan 50SC, Topsin M cũng có tác dụng trị nấm gây bệnh thán thư.

3. ĐỐM LÁ

– Nấm Cercospora triệu chứng : Nhiễm lúc ban đầu như là một điểm màu vàng trên mặt dưới của lá. Ngay sau khi xảy ra bội nhiễm, các khu vực màu vàng-xanh có thể được ghi nhận trên bề mặt trên của lá. Các điểm này sẽ lan rộng ra xung quanh không có hình thù cố định, nó sẽ hơi chìm và hoại tử rồi chuyển sang màu nâu tím đến tím đen. Các điểm tiếp tục mở rộng tỏa ra xung quanh theo hình tròn hoặc một hướng nào đó và cuối cùng có thể bao phủ toàn bộ lá. Biên độ tiến vẫn còn màu vàng. Nhiều lá bị nhiễm bệnh thường rụng sớm, đặc biệt là nếu nhiễm nấm bắt đầu gần gốc của lá.

– Nấm Phyllosticta Triệu chứng: Đốm bệnh do nấm Phyllosticta có thể bắt đầu bất cứ nơi nào trên lá hoặc giả hành. Các tổn thương là rất nhỏ, màu vàng và hơi lõm. Khi nó phóng to, nó trở nên tròn hình bầu dục và bị lõm hơn, đặc biệt là nếu nhiễm trùng là trên lá. Sau thời gian, vết bệnh sẽ chuyển dần thành màu nâu sẫm hoặc đỏ đến lề tím đen. Cuối cùng, thành màu đen. Bệnh nặng lá bị nhiễm bệnh có thể rụng sớm. Sự hiện diện của bệnh có thể chỉ ra lan nhà bạn không đủ ánh sáng.

– Nấm Septoria Triệu chứng: Các đốm nhỏ có thể bắt đầu ở hai mặt lá như bị chìm, tổn thương màu vàng. Nó tiếp tục mở rộng, trở thành màu nâu sẫm đến tổn thương màu đen, hình tròn hoặc không đều. Đốm có thể sáp nhập để tạo thành lớn, các mảng vá bất thường trên lá. Nhiều lá bị nhiễm sẽ rụng sớm.

Phòng ngừa: Làm thông thoáng giàn để không khí chuyển động. Hạn chế nước đọng trên lá. Phun thuốc phòng bệnh hàng tháng. Treo căn hướng Đông Tây giúp lan nhận đủ ánh sáng và ánh nắng.

Thuốc đặc trị:

Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl) Hoặc thuốc Daconil 75WP hoặc Daconil 500SC (Hoạt chất Chlorothalonil). Nên pha chung với thuốc có hoạt chất Carbendazim để trị bệnh triệt để hơn và làm phổ phòng diệt bệnh rộng hơn.

4. BỆNH HÉO ÚA – HAY CÒN GỌI LÀ BỆNH CHẾT CHẬM

Nguyên nhân do nấm Fusarium oxysporum schlecht

Nấm nằm trong các MẠCH GỖ (Xylem vận chuyển nước và các chất vô cơ hòa tan trong đó từ rễ đi lên các lá) và MẠCH RÂY (Libe (phloem) vận chuyển các chất hữu cơ hòa tan đi khắp thân cây)) của cây lan. Chúng đi theo các dòng chảy dinh dưỡng và nước trong rễ, thân và lá cây lan.

Nấm này có thể lây vào một cây lan khác qua đường rễ, qua dụng cụ cắt tỉa rễ không vệ sinh vô trùng. Cây lan sẽ từ từ héo rũ, tàn úa, lá nhăn nheo teo tóp như bị thiếu nước.

Khi bạn xẻ dọc cây lan hoặc giả hành ra, sẽ thấy những đường như sợi chỉ hoặc các vệt MÀU TÍM hoặc HỒNG (giống như khi bạn ăn trúng cây mía có những vệt màu tím hồng khi bạn dóc vỏ ra).

Nếu bệnh nặng thì từ từ rễ lan cũng thành màu tím. Phần bên ngoài của than và giả hành khi được cắt ngang cũng sẽ thấy một vòng xuyến màu tím xung quanh lõi.

