Top 19 # Vuon Lan Dendro Nang O Cu Chi / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Inkndrinkmarkers.com

Đầu Tư Trồng 2 Hecta Lan Dendro Ở Củ Chi / 2023

Anh Chinh đã gắn với công việc kế toán gần 20 năm, nhưng niềm đam mê thật sự với anh vẫn là nông nghiệp.

Năm 2010, sau khi suy tính, anh quyết định nghỉ việc rồi cùng người em dốc vốn thành lập công ty kinh doanh cây kiểng tại quận 7, TP HCM. Một thời gian sau, nhận thấy mặt hàng hoa lan ở trong nước không đủ cung cấp cho nhu cầu của thị trường và phải nhập khá nhiều từ Thái Lan, nên anh Chinh bắt đầu nghiên cứu thị trường, tính toán kỹ rồi lập đề án trồng lan với tổng mức đầu tư lên đến 20 tỷ.

Năm 2013, sau khi hoàn thành pháp lý dự án, công ty triển khai đầu tư xây dựng và cuối năm 2014 đưa vào trồng hoa lan trên diện tích 2ha của giai đoạn một với vốn vay 5 tỷ đồng từ ngân hàng. Tự mày mò học hỏi, tham gia các lơp học để nắm vững lý thuyết cơ bản, anh Chinh còn đi tìm những người có kinh nghiệm để nghiên cứu thêm trong thực tế.

Nhận thấy nghề trồng lan của người Thái phát triển rất mạnh, đi trước Việt Nam cả trăm năm, anh Chinh sang tận nơi mua giống về trồng. Vì chưa từng có kinh nghiệm, anh yêu cầu phía cung cấp cử chuyên gia kỹ thuật qua tận vườn để chuyển giao công nghệ cũng như cách chăm sóc vườn cây. “Giữa lý thuyết và thực tế rất khác nhau, hơn nữa nghề trồng lan đòi hỏi kinh nghiệm vì thế tôi chấp nhận trả mức lương cao để thuê chuyên gia kỹ thuật về chăm sóc vườn trong 3 tháng đầu tiên và định kỳ mỗi tháng một lần để giám sát quá trình phát triển của cây con”, anh nói.

Với 2 hecta đầu tiên, anh dành ra gần 3 tỷ để mua cây giống, chủ yếu là giống lan Dendro (loại lan trồng trên giàn); số tiền còn lại dùng xây dựng cơ sở vật chất từ làm giàn, vỉ trồng đến hệ thống phu sương. Hiện nay vườn lan của anh có 250.000 cây với 20 loại khác nhau. Bắt đầu trồng từ tháng 12/2014, đến nay 80.000 cây lan đã cho thu hoạch.

Trồng lan cần nguồn kinh phí lớn, vì thế anh Chinh chọn phương pháp trồng gối đầu để nhanh thu hồi vốn. Từ cây con đến lúc thu hoạch tầm 6 tháng đến một năm. Một tháng, vườn lan của anh cho cắt từ 3 đến 4 đợt. Mỗi bông có giá 600 đồng, cành lan trung bình bán ra ở mức 10.000 đồng. Anh cho biết, sau hai đợt bông đầu là có thể thu hồi được vốn cây giống, còn hai đợt bông sau có thể trả chi phí cho việc đầu tư cơ sở vật chất, công nhân…

Chia sẻ về việc chọn giống lan Dendro để trồng, anh Chinh cho biết: “Ở Việt Nam ít người trồng loại lan này vì khó trồng hơn so với lan Mokara (loại lan trồng dưới đất). Mặc dù cây giống rẻ hơn lan Mokara (60.000 – 70.000 đồng một cây), nhưng tính luôn cây con và chi phí làm giàn trồng thì lan Dendro tiết kiệm chi phí hơn”.

Lan có nhiều loại, nhiều màu, nhưng anh Chinh chủ yếu trồng lan cho hoa màu tím và trắng, vì hai loại màu này rất được thị trường ưa chuộng. Ngoài ra, anh còn đầu tư trồng bằng chậu để bán vào những dịp lễ, Tết.

