Top 11 # Vai Trò Của Phân Bón Sinh Học 11 / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Inkndrinkmarkers.com

Chế Phẩm Sinh Học Là Gì? Vai Trò Của Chế Phẩm Sinh Học / 2023

1. Chế phẩm sinh học là gì?

Chế Phẩm Sinh Học là những sản phẩm được điều chế ra từ sinh học với những mục đích khác nhau, ở Việt Nam Chế phẩm sinh học được sản xuất phục vụ cho nhu cầu nông nghiệp mà chúng ta có thể hay bắt gặp như: Phân sinh học, thuốc trừ sâu sinh học phục vụ cho cây trồng, đệm lót sinh học cho chăn nuôi… Ngoài ra còn rất nhiều chế phẩm sinh học khác mà bạn đọc có thể tìm hiểu thêm.

Khởi nguồn

Năm 1971 Sperti định nghĩa Probiotic mô tả chất chiết xuất từ các lớp biểu ​​mô có thể dùng để kích thích sự tăng trưởng của vi sinh vật.

Đến năm 1974 Parker đã sửa lại định nghĩa về Probiotic, là “sinh vật và các ‘ chất‘ của vi sinh vật , góp phần cân bằng lại vi khuẩn đường ruột”. Tuy nhiên, định nghĩa này sử dụng Probiotic nói đến vi sinh đường ruột nhưng lại bao gồm ‘ chất ‘ lại mang thêm một ý nghĩa rộng mà trong đó sẽ bao gồm cả thuốc kháng sinh.

Trong một nỗ lực để cải thiện các định nghĩa, đến năm 1989, Fuller đã định nghĩa lại probiotics như ‘Sự bổ sung thức ăn vi khuẩn sống trong đó có lợi ích ảnh hưởng đến vật chủ bằng cách cải thiện sự cân bằng với vi khuẩn đường ruột của nó’.

Định nghĩa được sửa đổi này nhấn mạnh sự cần thiết của Probiotic (Chế phẩm sinh học).

Chúng ta thường hay nghĩ rằng các vi khuẩn giống như cái gì đó có thể gây bệnh. Nhưng cơ thể của mỗi sinh vật đều có đầy đủ các vi khuẩn, cả tốt và xấu, có thể gây bệnh, có thể kháng bệnh. Probiotics được gọi là “tốt” hay vi khuẩn “hữu ích” bởi vì chúng giúp giữ cho đường ruột, hệ tiêu hóa của vật chủ được khỏe mạnh.

Theo một vài công trình nghiên cứu gần đây thì chế phẩm sinh học được hoạt động theo một số khía cạnh như sau:

Khi vật chủ bị mất đi các vi khuẩn “tốt”, chế phẩm sinh học có thể giúp vật chủ bổ sung, thay thế các vi khuẩn tốt của vật chủ trước đó.

Chế phẩm sinh học có thể làm giảm số lượng vi khuẩn “xấu” trong cơ thể của vật chủ.

Chế phẩm sinh học có thể giúp cân bằng các vi khuẩn “tốt” và vi khuẩn “xấu” giúp cho vật chủ được phát triển một cách ổn định nhất.

3. Các chủng loại chế phẩm sinh học:

Có khoảng hơn 50 loài lactobacillus, Chúng được tìm thấy trong hệ tiêu hóa, tiết niệu, và sinh dục… Các loại thực phẩm được lên men (như sữa chua) và thực phẩm bổ sung dinh dưỡng cũng chứa các vi khuẩn này. Lactobacillus đã được sử dụng để điều trị và ngăn ngừa nhiều loại bệnh về hệ tiêu hóa…

Một số vi khuẩn gây men tìm thấy trong các loại thực phẩm bổ sung là acidophilus Lactobacillus, acidophilus DDS L.-1, Lactobacillus bulgaricus, Lactobacillus rhamnosus GG, Lactobacillus plantarium, Lactobacillus reuteri, Lactobacillus salivarius, Lactobacillus casei, Lactobacillus johnsonii, Lactobacillus gasseri…