Lá sẽ có những vệt, những điểm lõm trũng xuống, dần dần sẽ tạo thành các vệt lõm trũng màu vàng. Lá già trở lên sần sùi như da người già và lá non thì chuyển dần sang màu đỏ (hoặc đỏ cam, đỏ hơi tía). Cây lan sẽ chết rất từ từ, sau khoảng 3-9 tuần thậm chí cả năm. Một cái chết RẤT CHẬM.

Những cây bị hư hết bộ mạch dẫn và bộ rễ thì chỉ còn cách vứt bỏ. Nấm này phát triển mạnh khi giá thể bị mục, quá ướt không có sự thoát nước hoặc nhiệt độ môi trường quá lạnh. Bên cạnh đó lý do quan trọng hay mắc phải đó là trồng trong chậu đất nung 3-5 năm không thay giá thể, không rửa muối đọng trong chậu. Bản thân cái chậu đã giữ một lượng muối làm hại bộ rễ, vì thế vài tháng bạn phải tưới rửa giá thể với thật nhiều nước hoặc ngâm cả chậu lan trong thùng nước thật lớn để làm tan bớt muối.

Thuốc đặc trị bệnh này thì giống y như bệnh ĐỐM LÁ.

Đó chính là Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl) Hoặc thuốc Daconil 75WP hoặc Daconil 500SC (Hoạt chất Chlorothalonil). Nên pha chung với thuốc có hoạt chất Carbendazim để trị bệnh triệt để hơn và làm phổ phòng diệt bệnh rộng hơn.

Nếu bạn chắc chắn lan bị bệnh thì phun không ăn thua gì đâu. Bạn phải hòa một chậu thuốc sau đó ngâm cả giò lan của bạn vào 5 – 10 phút mới được. Bạn nên nhớ nguyên tắc là bệnh bắt đầu từ đâu thì phải giải quyết từ chỗ đó.

Khi trồng lan, bạn nên ngâm toàn bộ giá thể vào dung dịch Physan 20 30 phút trở lên để diệt sên, kiến, gián, nấm hồng, nấm trắng, nấm xanh, nấm mốc vàng, vi khuẩn và vi rút. Mỗi lần cắt rễ lan nên pha 1 ly Physan 20 và nhúng kéo, dao vào để sát trùng rồi mới chuyển sang cắt cây khác.

5. NẤM THỐI RỄ

Tác nhân do nấm Rhizoctonia.

Nguyên nhân do môi trường của bộ rễ mất cân đối giữa độ ẩm, nhiệt độ, độ thông thoáng. Hệ thống thoát nước kém và các cây lan bị thừa nước. Nấm xâm nhập khi bộ rễ bị tổn thương cơ học hoặc do chậu tích muối khi mà lâu năm không thay giá thể.

Nấm Rhizoctonia gây bệnh dưới gốc và bộ rễ, nhưng bằng mắt thường bạn cũng có thể thấy những biểu hiện trên thân, lá, giả hành. Dó là sự héo đi của lá, teo tóp nhăn nheo của giả hành. Nếu chỉ là hư rễ mà chưa hư tới giả hành hoặc thân thì lá sẽ nhăn nheo héo rũ xuống, cây đứng ngọn lại không dài ra nữa…. Rồi từ từ cây cũng chết đi.

Phòng bệnh bằng cách thay giá thể khi thấy giá thể mục, đọng nước hoặc có 1 lớp rễ ngừng hoạt động. Tưới rửa muối trong chậu sau mỗi 2 tháng.

– Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl)

– Anvil 5SC (Hoạt chất Hexaconazole 50g/L)

– Rovral 50 WP, 500WG, 750WG (Hoạt chất Iprodione (min 96 %))

6. NẤM HẠT CẢI (HAY CÒN GỌI LÀ NẤM TRỨNG CÁ, NẤM MÙ TẠT)

Tác nhân do nấm Slerotium rolfsii

Nấm xâm nhiễm vào phần thân cây sát mặt giá thể hoặc phần gốc sát cổ rễ, vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu tươi hơi lõm, về sau vết bệnh lan rộng có thể dài tới vài centimet bao quanh thân, gốc, lan rộng xuống tận cổ rễ dưới mặt chất trồng.