Khác với những loại lan trồng dưới đất hoặc trồng bằng than, vườn lan của anh Chinh chủ yếu trồng bằng sơ dừa và trồng trên giàn, nên phải đầu tư khá kỹ để xây dựng hệ thống vỉ đựng, chậu, bành. So sánh với việc trồng lan bằng than anh phân tích: “Tôi tận dụng sơ dừa từ miền Tây với mức kinh phí bỏ ra thấp hơn so với việc trồng bằng than. Tuy nhiên, sơ dừa giữ nước lâu, không thoát nhanh như than vì thế cần đặc biệt chú trọng cách tưới để đảm bảo lượng nước cần thiết cho cây”, anh Chinh nói và cho biết thêm lan khá nhạy cảm, nắng trực tiếp sẽ làm cháy lá. Có loại lan cần 40-50% hoặc 80% ánh sáng để trổ bông, vì thế cần phải chọn loại lưới phù hợp với từng loại cây. Đối với những loại sâu bệnh, anh Chinh chủ trương sử dụng thuốc sinh học để bảo vệ môi trường, tuy có đắt hơn nhưng sẽ hạn chế được những rủi ro vì lan rất nhạy cảm. Thuốc trừ sâu thông thường có thể trị tận gốc mầm bệnh nhưng làm lan mất sức và rất khó hồi phục.

Hiện nay vườn lan của anh có 6 công nhân và sẽ đầu tư giai đoạn 2 với 2,3ha còn lại vào quý IV/2015, trong đó có phòng cấy mô hiện đại nghiên cứu sản xuất cây con giống. Quy mô khi hoàn thành dự án là 500.000 cây hoa lan và hàng tháng đưa ra thị trường khoảng 100.000 cành. Với thị trường ổn định hiện nay, Công ty dự kiến khoảng 3 năm sẽ thu hồi vốn.

Lactofol O Bungari, Phân Bón Lá Lactofol O Cho Hoa Lan / 2023

Lactofol O Bungari, Phân bón lá Lactofol O cho hoa lan

Lactofol O tăng sức chống chịu các loại bệnh và các dạng thời tiết khắc nghiệt

Thúc đẩy quá trình phát triển rễ, thân, lá để cho năng suất vượt trội.

Sử dụng nhiều cách như tưới vào gốc, phun lên lá cây, ngâm hạt giống…

Phân bón lá Lactofol O Bungari Thành Phần Chủ Yếu

Thành phần:

Nitơ …21%

Nitrat…7%

Amoni…4%

Amide…10%

Oxit Kali…10%

Lân Peroxit…5%

Ngoài ra còn có các chất dinh dưỡng, vi lượng, axitamin, vitamin, kháng sinh, các chất sinh học, chất bám dính…

Khối lượng tịnh 100gram.

Nhập khẩu và phân phối tại Công ty TNHH TH COM.

Phân bón lá Lactofol O Bungari Công Dụng Chủ Yếu

Tăng sức chống chịu sâu bệnh và các dạng thời tiết khắc nghiệt. Phát triển nhanh bộ rễ, sinh trưởng mạnh, thân củ to, lá dày, năng suất vượt trội.

Kích thích ra rễ cho cây ăn trái, cây công nghiệp, vườn ươm cây cảnh, hoa lan…

Tưới vào gốc để cây tăng cường phát triển bộ rễ, kích thích nảy rễ để nhánh cao.

Phun lên trên và dưới bề mặt lá cây làm tác dụng lớn lá, chống rụng hoa…

Thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi và tăng trưởng của cây trồng trong khi mới trồng hoặc bị ngập úng.

Cách Dùng Phân bón lá Lactofol O Bungari

Sử dụng cho việc phun lên trên mặt lá và trên chất trồng cây.

Phun cho lúa, dung lần 1 cho giai đoạn đẻ nhánh, lần 2 giai đoạn làm đòng, lần 3giai đoạn trổ bong.

Phun cho cà chua, lần 1trước khi ra hoa, lần 2 sau khi ra quả, lần 3 tiếp theo sau từ 10-15 ngày.

Phun cho cà pháo, cà tím, lần 1lúc cây ra hoa, tiếp theo phun đều sau 10-15 ngày.