Có khoảng 30 loài bifidobacteria, chúng tạo nên hầu hết các vi khuẩn lành mạnh trong ruột, xuất hiện trong đường ruột, hệ tiêu hóa của vật chủ ở thời kỳ sinh trưởng. Một số các bifidobacteria được sử dụng như chế phẩm sinh học là bifidum Bifidobacterium, Bifidobacterium lactis, Bifidobacterium longum, Bifidobacterium breve, Bifidobacterium infantis, Bifidobacterium thermophilum, Bifidobacterium pseudolongum…

Ngoài ra còn một số loại vi khuẩn khác như Saccharomyces boulardii, Streptococcus thermophilus, Enterococcus faecium, Leuconostoc,…

– Tăng cường sức khoẻ và ngăn chặn mầm bệnh Trong một thời gian dài, các chất kháng sinh đã được sử dụng để ngăn chặn bệnh dịch trong nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên, việc sử dụng khánh sinh gây ra nhiều vấn đề như dư thừa chất khánh sinh trong các sản phấm thuỷ sản, tạo ra các cơ chế kháng khuẩn cũng như làm mất cân bằng các men tiêu hoá trong đường ruột, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của vật nuôi. Hơn nữa, nhu cầu của con người đối với các sản phẩm thuỷ sản sạch và an toàn trên thế giới ngày càng cao. Do vậy, việc sử dụng chế phẩm sinh học là một phương pháp hữu hiệu trong việc ngăn chặn mầm bệnh và kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản.

Chế phẩm sinh học có khả năng sản sinh ra các chất hoá học có tác dụng diệt các vi khuẩn gây bệnh bám trên thành ruột của vật chủ, do vậy có thể coi chế phẩm sinh học là một rào cản hữu hiệu ngăn chặn sự phát triển của mầm bệnh.

Ngoài ra, chế phấm sinh học hay các vi khuẩn có lợi còn có khả năng cạnh tranh vị trí bám vào thức ăn trong thành ruột với các vi sinh vật gây bệnh, không cho phép các vi sinh vật này bám vào cơ thể vật nuôi, nhờ vậy giúp ngăn ngừa dịch bệnh, đảm bảo sức khoẻ cho vật nuôi.

– Cải thiện hệ tiêu hoá Chế phẩm sinh học là nguồn dinh dưỡng và enzyme cho bộ máy tiêu hoá của các vật nuôi. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chế phấm sinh học có ảnh hưởng tích cực đến quá trình tiêu hoá của các vật nuôi bởi vì các dòng chế phẩm sinh học sản xuất ra các en-zim ngoại bào như: as protease, amilaza, lipaza,… và cung cấp các dưỡng chất phát triển cần thiết như vitamin, axit béo, axit amin… Trong chăn nuôi thủy sản, các vi khuẩn vi sinh như bacteroides và clostridium sp cung cấp dinh dưỡng cho cá, đặc biệt là cung cấp các axit béo và vitamin. Ngoài ra, một số vi khuẩn có thể tham gia vào quá trình tiêu hoá của động vật hai mảnh vỏ bằng cách sản xuất ra các enzyme ngoại bào như protease, amilaza, lipaza và cung cấp dưỡng chất phát triển cần thiết như vitamin, axit béo, axit amin.

Bạn đang tìm hiểu về chế phẩm sinh học? Bạn muốn thấy được hiệu quả thực tế của chế phẩm sinh học? – Đối với mỗi khách hàng, chúng tôi cần thời gian thực nghiệm chế phẩm sinh học từ 10 – 15 ngày.