Mô vết bệnh dần dần bị phân hủy, các lá dưới gốc héo vàng và rụng trước, sau đó lan lên các lá phía trên, cuối cùng dẫn tới các lá héo rũ, cây khô toàn thân. Khi cây mới nhiễm bệnh thì rễ cây vẫn bình thường, sau đó rễ dần dần hóa nâu rồi đen, thâm nâu và thối mục.

Trong điều kiện nhiệt độ tương đối cao, ẩm độ cao thì trên bề mặt vết bệnh sát mặt chất trồng sẽ xuất hiện lớp nấm màu trắng phát triển mạnh, sợi nấm mọc đâm tia lan dần ra mặt giá thể chung quanh gốc cây, tạo thành một đốm tản nấm màu trắng xốp, một vài ngày sau trên tản nấm đó sẽ hình thành nhiều hạch nấm. Khi còn non hạch có màu trắng sau chuyển dần sang màu nâu giống HẠT CẢI (có nơi gọi là NẤM TRỨNG CÁ hoặc ở nước ngoài người ta gọi là NẤM MÙ TẠT do có hình dạng giống như hạt mù tạt).

Bệnh xuất hiện có thể rải rác hoặc từng vạt trong giàn lan tùy theo điều kiện ngoại cảnh vườn lan và quá trình chăm sóc.

Cách phòng trừ và xử lý:

-Tránh để cây bị mưa trực tiếp, nhất là cây con. Bệnh nấm trứng cá phát triển mạnh trong mùa mưa nên chú ý quan sát kỹ vườn lan nếu phát hiện có bệnh trong vườn cần phải tiêu hủy triệt để cây bị bệnh và chất trồng, tốt nhất là đốt bỏ để tiêu hủy mầm bệnh vì các hạch nấm tồn tại rất lâu. Nếu trồng trong chậu phải bỏ cả chất trồng và rửa sạch chậu, khử trùng kỹ trước khi sử dụng lại.

Nếu trồng trong luống phải dọn sạch chỗ chất trồng xử lý bằng thuốc khử trùng. Các giống lan Vanda, Ascocenda và các cây lai của nó rất nhạy cảm với bệnh này. Hôm trước tôi còn thấy có bác đăng lên HỘI HOA LAN VIỆT NAM cây NGỌC ĐIỂM nhà bác ấy cũng bị bệnh này.

– Lưu ý thêm nấm trứng cá hay mọc trên các cây tre hay tầm vông thường dùng để làm giàn hay treo chậu lan. Đây là nguồn lây lan bệnh cho vườn lan nhưng thường không được chú ý tới, tránh dùng cây tầm vông làm giàn che hoặc treo vì khi bị ướt nấm rất dễ phát triển.

– Hạn chế tưới nước để bệnh không phát triển mạnh.

– Hạn chế dùng phân bón có nhiều đạm, nên sử dụng phân bón Multi-K (Siêu Kali) , MKP (0-52-34) bón cho cây.

– Sử dụng phối hợp 2 loại thuốc mới có tác dụng hạn chế bệnh. Có thể dùng:

Một số loại nấm đối kháng như : Trichoderm, Gliocladium… Topsin (Hoạt chất Thiophanate-Methyl) + Bendazol, Topsin (Hoạt chất Thiophanate-Methyl) + Zineb, Carbenzim + Cadillac (Chính là Mancozed), Hoạt chất Carbendazim + Hoạt chất Iprodione

7. ĐỐM BÔNG HOA

Tác nhân: Nấm Botrytis Cinerea

Triệu chứng là những đốm nhỏ riêng rẽ trên bông hoa, có màu nâu hoặc màu đen. Từ từ các đốm này sẽ mở rộng ra và có thể bao phủ toàn bộ bông hoa. Sau đó có thể xuất hiện những cả những nấm màu xám trên hoa khi điều kiện môi trường quá ẩm ướt.

Bệnh bùng phát mạnh mẽ khi nhiệt độ môi trường từ 18-23 độ C, nghĩa là vào mùa thu, đông và đầu xuân.

Cây bị nhiễm thường là do nguồn nước tưới bị nhiễm nấm. Nấm này hủy hoại nhiều loại cây trồng chứ không riêng gì Lan.