Phun cho cải bắp, súp lơ, lần 1 khi cây bắt đầu tạo bắp, lần sau từ 10-15 ngày.

Phun cho hoa hồng, hoa cúc, khi hình thành lá, lần sau hình thành bong.

Phun cho hoa lan, phun đều tỉ lệ từ 7-15 ngày. Khi vào dịp thay đổi thời tiết thì nên pha tỉ lệ thuốc 3ml cho 1 lít nước. Dịp bình thường pha tỉ lệ 2ml cho 1 lít nước sạch.

Pha tỉ lệ 2-3 cho 1lít nước sạch phun khi cây mới nảy mầm ra đọt, khi cây ra hoa, đậu trái. Gíup cây phát triển nảy mầm mới, chống rụng hoa…

Chú ý: khi sử dụng cho các cây phun lên trên thân lá, sử dụng tưới vào gốc nên sử dụng lại sau 30 ngày để đảm bảo cây hấp thụ được tốt nhất. Có thể sử dụng cho tỉ lệ phân bón pha loãng hơn để cây đảm bảo phát triển đồng đều, tránh bị sốc.

Phân bón lá Lactofol O Bungari Dùng Hiệu Qủa

Phân bón lá, kích thích nảy mầm và ra rễ khi sử dụng đủ liều lượng sẽ thấy có sự phát triển đồng đều, tránh hiện trạng lạm dụng thuốc khiến cây ảnh hưởng.

Đọc kĩ hướng dẫn trước khi sử dụng, trước khi dùng.

Cẩn thận để xa tầm tay trẻ em, bảo quản thuốc nơi khô, mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

:: D O N A / 2023

KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC GIỐNG CÂY SẦU RIÊNG DONA

ĐẶC TÍNH CỦA GIỐNG SẦU RIÊNG DONA

Sầu riêng DONA có hương vị phù hợp với đa số người tiêu dùng nên có thị trường rộng nhất hiện nay, chủ yếu được xuất khẩu. Tỉ lệ ăn được lớn (lớn hơn 30%) nên giá cũng cao nhất. Mặt khác, năng suất của giống này rất cao, trung bình từ 30 – 40 tấn/ha. Đó là những yếu tố đem lại hiệu quả kinh tế thuộc hàng bậc nhất hiện nay.

Sầu riêng DONA thích hợp với khi hậu miền nam có 2 mùa mưa nắng rõ rệt.

Sầu riêng DONA không kén đất nên có khả năng phát triển rộng rãi thành vùng sản xuất lớn để thuận lợi cho chế biến, vận chuyển. Yêu cầu tầng canh tác thoát nước tốt trong mùa mưa và có nguồn nước tưới trong mùa khô.

PHƯƠNG PHÁP NHÂN GIỐNG VÔ TÍNH GIỐNG SẦU RIÊNG DONA 2 yếu tố quyết định cây giống phát huy tối đa hiệu quả kinh tế, đó là nguồn gen và phương pháp nhân giống.

Phương pháp ghép ngọn

Nguồn gen: là cây tác giả được đánh giá qua nhiều năm và tuyển chọn nhân giống thành cây đầu dòng. Cây đầu dòng được đánh dấu, công nhận bởi cơ quan chức năng và được chăm sóc đặc biệt, không sử dụng các loại phân và thuốc kích thích tăng trưởng để tránh hiện tượng thoái hóa giống.

Phương pháp ghép: cách ghép ngọn (ghép nêm) được nghiên cứu áp dụng để cây giống có sức sinh trưởng tốt nhất, cho quả sớm hơn, năng suất cao nhất và tuổi thọ dài nhất. Đây là phương pháp ưu việt hơn rất nhiều so với cách ghép cũ có gốc ghép già, tuổi thọ bị rút ngắn, sức sinh trưởng kém vì rễ bị khống chế trong một thời gian dài.

Cây giống sau khi ghép xong sẽ được nhổ ra khỏi giá thể để loại bỏ các gốc ghép bị dị tật, mất rễ cọc, rễ cọc mọc thành chùm… Cây hoàn chỉnh được cấy vào bầu đất và dưỡng trong vườn ươm. Tỉ lệ cây đạt chuẩn sau khi sàng lọc còn lại khoảng 30%.