Nguồn: As Koi tổng hợp

Vai Trò Của Phân Hóa Học Đối Với Cây Trồng / 2023

Vai trò của phân hóa học đối với cây trồng

1. Vai trò của phân hoá học đối với năng suất lúa ở Việt Nam và một số nước trên thế giới Cây trồng cũng như con gia súc, tôm, cá… muốn sinh trưởng tốt, khoẻ mạnh tăng trọng nhanh và cho năng suất cao cần phải được nuôi dưỡng trong điều kiện đầy đủ thức ăn, có đủ các chất bổ dưỡng theo thành phần và tỷ lệ phù hợp. Trẻ con tuy lúc mới sinh có cơ thể to, nặng cân nhưng nếu sữa mẹ kém chất, nuôi nấng thiếu khoa học thì cũng có thể trở nên còi cọc. Đối với cây trồng, nguồn dinh dưỡng đó chính là các chất khoáng có chứa trong đất, trong phân hoá học (còn gọi là phân khoáng) và các loại phân khác. Trong các loại phân thì phân hoá học có chứa nồng độ các chất khoáng cao hơn cả. Từ ngày có kỹ nghệ phân hoá học ra đời, năng suất cây trồng trên thế giới cũng như ở nước ta ngày càng được tăng lên rõ rệt. Ví dụ chỉ tính từ năm 1960 đến 1997, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới đã thay đổi theo tỷ lệ thuận với số lượng phân hoá học đã được sử dụng (NPK, trung, vi lượng ) bón cho lúa. Trong những thập kỷ cuối thế kỷ 20 (từ 1960-1997), diện tích trồng lúa toàn thế giới chỉ tăng có 23,6% nhưng năng suất lúa đã tăng 108% và sản lượng lúa tăng lên 164,4%, tương ứng với mức sử dụng phân hoá học tăng lên là 242%. Nhờ vậy đã góp phần vào việc ổn định lương thực trên thế giới. Ở nước ta, do chiến tranh kéo dài, công nghiệp sản xuất phân hoá học phát triển rất chậm và thiết bị còn rất lạc hậu. Chỉ đến sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, nông dân mới có điều kiện sử dụng phân hoá học bón cho cây trồng ngày một nhiều hơn. Ví dụ năm 1974/1976 bình quân lượng phân hoá học (NPK) bón cho 1 ha canh tác mới chỉ có 43,3 kg/ha. Năm 1993-1994 sau khi cánh cửa sản xuất nông nghiệp được mở rộng, lượng phân hoá học do nông dân sử dụng đã tăng lên đến 279 kg/ha canh tác. Số lượng phân hoá học bón vào đã trở thành nhân tố quyết định làm tăng năng suất và sản lượng cây trồng lên rất rõ, đặc biệt là cây lúa. Rõ ràng năng suất cây trồng phụ thuộc rất chặt chẽ với lượng phân hoá học bón vào. Tuy nhiên không phải cứ bón nhiều phân hoá học thì năng suất cây trồng cứ tăng lên mãi. Cây cối cũng như con người phải được nuôi đủ chất, đúng cách và cân bằng dinh dưỡng thì cây mới tốt, năng suất mới cao và ổn định được. Vì vậy phân chuyên dùng ra đời là để giúp người trồng cây sử dụng phân bón được tiện lợi hơn. 2. Tình hình sử dụng phân hoá học (phân khoáng) của một số nước trên thế giới và khu vực Đông Nam Á Từ lâu nông dân ta đã có câu “người đẹp nhờ lụa, lúa tốt nhờ phân”. Phân bón đã là một trong những nhân tố chính làm tăng năng suất cây trồng để nuôi sống nhân loại trên thế giới. Tuy nhiên, nhiều nước không có công nghệ sản xuất phân bón, nhưng ngoại tệ lại có hạn nên việc sử dụng phân khoáng ở các nước có sự chênh lệch khá lớn. Sự chênh lệch này không phải do tính chất đất đai khác nhau quyết định mà chủ yếu là do điều kiện tài chánh cũng như trình độ hiểu biết về khoa học dinh dưỡng cho cây trồng quyết định. Còn trong các nước phát triển mức độ sử dụng phân khoáng khác nhau là do họ sử dụng cây trồng khác nhau, điều kiện khí hậu khác nhau, cơ cấu cây trồng khác nhau và họ cũng sử dụng các chủng loại phân khác nhau để bón bổ sung. Các số liệu khảo sát cho thấy, bình quân các nước châu Á sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân thế giới. Tuy nhiên, Ấn Độ (nước có khí hậu nóng) lại dùng phân khoáng ít hơn bình quân toàn châu Á. Trong lúc đó Trung Quốc và Nhật lại sử dụng phân khoáng nhiều hơn bình quân toàn châu Á. Hà Lan là nước sử dụng phân khoáng nhiều nhất. Tuy nhiên lượng phân chủ yếu bón nhiều cho đồng