Bạn chỉ cần làm giàn thông thoáng và giảm độ ẩm xuống bệnh sẽ giảm, cách ly cây lan bệnh và cắt bỏ vòi hoa bị bệnh đi. Khi nhiệt độ ấm lên, bệnh sẽ thuyên giảm nhanh chóng.

Các loại thuốc để trị nấm Botrytis Cinerea gồm:

Topsin M (hoạt chất Thiophanate-Methyl) Hoặc thuốc Daconil 75WP hoặc Daconil 500SC (Hoạt chất Chlorothalonil). Hoạt chất Iprodion có trong các thuốc như: Andoral / Tilral super 500WP / Gold cat 505SC / Hạt vàng 50 WP, 250SC…

PHẦN II: BỆNH DO VI KHUẨN

1. THỐI MỀM (THỐI NHŨN)

Tác nhân: Vi khuẩn Erwinia

Triệu chứng: Các bọng nước, dịch khuẩn trên lá và có các quầng loang vàng xung quanh (QUẦNG LOANG VÀNG NHƯ KIỂU NHỎ 1 GỌT NƯỚC LÊN GIẤY VÀ NÓ NGẤM VÀO TỜ GIẤY RỒI LOANG RA XUNG QUANH. ĐÂY CHÍNH LÀ ĐIỂM ĐẶC BIỆT ĐỂ TA PHÂN BIỆT VỚI THỐI DO NẤM PHYTOPHTHORA VÀ PYTHIUM. Vết loang do nấm nhìn có vẻ rất KHÔ RÁO chứ không ướt như do vi khuẩn). Vết bệnh sẽ từ từ lan tới thân, rễ, giả hành. Thật là khó khăn để dùng từ ngữ giúp các bạn hiểu ý tôi muốn truyền đạt là cái gì. Thôi thì các bạn chịu khó bị bệnh vài chục giò lan và cay đắng soi xét để tự rút ra vậy!

Tóm lại là bị vi khuẩn thì quầng nhìn rất ướt át, còn nấm thì quầng có vẻ khô ráo.

Đặc điểm nhận dạng đặc trưng là có mùi THỐI, MÙI THỐI RẤT KHÍ CHỊU, NỒNG NẶC (chứ không như thối do nấm Phytophthora và Pythium).

Trên các chi lan khác nhau, bệnh sẽ có biểu hiện khác nhau 1 chút. Vì KHÔNG PHẢI trên giống lan nào Vi khuẩn Erwinia tấn công cũng sinh ra NHŨN – MỀM NHŨNG NHƯ BÁNH ĐA NGÂM NGƯỚC. Đa số các trang mạng của Việt Nam chỉ chú trọng vào chi Ngọc Điểm và chi Hồ Điệp khi bị vi khuẩn này tấn công sinh NHŨN nên mọi người gọi nó là THỐI NHŨN.

– Trên lan thuộc chi HỒ ĐIỆP bệnh phát triển rất nhanh chóng và lá có thể NÁT NHŨNG HOÀN TOÀN sau 2-3 ngày. Vi khuẩn xâm nhập qua các vết xước, vết rách, vết côn trùng cắn và chích hút, hoặc các KHÍ KHỔNG của lá.

– Trên chi lan Dendrobium xuất hiện các vết bọng nước vàng sau đó thành màu đen trũng xuống.

– Trên Vanda xuất hiện các mảng bệnh vàng nâu hơi mờ và từ từ đậm dần rồi chuyển sang màu đen. Khi bạn bóp lá ra, day day cho nát rồi ngửi sát mũi sẽ thấy mùi thối rất nồng đậm (tôi ăn quả đắng này nhiều rồi nên tôi rất chú trọng việc nhận biết bệnh này, kinh nghiệm thực tế chứng minh rằng đôi lúc đôi mắt không hiệu quả bằng 2 lỗ mũi).

– Trên chi lan Hoàng Hậu (Hoàng Hậu, Hoàng Xà – Thịnh Vượng) thì lá có điểm ngậm nước màu nâu, sau đó sẽ khô đi và chuyển sang màu đen lõm.