Cây đạt chuẩn sẽ được xuất vườn đem trồng có các đặc điểm sau đây:

– Cây có sức sống tốt, từ 3 cặp lá trở lên, lá dày cứng, xanh bóng. Chiều cao của cây không phải là yếu tố quan trọng.

– Bộ rễ cây còn đang phát triển trong bầu, chưa bị quấn hoặc bó lại với nhau. Nếu bộ rễ bị quấn lại sẽ phải cắt bỏ phần rễ dư thừa, khi đó sẽ làm mất sức của cây khi trồng.

TRỒNG VÀ CHĂM SÓC CÂY CON Cần phải tạo điều kiện đất trồng đầy đủ dinh dưỡng, tơi xốp để cây con thích nghi khi đặt cây xuống trồng. Vì vậy, khâu làm đất là rất quan trọng.

1. Chuẩn bị hố trồng

Đất càng mềm thì hố trồng có kích thước càng nhỏ. Tuy nhiên, trung bình hố trồng có kích thước 60cm x 60cm x 60cm để lót phân hữu cơ và tạo độ tơi xốp.

Rải đều 0,1 – 0,2kg vôi trong hố trồng. Trộn đều hỗn hợp gồm: 5 – 10 kg phân hữu cơ hoặc phân chuồng ủ hoai mục + 0,2 kg phân lân + 10g Vibasu phòng ngừa mối. Cho tất cả xuống hố trồng rồi nén chặt. Cào đất xung quanh lấp lên tạo thành mô cao hơn mặt đất từ 10 – 20cm. Sau đó tưới đẫm nước cho hỗn hợp được phân hủy nhanh.

Hố trồng cần được chuẩn bị trước khi trồng ít nhất là 15 ngày.

2. Trồng cây

a. Xử lý cây giống: Trong trường hợp chưa kịp trồng cây thì nên để cây tập trung và dùng lưới che nắng 50% cho cây. Tưới cây mỗi ngày để giữ ẩm và có thể phun thuốc Agri-fos 400 phối trộn với Mancozeb nồng độ 0,5% để phòng ngừa bệnh thối thân lá từ vết thương trong quá trình vận chuyển.

b. Đào lỗ: sau ít nhất 15 ngày khi chuẩn bị hố trồng, cần đảm bảo rằng mô đất vẫn còn cao hơn so với mặt đất khoảng 10 cm. Đào một lỗ giữa mô đất có độ sâu 20 cm.

c. Thao tác trồng: dùng dao cắt bỏ phần đáy của bầu đất. Dùng kéo cắt đứt phần rễ thừa quấn quanh đáy (nếu có) . Đặt cây xuống lỗ cho ngay ngắn rồi cắt 1 đường dọc túi nilon. Từ từ tháo túi ra sao cho đất trong bầu không bị vỡ.

Dùng tay lấp và nén nhẹ đất đến 2/3 chiều cao của bầu thì rải đều 5 – 10g phân lân nung chảy hoặc Super lân xung quanh. Sau đó, lấp đất cho đầy lỗ rồi nén nhẹ sao cho đất vừa ngang mặt bầu. Làm bồn xung quanh để giữ nước tưới khi cần thiết.

d. Đỡ cây: cắm 1 cọc thẳng dọc theo thân chính rồi cột dây giữ cho cây thẳng đứng.

3. Chăm sóc cây con

a. Tưới nước: Nên thiết kế hệ thống tưới phun, mỗi cây con có 1 béc tưới. Nếu thấy đất khô thì phải tưới nước giữ ẩm cho cây.

b. Bón phân:

+) Phân hữu cơ: Mỗi năm vào đầu mùa mưa, bón phân hữu cơ đã ủ hoai mục. Lượng bón khoảng 5 kg/gốc cho cây 1 năm tuổi. Sau một năm thì bón tăng lên 5 – 10 kg.