cỏ, rau và hoa để thu sản lượng chất xanh cao. Việt Nam được coi là nước sử dụng nhiều phân khoáng trong số các nước ở Đông Nam Á, số liệu tham khảo năm 1999 như sau: – Việt Nam: bình quân 241,82 kg NPK/ha – Malaysia: bình quân 192,60 – Thái Lan: bình quân 95,83 – Philippin: bình quân 65,62 – Indonesia: bình quân 63,0 – Myanma: bình quân 14,93 – Lào: bình quân 4,50 – Campuchia: bình quân 1,49 Theo số liệu ghi nhận được ở trên cho thấy Campuchia, Lào và Myanma sử dụng phân khoáng ít nhất, đặc biệt là Campuchia. Có thể đó là thị trường xuất khẩu phân bón của Việt Nam khá thuận lợi, nếu Việt Nam góp phần nâng cao kiến thức sử dụng phân bón cho họ có kết quả. 3. Nhu cầu phân bón đối với cây trồng của Việt Nam đến năm 2010 Tính nhu cầu phân bón cho cây trồng là dựa trên cơ sở đặc điểm của đất đai, đặc điểm của cây trồng để tính số lượng phân cần cung cấp làm cho cây trồng có thể đạt được năng suất tối ưu (năng suất cao nhưng hiệu quả kinh tế cũng cao). Cho đến năm 2010, ước tính tổng diện tích gieo trồng ở nước ta vào khoảng 12.285.500 ha, trong đó cây có thời gian sinh trưởng hàng năm là 9.855.500 ha và cây lâu năm khoảng 2.431.000 ha (Theo số liệu của Vũ Năng Dũng, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, 2002). Để thoả mãn nhu cầu phân bón cho các loại cây trồng trên các diện tích này, đến năm 2010 ta cần có 2.100.000 tấn phân Urê, 300.000 tấn phân DAP, 3.000.000 tấn phân NPK các loại, 1.400.000 tấn phân lân dạng super và nung chảy và 400.000 tấn phân Kali (Nguyễn Văn Bộ, 2002). Dự kiến cho đến thời gian ấy ta có thể sản xuất được khoảng 1.600.000 tấn phân Urê, 300.000 tấn phân DAP, 3.000.000 tấn phân NPK và 1.400.000 tấn phân lân các loại. Số phân đạm và DAP sản xuất được là nhờ vào kế hoạch nâng cấp nhà máy phân đạm Bắc Giang, xây dựng 2 cụm chế biến phân đạm ở Bà Rịa-Vũng Tàu và ở Cà Mau mà có. Nếu được như vậy lúc đó ta chỉ còn phải nhập thêm khoảng 500.000 tấn Urê và 300.000 tấn phân Kali nữa là tạm đủ. Chỉ còn khoảng 6 năm nữa là đến năm 2010, tổng khối lượng phân các loại cần có là 7,1 triệu tấn, một khối lượng phân khá lớn, trong lúc đó, hiện nay (năm 2003) ta mới sản xuất được khoảng 1,5 triệu tấn phân đạm và lân. Còn số lượng 1,2 triệu tấn phân NPK có được là nhờ vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập. Năm 2002, cả nước nhập khẩu 2.833.907 tấn phân các loại (Urê, DAP, Kali, sunphát đạm). Nếu tính cả số phân nhập bằng con đường tiểu ngạch thì năm 2002 số lượng phân nhập có khoảng 3 triệu tấn, nếu cộng thêm 1,5 triệu tấn sản xuất trong nước thì vẫn còn cần thêm 2,6 triệu tấn phân các loại nữa mới đáp ứng được yêu cầu sản xuất nông nghiệp. Công ty Phân bón Bình Điền đang chuẩn bị xây dựng thêm 1 nhà máy sản xuất phân bón ở tỉnh Long An với công suất 600.000 tấn phân NPK/năm, lúc đó Công ty có thể cung cấp được khoảng 1/3 lượng phân NPK theo yêu cầu đặt ra. Như vậy cho đến nay, số lượng phân hoá học dùng cho sản xuất nông nghiệp phần lớn là dựa vào nhập khẩu. Nếu việc nâng cấp nhà máy phân đạm Bắc Giang cũng như việc xây dựng 2 cụm chế biến phân đạm ở Bà Rịa-Vũng Tàu và Cà Mau thực hiện đúng theo kế hoạch thì đến năm 2010 ta chỉ còn nhập khối lượng phân không nhiều lắm. Ngược lại, nếu kế hoạch trên có trở ngại thì việc tiếp tục nhập phân hoá học với khối lượng lớn là điều tất yếu. Tuy nhiên để việc sử dụng phân bón có hiệu quả, không có dư lượng đạm quá mức cho phép, không gây ô nhiễm môi trường thì ngay bây giờ ta phải trang bị cho người sản xuất những kiến thức khoa học cần thiết về tính chất 2 mặt của phân bón, biết được nhu cầu phân bón của từng loại cây, từng giai đoạn sinh trưởng của cây trên từng loại đất, từng mùa vụ để họ từ quản lý lấy nguồn tài nguyên quí giá của họ mới có hiệu quả được.