CHỮA BỆNH:

– Cách ly ngay cây bị bệnh ra khỏi giàn. – Cắt bỏ đoạn lá bệnh, cắt xa 2-3cm vết bệnh với dụng cụ vô trùng bằng Physan 20. Thật ra là không cần cắt cũng vẫn có thể chữa cho chỗ bệnh khô lại, tuy nhiên sẽ có 1 hoặc vài cái lỗ, vài cái sẹo nhìn cũng không ra gì. Bạn nào có đủ khả năng vá lại được chiếc lá bị thủng, lành lặn gần như ban đầu thì sẽ có khả năng làm rạng danh tổ quốc! – Giảm độ ẩm trong vườn, không tưới với vòi phun áp suất cao và không bón phân nhiều đạm. – Bôi vôi hoặc bôi thuốc diệt nấm như Ridomilgold pha sền sệt sau đó phun thuốc diệt khuẩn khắp vườn và ướt đều mặt lá, giá thể.

Các bạn nên lưu ý rằng tài liệu của nước ngoài họ rất đề cao Physan 20, tất cả các bệnh khuẩn họ đều khuyên dùng Physan 20. Tuy nhiên Physan bán tại Việt Nam thì chất lượng không thể mang để so sánh với Physan 20 của Mỹ được. 01 chai Physan 20 nửa lít của Mỹ là 352 ngàn còn hàng Việt Nam, trên bao bì cũng ghi là U Ét A (USA) mà có giá 146 ngàn nửa lít. Trong chai Physan 20 của Mỹ có khoảng 10 hợp chất, còn bao bì của ta có 1 hợp chất duy nhất nhưng nồng độ cao thôi. Tôi nói cái này để các bác đừng có ẢO TƯỞNG VỀ SỨC MẠNH.

Physan 20l của Việt Nam dùng được, nhưng đừng phét lác về sức mạnh quá như thế. Bạn muốn trị nấm trắng bám giá thể? Ok luôn. Bao bì hướng dẫn 1ml pha với 1 lít nước, bạn hãy pha 4ml với 1 lít nước. Ngâm cả giò lan, giá thể vào chậu thuốc 5-10 phút, đảm bảo nấm trắng, nấm hồng, nấm cam, nấm xanh chết tuốt. Còn bệnh thối mềm thì bạn phun Physan không ăn thua mấy đâu.

Một số loại thuốc giành phòng bệnh thối mềm cho lan như Agrifos 400, Nano Bạc, Physan 20, Starner 20WP, Poner 40TB, Kasumin 2L, New Kasuran…

THUỐC ĐẶC TRỊ THỐI MỀM – THỐI NHŨN:

– STARNER 20WP – Hoạt chất Oxolinic acid 20%

– KASUMIN 2L – Hoạt chất: Kasugamycin 2%

– PONER 40TB – Hoạt chất: Streptomycin sulfate 40%

2. THỐI NÂU

Tác nhân vi khuẩn Pseudomonas (Cụ thể là Acidovorax (syn. Pseudomonas))

Triệu chứng: Những điểm nhỏ ngậm nước có thể xuất hiện bất cứ khu vực nào của lá. Ban đầu là những đốm nhỏ màu xanh lá cây hơi nhạt hơn khu vực xung quanh, sau đó những đốm này mở rộng ra và hợp lại với nhau thành những chấm hoặc những khoang vùng bệnh màu nâu hoặc đen, những vết này khô đi và lõm hẳn xuống. Xung quanh có thể là VẦNG HÀO QUANG MÀU VÀNG hoặc VÀNG NHẠT hoặc XANH NHẠT tùy giống lan, vầng hào quang này có thể chỉ bao xung quanh đốm nâu (đen) nhưng có khi lan rộng ra cả chiếc lá (ĐÂY CHÍNH LÀ ĐẶC ĐIỂM NHẬN DẠNG ĐẶC TRƯNG CỦA BỆNH THỐI NÂU VI KHUẨN để phân biệt với bệnh đốm do nấm. Đốm do nấm thường không LÕM ĐEN VÀ CÓ VẦNG HÀO QUANG RÕ RÀNG).

Tuy nhiên mọi thứ chỉ là tương đối nếu giả sử lan nhà bạn bị cùng 1 lúc cả nấm và vi khuẩn tấn công thì chỉ có mang chiếc lá đi xét nghiệm mới biết chính xác được. Vì biểu hiện của bệnh thối nâu do vi khuẩn và đốm đen do nấm Cercospora khá giống nhau. Lúc này lại phải xét tới các yếu tố khác như độ lõm của vết đốm, màu sắc của quầng hào quang… Nói chung là rất phức tạp và ngay cả các chuyên gia cũng đôi khi còn nhầm lẫn. Vậy điều duy nhất bạn có thể làm là xịt cả thuốc trị nấm và vi khuẩn cùng 1 lúc (ví dụ trộn Topsin M với Kasumin).

