Top 15 # Tự Làm Chế Phẩm Sinh Học Cho Hoa Hồng / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 11/2022 # Top Trend | Inkndrinkmarkers.com

Tự Học Làm Chế Phẩm Sinh Học Amino / 2023

Chế Phẩm Sinh Học là những sản phẩm được điều chế ra từ sinh học với những mục đích khác nhau, ở Việt Nam Chế phẩm sinh học được sản xuất phục vụ cho nhu cầu nông nghiệp mà chúng ta có thể hay bắt gặp như: Phân sinh học, thuốc trừ sâu sinh học phục vụ cho cây trồng, đệm lót sinh học cho chăn nuôi…

Ở bài viết này chúng tôi giới thiệu cho các bạn cách làm chế phẩm sinh học amino phục vụ lợi ích cho cây trồng trong cải thiện chất lượng đất. Bà con chú ý đọc và theo dõi:

Vài lưu ý khi làm chế phẩm sinh học:

1. Không nên dùng đường trắng để làm vì sau khi chế biến, trong đường trắng còn lại rất ít vitamin và khoáng chất. Do đó nên chọn đường nâu hay mật đường.

2. Không dùng nước có chứa chlorine (Cl) khi điều chế các chế phẩm sinh học vì chlorine có tính sát khuẩn nên sẽ diệt luôn các vi sinh có lợi. Nếu dùng nước máy nên để khoảng 12-24 giờ để bay bớt chlorine.

3. Không dùng vật liệu thủy tinh hoặc kim loại để điều chế hay lưu trữ chế phẩm sinh học vì khí sinh ra có thể gây nổ bình, đồng thời các chế phẩm có môi trường acid có thể gây ăn mòn kim loại.

4. Các chế phẩm thường có mùi thơm hơi chua, môi trường acid có pH dưới 4. Nếu chế phẩm có mùi hôi và pH cao thì nó đã hỏng, không xài được.

5. Vào mùa nóng, quá trình làm chế phẩm thường diễn ra nhanh hơn so với mùa lạnh, nên cần để ý điều này.

6. Luôn chừa một khoảng không gian khoảng 1/3 hay 1/4 hũ chứa trong quá trình điều chế và lưu trữ các chế phẩm sinh học.

Các nguyên liệu làm chế phẩm amino

Nguyên liệu: gạo (nên chọn loại gạo rẻ tiền) hoặc một nguồn giàu carbohydrate; đường nâu hoặc mật đường (rỉ đường – thứ thu được từ bả mía ép hay có màu nâu đen giống nước màu kho cá); khay gỗ (thường dùng khay có kích thước 40*40 cm, cao khoảng 7-8 cm).

Cách thực hiện:

Nấu gạo thành cơm chín, trải thành một lớp 2-3 cm trong khay, không nén chặt nhằm tạo diện tích lớn nhất để vi sinh vật phát triển. Dùng giấy niêm phong lại cho chặt, đảm bảo không bị thụng xuống chạm vào lớp cơm trong khay. Tìm nơi có tán tre hoặc tán cây rậm rạp (thường là nơi tập trung nhiều vi sinh vật nhất), đào một hố nông bằng khoảng 1/2 chiều cao khay gỗ, cho khay chứa cơm đã chuẩn bị vào, dùng lá mục, cành khô gần ngay tại đó phủ sao cho kín, nếu sợ mưa có thể phủ lên một lớp nilon. Sau 3-4 ngày (mùa nóng) hoặc 5-6 ngày (mùa lạnh), lớp cơm trong khay gỗ sẽ bị bao phủ bởi một lớp mốc trắng, đôi khi có lẫn một số mốc khác màu vào. Thu lấy lớp cơm chứa mốc trắng (không nên hoặc hạn chế dùng đến phần cơm chứa các mốc màu khác vì các vi sinh vật có hại có thể lẫn vào) đem trộn với mật đường hoặc đường nâu theo tỷ lệ khối lượng 1:1, cho vào đầy khoảng 2/3 một hũ chứa sạch, dùng giấy báo niêm phong lại, để nơi râm mát trong khoảng 7 ngày. Sau thời gian này, đem chắt lọc lấy phần IMO lỏng (có thể thu được rất ít) cho vào một hũ chứa khác, dùng giấy niêm phong lại. IMO lỏng thu được gọi là IMO-2, còn IMO ban đầu (phần cơm chứa mốc trắng) gọi là IMO-1. Một số nơi khi làm bước trộn cơm mốc với đường có thể thêm một lượng nước sạch bằng 3 lần lượng hỗn hợp cơm + đường, sau khi lọc sẽ thu được sản phẩm gọi tắt là BIM.