Bệnh Tiêu Điên Và Vai Trò Của Chế Phẩm Sinh Học Vườn Sinh Thái / 2023

Bệnh tiêu điên hay còn gọi là bệnh tiêu bị xoăn lá, tiêu bị rối loạn dinh dưỡng … Đây là bệnh phổ biến mà người trồng tiêu đang gặp phải. Và việc áp dụng những giải pháp sinh học bền vững để ngăn chặn bệnh đồng thời nâng cao được năng suất, hiệu quả kinh tế đang được người trồng tiêu rất quan tâm.

Bệnh tiêu điên

– Nguyên nhân dẫn đến tiêu điên: Do côn trùng chích hút làm cho cây bị nhiễm vi rút, do lạm dụng thuốc bảo vệ thật vật và phân bón hoá học, do đất đai bạc màu kém thông thoáng, cắt dây lấy giống khi tiêu 1-2 năm tuổi không đúng kỹ thuật ( rối loại dinh dưỡng)….

– Triệu chứng tiêu điên: Khi cây tiêu bị điên thì lá nhỏ, chuyển sang màu vàng nhạt hoặc trắng bợt và xoăn lại, mặt lá nhăn nheo có những đốm màu vàng, lá tiêu giòn.Ngọn của cây nhỏ dần và ngửa ra không bám trụ, màu sắc chuyển vàng nhạt, thâm thẫm, không còn màu đặc trưng của đọt tiêu không bị bênh ( tiêu Vĩnh Linh, Lộc Ninh lúc ra đọt non có màu tím đậm), tiêu còi cọc không phát triển, rễ không phát triển ( rất ít rễ tơ).

Bệnh Tiêu điên tại Đắk Lắk

– Phòng bệnh tiêu điên: Không lấy giống ở vườn bị bệnh, kiểm tra vườn thường xuyên để phát hiện sớm côn trùng chích hút để có biện phát diệt côn trùng, bón phân cân đối đặc biệt đối với tiêu nên sử dụng các loại phân hưu cơ, các chết phẩm sinh học như phân chuồng ủ hoai, chế phẩm trichoderma, pseudomonas, vườn sinh thái….vừa giúp cải tạo đất, tạo đất thông thoáng hạn chế các bệnh trên cây tiêu.

+ Tiêu bị xoắn lá thường gặp ở các vườn tiêu tơ từ 2-3 năm tuổi và sau khi cắt dây là giống thì bị xoắn lá. Để hạn chế tối đa xoắn lá ( rối loạn dinh dưỡng) sau khi cắt giống chúng ta không phun thuốc hay bón phân trước khi cắt một tháng, trước khi cắt 3-4 ngày dùng các loại thuốc khử trùng như viben C 50wp…Phun xung quanh để khử trùng cũng như nấm gây hại, khi cắt thì cắt vào trời khô ráo không mưa, khử trùng dụng cụ cắt như cồn …Điểm cắt cách gốc 40-50cm, chỉ cắt giống trên những vườn tiêu khoảng 1-2 năm tuổi. 

Sau khi cắt một tháng không bón phân phun thuốc BVTV, sau khi cắt một tháng nên bón lân để ổn định cây và khi cây lên mầm bắt đầu bò thì chúng ta bón phân với lượng ít và chú ý bón cho cây các loại phân hưu cơ sinh học trong thời gian nay, thâm vườn thường xuyên quan sát ở mặt dưới lá non để xem có côn trùng chích hút thì phòng trừ kip thời. 