+) Phân đa lượng: Sau khi trồng xong, bón 10g phân NPK 16-16-8-13S cho mỗi cây. Bón những lần tiếp theo khi cây chuẩn bị ra đọt non. Nếu đường kính tán cây tăng gấp 2 lần thì lượng bón cũng tăng gấp 2 lần.

+) Phân trung vi lượng: cây hấp thụ chủ yếu ở dạng lỏng. Dưới rễ, dùng trung lượng KPMGC + vi lượng KP-COMBI tưới vào bộ rễ mỗi khi cây chuẩn bị ra đọt non. Trên lá, dùng trung lượng KP-BOOSTER + vi lượng KP-COMBI phun lên lá kèm với thuốc trừ sâu mỗi khi cây ra đọt non.

c. Tỉa cành tạo tán: Chỉ để 1 thân chính phát triển. Khi cây đạt chiều cao 3 – 4 mét thì tiến hành tỉa bỏ các cành mọc sát đất để cây được thông thoáng. Có trường hợp cây phân bố cành không đều (thiếu 1 bên), khi cây cao được khoảng 1 mét thì bấm ngọn để cây nảy ra 1 thân khác thay thế, khi đó cành sẽ phân bố đều hơn.

PHÒNG TRỪ SÂU RẦY

Rày phấn

Nhiện đỏ

Ấu trùng bọ xòe

1. Rầy phấn:

Xuất hiện khi cây ra đọt non làm lá quăn cháy, khi lá già để lại nhiều đốm vàng dị dạng. Cần chủ động phun hoạt chất Imidacloprid hoặc Abamectin khi đọt non chuẩn bị nở.

2. Nhện đỏ – rầy lửa:

Xuất hiện trong mùa khô nóng gây bạc lá, rụng lá trưởng thành. Luân phiên phun các loại thuốc trừ nhện theo định kỳ mỗi tuần.

3. Sâu đục thân, cành:

xảy ra quanh năm. Cần thăm vườn thường xuyên, nếu thấy vỏ cây bị xì mủ có bã màu nâu đỏ thì nhanh chóng dùng dụng cụ đục bắt sâu bên trong. Định kỳ phun các loại thuốc diệt trứng vào vỏ cây để phòng ngừa.

PHÒNG TRỪ BỆNH HẠI

Bệnh nguy hiểm nhất là xì mủ thân, vàng lá, thối cổ rễ, thối rễ, thối quả. Nên thăm vườn vào lúc sáng sớm, trên thân, cành có những vết nhựa chảy ra làm ướt đốm nâu đen hoặc vỏ cây bị nứt, chảy mủ. Dùng thuốc AGRIFOS 400 (phosphonate) đặc trị nấm Phytophthora trên sầu riêng để phòng trị:

Héo rũ – Thối rễ

Xì mủ thân

Thối quả

1. Phòng bệnh:

Phun ướt đều vào lá, quả (nồng độ 0,5%) định kỳ mỗi tháng. Bổ sung định kỳ 60-75 ngày, dùng 1 trong 2 phương pháp sau:

a. Tưới vào cổ rễ: nồng độ 1% (2 lít/200 lít), tưới 1-20 lít dung dịch/cây tùy theo độ rộng của tán cây. Nếu cổ rễ nằm sâu trong đất thì dùng tia nước xoi đất xung quanh gốc hoặc dùng cần sục chuyên dụng để đưa thuốc vào.

b. Tiêm thân: áp dụng với cây có đường kính thân từ 15 cm trở lên:

Bước 1: Pha thuốc với nước sạch theo tỉ lệ 1 thuốc : 1 nước. Mỗi cm đường kính thân tiêm 2 ml dung dịch thuốc đã pha.

Bước 2 – Chọn vị trí tiêm thuốc: là vùng vỏ trên thân cây có ít cành nhánh ở bên trên theo chiều thẳng đứng.

Bước 3 – Khoan lỗ tiêm thuốc: dùng mũi khoan số 6,5 mm. Lỗ khoan có hướng xiên 45o vào dát (tránh chạm vào lõi cây), chếch lên khoảng 5o, sâu từ 3 – 4 cm.