Ứng dụng:

Dùng IMO: 100-250 mL IMO-2/16 L nước, phun ẩm cho đất hàng tuần. Dùng 2 mL IMO-2/1 L nước, phun ẩm cho đống ủ compost, giúp ngăn mùi hôi và làm quá trình ủ diễn ra nhanh hơn.

Dùng BIM: 15-30 mL BIM/1 gallon nước (1 gallon = 3.78 L) phun ẩm cho lá và đất. Đối với đống ủ compost, dùng BIM pha loãng với nước theo tỷ lệ thể tích 1:1000 hoặc 1:500 phun ẩm cho đống ủ.

Tiến hành:

IMO-3,4,5: nên tiến hành làm các IMO thứ cấp trên mặt đất, ở nơi mát mẻ, không làm trên nền bê tông.

Pha loãng IMO-2 hoặc BIM theo tỷ lệ thể tích 1:1000 trộn với cám sao cho đạt độ ẩm khoảng 65-70% (dùng tay cầm một nắm cám, bóp chặt, thấy cám vo lại thành cục và nước rỉ ra một vài giọt là được), trải cám thành một lớp cao khoảng 30-40 cm, dùng rơm rạ hoặc một tấm bạt phủ kín. Trong quá trình ủ, khi thấy nhiệt độ cao hơn 45 độ C thì nên tiến hành đảo đống ủ để nhiệt độ hạ xuống (nhiệt độ quá cao sẽ làm chết các vi sinh vật có ích). Tiến hành ủ như vậy cho đến khi nhiệt độ trở lại bình thường là hoàn tất. Đây gọi là IMO-3.

Dùng IMO-3 trộn với đất theo tỷ lệ khối lượng 1:1, trải thành lớp dày khoảng 20 cm, phủ bạt hoặc rơm lên để khoảng 1 ngày để vi sinh vật phân bố đều khắp đống ủ. Nếu thấy hỗn hợp bị khô thì dùng IMO-2 loãng làm ẩm. Đây gọi là IMO-4. Đất đem dùng nên là đất kết hợp từ rừng, trang trại, đồng lúa, …

Trộn IMO-4 với phân gà theo tỷ lệ 1:1 về khối lượng, chất đống cao khoảng 80-90 cm, phủ kín lại tiến hành ủ trong khoảng 7 ngày. Sản phẩm thu được gọi là IMO-5, là một nguồn phân bón hữu cơ hầu như không còn mùi hôi, có thể đem bón trực tiếp cho cây trồng.

Tự Làm Chế Phẩm Sinh Học Diệt Rầy / 2023

Hiệu lực trừ rầy của chế phẩm sinh học trong vụ ĐX với mật độ rầy từ 450 – 550 con/m2, đạt 61,78%, vụ HT với mật độ rầy từ 250 – 400 con/m2, đạt 55,07%.

Nghệ An hằng năm gieo trồng 2 vụ lúa với khoảng 180.000 ha lúa nước nên việc phòng trừ các đối tượng gây hại trên lúa như rầy nâu, rầy xanh đuôi đen, rầy lưng trắng luôn được quan tâm hàng đầu.

Rầy không chỉ gây hại trực tiếp cho cây lúa mà còn là vật trung gian truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá và rầy lưng trắng môi giới truyền bệnh lùn sọc đen phương Nam (hiện chưa có thuốc đặc trị).

Từ trước đến nay, để phòng trừ rầy bảo vệ lúa, các địa phương đều phải sử dụng các loại thuốc BVTV độc hại. Vì thế ngoài việc diệt trừ đối tượng gây hại, thuốc BVTV hóa học còn tiêu diệt luôn cả thiên địch có lợi trên đồng ruộng và gây ô nhiễm môi trường, dư lượng tồn dư trong sản phẩm còn ảnh hưởng đến sức khỏe con người, vật nuôi.

Trước tình hình đó, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đã nghiên cứu ứng dụng thành công thuốc BVTV bằng CNSH từ loài nấm xanh (hay còn gọi là nấm Lục Cương, nấm cứng xanh) thuộc ngành nấm bất toàn, bộ nấm Đĩa (Melanconiales), họ nấm Đĩa (Melanconiaceae), có tên khoa học là Metarhizium anisopliae var. Trong đó, một số tỉnh, TP như Sóc Trăng, Cần Thơ, Tiền Giang… đã dùng nấm xanh phòng trừ rầy cho hiệu quả cao và hiện đã nhân rộng ra nhiều tỉnh, thành phố.