Khi cây phát triển mạnh trở lại thì chúng ta bắt đầu bón phân với hàm lượng tăng dần chứ không bón một lần nhiều như cây tiêu trước khi cắt giống.

Vườn Tiêu nhà anh Từ tại Krông năng – Đăk Lắk bị xoắn lá, con trùng chích hút đã phục hồi rất tôt sau một thời gian ứng dụng Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái

+ Đối với cây bị nặng thì nên nhổ đi trồng lại để khỏi tốn thời gian và tiền chữa trị những cây bị nặng đã bị nhiễm vi rút và hiện nay chưa có thuốc để chữa. Đối với những cây bị nhẹ do côn trùng chích hút (rối loại dinh dưỡng sau khi cắt dây), thì chúng ta dùng thuốc diệt côn trùng, sau đó nên bón phân hữu cơ như phân chuồng ủ hoai, phân cá ủ… Đặc biệt là các chế phẩm sinh học như trichoderma, pseudomonas, Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái… Dùng theo định kì thì lá tiêu dần dần sẽ thẳng lại với thời gian vài tháng đến một năm.

Mô hình trồng Cà Phê, Hồ Tiêu theo hướng sinh học bền vững tại Tây Nguyên

Vai trò của Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái

Có thể nói rằng nấm bệnh và vi khuẩn là những tác nhân chủ yếu gây ra bệnh trên cây Tiêu. Và việc sử dụng các loại thuốc hóa học để trị bệnh đang là 1 thói quen của người trồng tiêu. Chính vì thế hệ lụy mà nó để lại gây hại nghiêm trọng tới đất đai và cây trồng.

Hiện nay, rất nhiều hộ trồng Tiêu tại Gia Lai, Đắc Lắc, Kon Tum, Lâm Đồng, Quảng Trị, Bà Rịa Vũng Tàu, Bình Phước … đã tìm cho mình những đi hướng đi mới, đó là ứng dụng các Chế phẩm sinh học của Vườn Sinh Thái để đem lại hiệu quả kinh tế cao và bền vững.

Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái là 1 chế phẩm Nano cap cấp, có đầy đủ các dinh dưỡng thiết yếu, axit amin, vi trung đa lượng, vitamin, enzym cho cây trồng, đặc biệt những chủng vi sinh vật hữu ích trong chế phẩm có khả năng ức chế, xua đuổi sự xâm hại của nấm bệnh và tuyến trùng, giúp bộ rễ phục hồi nhanh, cây bung đọt mạnh, trái tiêu dài và mã quả đẹp.

Vườn Tiêu nhà anh Tuấn đã sử dụng Chế phẩm sinh học Vườn Sinh Thái được 5 nămBạn của nhà nông VTV2 – Truyền hình Việt Nam

1. Tác dụng

Cây sinh trưởng phát triển tốt, giảm chi phí phân bón 30-50%, giảm 50% thuốc BVTV, tăng năng suất 15-20%, chốn rụng quả non, chống hạn chống rét cực tốt, đặc biệt hạn chế được sâu bệnh và ức chế sự xâm hại của nấm bệnh.

2. Quy trình sử dụng

Tưới gốc: Dùng 5ml chế phẩm pha với 5 lít nước, tưới đều cho 2 gôc/trụ tiêu sau đó tưới giữ ẩm cho câyPhun lên lá: 100 ml SP pha với 200-250 lít nước, phun đều lên 2 mặt lá của trụ tiêu, phun lướt, không phun đi phun lại nhiều lượt trong cùng thời điểm, phun hết lại pha.

Phun các thời kỳ sau:– Thời kỳ phát triển thân lá: Sau khi trồng, cây bước vào giai đoạn phát triển, phun 15-20 ngày/lượt.– Thời kỳ trước khi ra hoa 1 tháng: Phun 1-2 lần– Thời kỳ đậu quả non: Phun 2-3 lượt. Mỗi lần cách nhau 10-15 ngày– Thời kỳ phát triển quả đến thu hoạch: 20-25 ngày phun 1 lượt.