Bước 4 – Khoan lỗ tiêm thuốc: gắn ống tiêm chuyên dụng gắn thật khít với lỗ khoan và kéo dây nén thuốc vào.

Lưu ý: không khoan vào vùng có vết bệnh, nơi có cành hoặc lỗ tiêm cũ.

Giữ đất ẩm trong suốt giai đoạn xử lý thuốc.

2. Trị bệnh trên thân cây:

Phun ướt đều tán lá (nồng độ 0,5%). Kết hợp với tưới vào cổ rễ (nồng độ 1%) hoặc tiêm thân 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 15 ngày.

3. Trị bệnh thối quả:

Phun kỹ vào quả, cuống quả (nồng độ 1%). Phun 2 lần liên tiếp cách nhau 3 – 5 ngày.

Khi đã phòng trị bệnh như quy trình thì cũng phòng và trị được các loại bệnh khác như nấm hồng, thán thư, tảo xanh, tảo đỏ (rỉ sắt)…

Cẩm Nang Phân Bón: Phân Chuồng / 2023

1. Khái niệm về phân chuồng

– Phân chuồng là hỗn hợp phân và nước giải do gia súc bài tiết ra (phân chuồng không độn) cùng với chất độn chuồng và thức ăn thừa của gia súc.

– Đây là loại phân hữu cơ khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới, mang đầy đủ tác dụng của phân hữu cơ, khác nhau về thành phần và tỉ lệ các chất dinh dưỡng có chứa trong phân.

– Sử dụng phân chuồng tốt còn là 1 biện pháp xử lý nguồn phế thải gây ôi nhiễm môi trường từ chăn nuôi rất hiệu quả. Vì trung bình lượng phân do gia súc thải ra trong suốt quá trình sinh trưởng thường gấp 20 lần trọng lượng của nó. Khối lượng các chất thải rất lớn này là nguồn gây ôi nhiễm môi trường rất lớn nếu không được xử lý tốt. Đồng thời phân chuồng sau khi được xử lý bón cho cây trồng lại tạo ra sản phẩm phục vụ cho con người.

2. Thành phần của phân chuồng

2.1. Thành phần

– Thành phần của phân chuồng không ổn định, phụ thuộc vào thành phần của các phần cấu thành, trong đó phần có ảnh hưởng lớn nhất là phân và nước giải do gia súc bài tiết ra.

– Thành phần các chất có trong phân gia súc (phân chuồng không độn) cũng không ổn định do phụ thuộc vào: Loại gia súc, tình trạng sức khỏe, tuổi gia súc, chế độ cho ăn, hình thức chăn nuôi.

Vậy: Thành phần chính của phân gồm khoảng 65 – 68% nước, 15 – 28% các hợp chất hữu cơ của thức ăn mà gia súc tiêu hóa chưa triệt để.

– Nước chiếm tỷ lệ lớn nhất trong phân gia súc. Trong nước phân của gia súc có đa dạng các chất hữu cơ dễ phân hủy: Ure, axit ureic, axit benzoic, các muối hòa tan: Axetat, cacbonat, oxalat, photphat, sulfat và 1 số chất kích thích sự phát triển của bộ rễ. Trong nước phân, nước giải gia súc thường có 0,2 – 0,25%N, 0,01%P2O5, 0,4 – 0,5%K2O.

– Phân gia súc luôn chứa nhiều các hợp chất hữu cơ như: Các hợp chất xenlulo, gluxit, hemixenlululo, linhin, chất béo, chất sáp, các hợp chất đạm hữu cơ, lân hữu cơ, lưu huỳnh hữu cơ, và nhiều chủng loại axit hữu cơ. Các chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cây này luôn khá đầy đủ về chủng loại nhưng có tỷ lệ rất thấp đối với mỗi yếu tố.

– Ngoài ra trong phân gia súc còn có rất nhiều chủng loại và số lượng các vi sinh vật, trong đó VSV phân giải xenlulo chiếm đa số và khá nhiều chủng VSV phản nitrat hóa.

– Các chất độn chuồng thường dùng là các chất có khả năng hút nước cao, thành phần dinh dưỡng thấp. VD: Rơm rạ, than bùn, lá xong tử diệp, mạt cưa.