Tại Nghệ An, từ năm 2011 đến nay, để hỗ trợ bà con nông dân ứng dụng nấm xanh phòng trừ rầy hại lúa theo hướng sinh học, an toàn, bền vững, nâng cao giá trị sản phẩm và từng bước hạn chế sử dụng thuốc BVTV hóa học, Trung tâm Bảo vệ tài nguyên & môi trường rừng (Hội KHKT Lâm nghiệp Nghệ An) đã đầu tư kinh phí, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật và triển khai nghiên cứu ứng dụng nấm xanh và bước đầu đạt được kết quả.

Trong năm 2011, đội ngũ cán bộ của Trung tâm đã bắt đầu triển khai công tác nghiên cứu nhân nuôi nấm xanh. Từ mẫu rầy bị bệnh nấm xanh thu thập được ngoài đồng ruộng, Trung tâm đã phân lập và tuyển chọn được giống thuần (giống gốc Na1).

Từ đó, nhân nuôi nấm sinh khối trên môi trường cấp II, cấp III bằng một số công thức môi trường khác nhau, nhờ đó đã lựa chọn được hai môi trường nhân nuôi nấm xanh đảm bảo chất lượng tốt.

Năm 2012 và 2013, Trung tâm chính thức đưa chế phẩm Metar-Na ra đồng ruộng khảo nghiệm trên cả 2 vụ ĐX và HT tại huyện Hưng Nguyên với liều lượng 3 kg + 320 lít nước/ha và phun 2 lần/vụ. Phun lần 1 vào giai đoạn lúa đẻ nhánh rộ, phun lần 2 vào giai đoạn lúa đòng già khi rầy tuổi nhỏ (tuổi 1 – 3). Hiệu lực trừ rầy trong vụ ĐX với mật độ rầy từ 450 – 550 con/m2, đạt 61,78%, vụ HT với mật độ rầy từ 250 – 400 con/m2, đạt 55,07%.

Qua nghiên cứu, SX và ứng dụng thực tế trong 3 năm qua, Trung tâm Bảo vệ tài nguyên & môi trường rừng Nghệ An đã xây dựng được quy trình SX nấm xanh đơn giản, rẻ tiền, sẵn có, rất phù hợp với hộ gia đình, nhóm hộ, HTX… Trung tâm tạo điều kiện thuận lợi để các địa phương ứng dụng quy trình tự làm nấm xanh để quản lý rầy hại lúa.

Trung tâm tiếp tục khảo nghiệm chế phẩm Metar-Na trên diện rộng, tại hai huyện Đô Lương và Quỳnh Lưu. Nhưng tăng liều lượng nấm lên 4 kg + 400 lít nước/ha. Kết quả, hiệu lực trừ rầy tại mô hình xóm Toàn Mỹ, xã Hòa An, huyện Quỳnh Lưu (mật rầy từ 1.500 – 2.600 con/m2) đạt 74,98%; tại mô hình xóm 7 xã Xuân Sơn, huyện Đô Lương (mật độ rầy từ 1.400 – 2.900 con/m2) đạt 78,14%.

Điều đáng mừng là vụ ĐX 2013 trên diện tích đã khảo nghiệm không có rầy xuất hiện. Bước sang vụ HT mật độ rầy có phát sinh rải rác, nhưng nơi cao nhất cũng chỉ từ 17 – 155 con/m2.

Từ các mô hình khảo nghiệm trên, nhưng Trung tâm đã điều chỉnh theo hướng giữ nguyên liều lượng chế phẩm 3 kg/ha + 400 lít nước, phun bằng bình bơm tay đeo vai để phun chế phẩm kỹ hơn tăng khả năng tiếp xúc của nấm với rầy để tăng hiệu quả trừ rầy lên mức cao hơn.

Tại các mô hình khảo nghiệm chế phẩm được sử dụng đều dạng nấm tươi (khi hoàn thành quá trình nuôi cấy, đủ tiêu chuẩn là đem sử dụng – nuôi trong túi nilon từ 10 – 14 ngày sau khi cấy giống gốc) nên có ưu điểm là khả năng gây bệnh cho rầy nhanh, mạnh, nhất là khi điều kiện thời tiết phù hợp.