Chúc bà con thành công !

Vai Trò Của Phân Bón Vi Sinh Vật Trong Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững / 2023

HGĐT- Phân bón vi sinh vật (phân vi sinh vật hay chế phẩm vi sinh vật) là sản phẩm chứa vi sinh vật (VSV) sống bao gồm: Vi khuẩn, nấm, xạ khuẩn được sử dụng để làm phân bón.

Trong số đó quan trọng là các nhóm vi sinh vật cố định đạm, hoà tan lân, phân giải chất hữu cơ, kích thích sinh trưởng cây trồng, v.v…, đã được tuyển chọn có mật độ phù hợp với tiêu chuẩn ban hành, thông qua các hoạt động sống của chúng tạo nên các chất dinh dưỡng mà cây trồng có thể sử dụng được (N,P,K,S,Fe…), hay các hoạt chất sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản. Phân bón vi sinh vật phải bảo đảm không gây ảnh hưởng xấu đến người, động, thực vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản.

Hiệu quả của vi sinh vật trong việc làm tăng khả năng sinh trưởng phát triển cây trồng, tiết kiệm phân bón hoá học cũng như tăng năng suất, chất lượng nông sản, đã được khẳng định trong nhiều công trình nghiên cứu của nhiều nước trên thế giới. Các sản phẩm vi sinh như phân bón vi sinh vật cố định nitơ, phân giải photphat khó tan, chế phẩm vi sinh vật kích thích sinh trưởng thực vật, chế phẩm vi sinh vật phòng trừ bệnh cây trồng đã được nghiên cứu từ nhiều năm nay có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và xây dựng nền nông nghiệp bền vững. Vi sinh vật tác động đến cây trồng trực tiếp hoặc gián tiếp. Sự tác động trực tiếp của vi sinh vật, đến cây trồng thể hiện qua sự tổng hợp, khoáng hoá hoặc chuyển hoá các chất dinh dưỡng xảy ra trong quá trình chuyển hoá vật chất của vi sinh vật như quá trình cố định nitơ, phân giải lân, sinh tổng hợp auxin, giberellin, etylen .v.v. Những vi khuẩn này có khả năng giúp cây trồng tăng khả năng huy động và dễ dàng sử dụng các nguồn dinh dưỡng từ môi trường. Tác độnggián tiếp đến sinh trưởng của cây trồng xảy ra khi các chủng vi sinh vật có khả năng làm giảm bớt hoặc ngăn chặn các ảnh hưởng có hại từ môi trường hoặc từ các vi sinh vật bất lợi đối với thực vật, trong đó vi sinh vật có thể cạnh tranh dinh dưỡng với vi sinh vật bất lợi, hoặc sinh tổng hợp các chất có tác dụng trung hoà, phân huỷ, chuyển hoá các tác nhân có hại hoặc tiêu diệt, ức chế các vi sinh vật bất lợi. Mỗi loại vi sinh vật trong tự nhiên có thể có 1 hoặc cả 2 tác động nêu trên đối với cây trồng.

Xu hướng chung hiện nay trên thế giới là tạo ra các sản phẩm phân hữu cơ giàu dinh dưỡng có bổ sung vi sinh vật hữu ích. Để góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, nhiều quốc gia trên thế giới đã khuyến khích người dân sử dụng phân bón sinh học bằng cách trợ giúp giá bán cho nông dân, đồng thời phát triển mạng lưới khuyến nông, trong đó đặc biệt chú trọng công tác xây dựng các mô hình trình diễn trên đồng ruộng về việc sử dụng hiệu quả của phân hữu cơ vi sinh.

Mặt khác, việc sử dụng phân hoá học, thuốc hóa học bảo vệ thực vật quá nhiều dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, tạo cho đất không còn độ xốp, hấp thụ và giữ nước kém. Các nhà khoa học đã kết luận: sử dụng phân hữu cơ vi sinh làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng sản phẩm tốt hơn, giảm ô nhiễm của NO3. Điều này cũng có nghĩa phân hữu cơ vi sinh đã góp phần quan trọng trong việc cải tạo đất, đáp ứng cho một nền nông nghiệp hữu cơbền vững, xanh sạch và an toàn.