Nó giống như việc bạn ăn bánh mỳ và uống nước mía, sau đó bị đau bụng. Thật sự là không thể biết do bánh mỳ hay nước mía hay cả hai nếu ta không xét nghiệm cái bánh và ly nước. Việc lúc này không phải là chờ kết quả xét nghiệm mà là cấp cứu kịp thời tống cả nước mía và bánh mỳ ra khỏi cơ thể.

Vi khuẩn gây bệnh thối nâu này nhiễm vào lan theo nhiều cách, có thể là từ miệng, chân của côn trùng, từ các vết xước, từ khí khổng của lá…. Ta cần tìm nguyên nhân sau đó sẽ đi giải quyết nguyên nhân và giải quyết vi khuẩn. Ví dụ khi lan bị nhện đỏ cắn, vi khuẩn sẽ xâm nhập vào lá sinh ra bệnh, bạn chỉ phun thuốc trị nấm và khuẩn Pseudomonas mà không hề chú ý tới nhện. Thì có ích gì đâu? Cứ cho là vết bệnh cũ khỏi thì sẽ lại có vết bệnh mới ngay thôi.

THUỐC CHỮA THỐI NÂU DO VI KHUẨN PSEUDOMONAS

– Physan 20 là 1 giải pháp người Mỹ thường dùng, tuy nhiên hàng Việt Nam thì hiệu quả hơi thấp. Dùng để phun hoặc ngâm phòng bệnh thì tốt. Nếu bạn không có thuốc gì khác ngoài Physan thì tốt nhất nên ngâm luôn cả giò lan trong thuốc 10 phút, phun không hiệu quả lắm.

– Hydrogen peroxide chính là ÔXY GIÀ sát trùng vết thương, ta có thể khều với 1 cây kim vết đốm, sau đó nhỏ trực tiếp Oxy già vào. Nếu vẫn chưa hiệu quả sau vài lần thì bạn có thể chuyển dùng sang các loại thuốc bên dưới.

Nói ngoài lề 1 chút, oxy già H2O2 với hàm lượng 3% dùng để súc miệng hoặc ngậm 10 phút làm trắng răng sát khuẩn miệng, sát trùng vết thương, tẩy vết máu trên vải, tẩy vết bẩn trên gạch men hoặc NHỎ TRỰC TIẾP VÀO NẤM TRẮNG, NẤM MỐC, NẤM HỒNG BÁM GIÁ THỂ nhằm tiêu diệt mấy vị khách không mời này. Ngoài ra nếu bạn bị HÔI NÁCH, dùng oxy già lau nhiều lần, hoặc giò lan cây cảnh èo uột bạn pha tỉ lệ 1/32 với nước rồi tưới cây. CHỐT, phụ nữ mà lông quá đen, đặc biệt là ria mép, lông tay chân lởm chởm có thể dùng nước oxygià để làm mất màu lông (https://www.baithuocquy.com).

Trong số các loại thuốc trị khuẩn thì loại nào cũng trị được vi khuẩn Pseudomonas, nhưng không phải loại nào cũng dùng tốt cho tất cả các loại lan. Ví dụ như Poner (Streptomycin) tốt nhưng nếu có lan Vanda thì sẽ làm cây chậm phát triển. Hay thuốc Kasuran hoặc New Kasuran rất tốt để diệt nấm và khuẩn, nhưng do thuốc có chứa hợp chất Đồng nên sẽ ảnh hưởng xấu tới rễ của các giống lan trong chi Hoàng Thảo (Dendrobium) nếu bạn xịt liên tục với hàm lượng hơi cao 1 chút.