– Trung bình trong phân chuồng (bao gồm đủ các phần cấu thành) có chứa 0,35%N, 0,22%P2O5, 0,6%K2O, 0,2 – 0,6%CaO, 0,05 – 0,45%MgO, 0,05%S. Ngoài ra, trong 1 tấn phân chuồng còn có trung bình: 2g Cu, 4g B, 30 – 50gMnO, 82 – 96g Zn.

2.2. Các yếu tố có thể ảnh hưởng tới thành phần và chất lượng của phân chuồng

– Gia súc: Mỗi loại gia súc có đặc điểm dinh dưỡng khác nhau nên thành phần phân do chúng bài tiết ra cũng khác nhau. Tình trạng sức khỏe, tuổi gia súc và cách nuôi dưỡng gia súc cũng ảnh hưởng đến thành phần, chất lượng phân. Trong số các loại phân gia súc thì phân trâu bò thường nghèo dinh dưỡng hơn cả.

– Chất độn chuồng: Có tác dụng làm tăng khối lượng và chất lượng của phân chuồng do khối lượng và khả năng hấp thụ của chất độn làm giảm việc mất đạm và các chất dinh dưỡng khác. Chất độn còn làm cho chuồng trại được vệ sinh hơn, tạo cho đống phân tơi xốp, ẩm để hoạt động phân giải của VSV được thuận lợi.

– Lượng chất độn chuồng càng nhiều, càng làm tăng khối lượng phân chuồng và giảm việc mất đạm, nhưng nếu quá nhiều lại làm cho phân trở nên khó phân giải. Lượng chất độn chuồng hợp lý cho mỗi đầu gia súc trong 1 ngày đêm đối với: lợn 1 – 2kg, bò: 4 – 5kg, trâu: 5 – 7 kg.

– Phương pháp chế biến, bảo quản phân: Phương pháp bảo quản chế biến cũng ảnh hưởng rõ đến thành phần, chất lượng của phân chuồng. Các phương pháp chế biến phân để nhanh có phân chuồng sử dụng thường dẫn đến mất nhiều chất hữu cơ và đạm hơn.

3. Tính chất của phân chuồng

Phân chuồng là loại phân hữu cơ điển hình, rất phổ biến, có đầy đủ tác dụng của phân hữu cơ (cải tạo tính chất đất, cũng cấp dinh dưỡng, tham gia vào vòng tuần hoàn tự nhiên và bảo vệ môi trường).

– Về mặt dinh dưỡng phân chuồng có các đặc điểm sau:

Là loại phân hỗn hợp, có chứa hầu hết các nguyên tố dinh dưỡng từ đa lượng đến trung lượng, vi lượng và cả các chất kích thích sinh trưởng. Trong ba nguyên tố dinh dưỡng đa lượng thì: Kali chiếm tỷ lệ cao nhất, và chủ yếu ở dạng dễ tiêu đối vói cây trồng, lân có hệ số sử dụng khá, đạm chủ yếu ở dạng hữu cơ nhưng cũng có một phần dễ tiêu mà cây trồng có thể sử dụng ngay (NH4+, NO3-). Do vậy, bón phân chuồng với liều lượng thích đáng sẽ cung cấp từ từ dinh dưỡng cho cây trồng, bón nhiều cũng không sợ gây ảnh hưởng xấu tới cây như trường hợp bón nhiều phân khoáng cho các cây trồng mẫn cảm với nồng độ muối cao.

– Tuy nhiên phân chuồng cũng có nhiều nhược điểm, cụ thể như sau:

+ Tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng (kể cả đa lượng) có trong phân chuồng đều ở mức thấp (<1%), hiệu quả chậm hơn nhiều so với phân hóa học. Do vậy để đáp ứng tốt yêu cầu dinh dưỡng của cây trồng, khi bón phân chuồng rất cần phải kết hợp bón với phân hóa học.

+ Sử dụng phân chuồng có chi phí vận chuyển, bảo quản và bón phân lớn so với phân hóa học.

– Phân chuồng là loại phân hữu cơ cần thiết phải bảo quản, chế biến do các lí do sau:

+ Phân thải ra không được bón ngay vì sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, chất lượng phân sẽ bị giảm đi nhiều nếu không được bảo quản tốt. Trong phân chuồng còn có thể có: Mầm mống bệnh, hạt cỏ dại cần được xử lý trước khi dùng.

– Trong quá trình chế biến phân chuồng, khối lượng phân và tỉ lệ chất hữu cơ giảm đi đáng kể so với ban đầu nhưng tỷ lệ N, P2O5, K2O tăng lên. Tùy theo mức độ phân giải của phân người ta phân biệt: phân chuồng tươi ít biến đổi, phân nửa hoai mục, phân hoai mục và mùn.

– Phân chuồng phản ánh khá trung thực thành phần hóa học của đất ở địa phương, do đất nghèo hay giàu chất dinh dưỡng nào đó thì trong phân chuồng cũng sẽ nghèo hay giàu chất dinh dưỡng đó.

– Nước giải gia súc, nước phân chuồng có thể coi là loại phân hỗn hợp NPK (có 0,2 – 0,25% N, 0,01% P2P5, 0,4 – 0,5% K2O) ở dạng hòa tan mà cây trồng có thể sử dụng ngay được, nhưng cũng rất dễ mất N dưới dạng NH3).

4. Kỹ thuật sử dụng phân chuồng

– Phân chuồng sau khi được ủ phải được ủ vận chuyển sớm ra ngoài đồng và vùi ngay vào trong đất để tránh mất đạm ở dạng dễ tiêu (35 – 40%).

– Nên dùng phân chuồng nửa hoai mục trong trồng trọt vừa có lợi về mặt cung cấp dinh dưỡng cho cây vừa có lợi về mặt cải tạo đất. Do loại phân này chứa nhiều đạm hơn và tác động đến việc hình thành kết cấu, cải tạo đất tốt hơn mùn.

– Chỉ dùng phân chuồng được ủ hoai mục hoàn toàn khi bón cho ruộng mạ, vườn ươm cây con, và các loại rau ngắn ngày.

– Không nên bón phân chuồng tươi, nhất là khi phân có độn nhiều rơm rạ vì quá trình phân giải rơm rạ trong đất làm hàm lượng đạm và lân dễ tiêu trong đất giảm đi dù là tạm thời cũng làm cho cây gặp khó khăn.

– Hiệu lực của phân chuồng kéo dài qua nhiều năm, do hệ số sử dụng các chất đinh dưỡng N, P, K của phân chuồng kéo dài qua nhiều năm.

– Về mặt cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng có thể coi bón phân chuồng trước hết nhằm đảm bảo cung cấp dinh dưỡng Kali vì so với N, P phân có hàm lượng kali thương cao hơn cả, mà hiệu lực của kali trong phân như kali trong phân hóa học.

– Hiệu lực của phân chuồng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của phân đem dùng, điều kiện khí hậu thời tiết và đất đai nơi bón phân, đặc tính sinh học của cây được bón phân.

– Nên phối hợp bón phân chuồng đồng thời với phân hóa học do tác động tương hỗ mà làm tăng hiệu lực chung của việc bón phân.

– Phân chuồng chỉ nên bón lót, bón xong cần được vùi ngay vào đất để tránh N. Bón phân chuồng ở vùng đất có thành phần cơ giới nhẹ, khí hậu khô cần vùi sâu hơn. Khi buộc phải bón thúc bằng phân chuồng thì phải dùng loại phân được ủ hoai mục hay nước phân.

– Phân chuồng có hàm lượng dinh dưỡng thấp lại hạn chế về N, phản ánh trung thực tính chất hóa học đất ở địa phương. Vì vậy trong thâm canh cây trồng không thể chỉ dựa vào phân chuồng, mà phải căn cứ vào năng suất kế hoạch để bổ sung thêm phân hóa học mới có thể đạt năng suất cây trồng cao, phẩm chất tốt. Cũng không thể chỉ dựa vào phân chuồng mà cải tạo hiệu quả tính chất hóa học đất và đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng vi lượng cho cây trồng.

Nguồn: Giáo trình phân bón