CHỐT:

– KASUMIN 2L – Hoạt chất: Kasugamycin 2% (ƯU TIÊN LOẠI NÀY NHẤT, chính xác là ưu tiên hoạt chất Kasugamycin % càng cao càng tốt)

– STARNER 20WP – Hoạt chất Oxolinic acid 20%

Lưu ý: Cùng 1 loại nấm hoặc khuẩn nhưng khi chúng phát bệnh ra trên từng giống lan lại có kiểu hình khác nhau, điều này đòi hỏi bạn phải soi kỹ từng hình và trồng nhiều giống lan cộng với sự trải nghiệm nghề lan của tháng năm cuộc đời.

III. VI RÚT

Hẹn các bạn một ngày nào đó, bài THUỐC CHO LAN đạt như tôi mong muốn, tôi sẽ viết tiếp.

Bài này 18 trang A4 chắc cũng đủ để các bạn nghiên cứu dài dài. Bộ sưu tập hình ảnh trong bài có thể nói là khủng nhất các trang mạng xã hội hiện nay, tôi đã cố hết sức để làm thật rõ ràng và cụ thể nhằm phục vụ mong muốn của các bạn.

Tôi không mong muốn gì hơn đó là sự CHIA SẺ bài viết này trên trang cá nhân của các bạn. Mục đích của tôi rất đơn giản thôi đó là TRẢ NỢ CUỘC ĐỜI và NHỜ GIÓ CUỐN ĐI 1 TẤM LÒNG, thế thôi!

Tôi rất thất vọng khi có nhiều Web chạy đua theo số lượng bài, coppy linh tinh chồng chéo không chuẩn, nội dung 1 đường, hình 1 nẻo. Ngày mới chơi lan tôi bị lọt vào ma trận các bài viết và làm theo, cuối cùng ăn không ít quả đắng, tiền thì mất mà lan thì vẫn chết.

Còn vài bạn coppy bài của tôi mà không ghi nguồn tôi cũng rất thất vọng. Không phải tôi ích kỷ hay ham mê danh tiếng, vấn đề ở chỗ coppy không trọn vẹn, nội dung và hình ảnh phải đi cùng nhau, bạn chỉ coppy nội dung mà không hề có cái hình nào (vì tôi ghi tên tôi trên hình)… Chính bạn bè của những người coppy không ghi nguồn báo bằng tin nhắn riêng cho tôi, vậy có phải là bạn tự làm mất uy tín và hạ thấp danh dự nhân phẩm của mình không?

Tôi báo trước, nếu còn có bạn làm vậy, tôi sẽ giúp bạn bỏ nick facebook vì không chịu nổi dư luận. Nếu bạn cũng là chủ vườn lan, cũng muốn giúp khách hàng của bạn đọc bài tôi, nhưng lại sợ khi chia sẻ bài tôi trên trang của mình thì bị tôi giựt khách. Đơn giản là bạn chỉ cần copy lại y nguyên cả nội dung và hình ảnh, sau đó ghi dưới cùng tên tác giả Nguyễn Ngọc Hà là được.

Tôi sẽ giành trang face cá nhân này chỉ để CHIA SẺ về lan, không đăng bán buôn. Nếu cần bán, tôi sẽ đăng chỗ khác hoặc các bạn chủ động Inbox cho tôi! Và cũng mong các bạn hạn chế gắn thẻ lên tường face này, chỉ đơn giản là tôi đã khóa tường rồi!

Nội dung trong bài tham khảo tài liệu trên: www.aos.org https://staugorchidsociety.org https://nonghoc.com/ Susan Jones trợ lý biên tập của Tạp chí hoa Lan Mỹ, 16.700 AOS Lane, Delray Beach, Florida 33.446 Simone, Gary W., Giáo sư Tiến sĩ Harry C. Burnett, Giáo sư Tiến sĩ Schuster, James, Bruce Palsrud tại Đại học Illinois Appiah, AA, P. Jennings and JA Turner, 2004. Phytophthora ramorum Aryantha, INP and DI Guest, 2006. Ức chế Mycoparasitic và đối kháng trên Phytophthora cinnamomi J.I.Uchida and M.Agaraki Nguyễn Đức Tiến Addmin Hội Hoa Lan Việt Nam VOS Lê Hoàng Nam – Kỹ sư nông nghiệp, Addmin Hội Hoa Lan Việt Nam VOS …..

Vì một ngành lan Việt Nam hùng mạnh.

Nguyễn Ngọc Hà biên dịch và biên soạn.