Điều đáng mừng là việc sử dụng chế phẩm nấm xanh để phòng trừ rầy hại lúa tại các mô hình đều không sử dụng thêm bất cứ loại thuốc BVTV nào nên các loài thiên địch trên ruộng mô hình như nhện ăn thịt (Lycosa pseudoannulata), nhện lùn (Atypena formosana); bọ rùa đỏ (Micraspis sp), bọ rùa vàng (M.crocea), bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus), bọ rùa 8 chấm (Harmonia octomaculata); nhóm bọ xít có bọ xít mù xanh (Cyrtorhinus lividipennis), bọ xít nước (Mesovelia vitigera, bọ xít nước gọng vó (Limnogonus fossarum)… phát triển mạnh đã góp phần tích cực vào việc tiêu diệt làm giảm mật độ rầy trên đồng ruộng và trở thành “những người bạn hữu ích của nhà nông”.

Nguyễn Văn Hội/ chúng tôi

Hướng Dẫn Tự Làm Chế Phẩm Sinh Học ” Nông Dân Giỏi / 2023

1. Vài lưu ý khi làm chế phẩm sinh học

Không nên dùng đường trắng để làm vì sau khi chế biến, trong đường trắng còn lại rất ít vitamin và khoáng chất. Do đó nên chọn đường nâu hay mật đường.

Không dùng nước có chứa chlorine (Cl) khi điều chế các chế phẩm sinh học vì chlorine có tính sát khuẩn nên sẽ diệt luôn các vi sinh có lợi. Nếu dùng nước máy nên để khoảng 12-24 giờ để bay bớt chlorine.

Không dùng vật liệu thủy tinh hoặc kim loại để điều chế hay lưu trữ chế phẩm sinh học vì khí sinh ra có thể gây nổ bình, đồng thời các chế phẩm có môi trường acid có thể gây ăn mòn kim loại.

Các chế phẩm thường có mùi thơm hơi chua, môi trường acid có pH dưới 4. Nếu chế phẩm có mùi hôi và pH cao thì nó đã hỏng, không xài được.

Vào mùa nóng, quá trình làm chế phẩm thường diễn ra nhanh hơn so với mùa lạnh, nên cần để ý điều này.

Luôn chừa một khoảng không gian khoảng 1/3 hay 1/4 hũ chứa trong quá trình điều chế và lưu trữ các chế phẩm sinh học.

2. FAA (AMINO ACID TỪ CÁ): cung cấp amino acid cho cây trồng

Vì chúng ta chỉ sử dụng liều lượng rất ít nên trong quà trình gieo trồng cần phải sử dụng kèm các loại phân bón chứ ít khi dùng đơn giản các chế phẩm sinh học không được.

Mục đích dùng chế phẩm là để cải tạo lại đất, xây dựng hệ sinh thái vi mô đã mất do lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học gây ra, và cũng xin nhắc lại là nếu chúng ta không chắc về những chế phẩm mình tự làm thì chỉ nên dùng một phần đất nhỏ mà mình có để thử nghiệm trước, không nên thử nghiệm trên phạm vi rộng.

Nguyên liệu: cá nguyên con hay tạp phẩm từ cá (đầu, ruột, vây, …); IMO-2 hoặc BIM; đường nâu hoặc rỉ đường.

Điều chế: nguyên liệu cá để nguyên hoặc băm nhỏ càng tốt, trộn với đường theo tỷ lệ khối lượng 1:1, cho vào khoảng 2/3 một hũ chứa sạch, dùng giấy niêm phong kín, để nơi râm mát trong 7 ngày.

Trong quá trình này nếu thấy chất béo nổi trên bề mặt hỗn hợp trong hũ có thể thêm khoảng 30 mL IMO-2 hoặc BIM vào để hòa tan chất béo này.

Sau thời gian trên có thể lọc lấy phần lỏng trữ và dùng dần (cho vào hũ chứa nhỏ niêm phong bằng giấy), chất rắn sau khi lọc có thể trộn chung vào đống phân ủ.

3. CAL-PHOS: bổ sung Ca và P cho cây trồng

Nguyên liệu: 2 kg xương động vật; 20 lit giấm nguyên chất.

Điều chế: cho xương động vật lên chảo rang đều đến khi mỡ và thịt thừa cháy hết, xương chuyển sang màu đen là được, không để xương chuyển sang màu trắng.

Để nguội rồi cho toàn bộ xương vào một bình chứa sạch, thêm lượng giấm đã chuẩn bị vào, chờ tới khi bọt khí không còn nổi lên nữa thì vặn nắp bình lại,để nơi tối mát trong khoảng 30 ngày.

4. NƯỚC HÒA TAN CALCIUM: bổ sung Ca cho cây trồng

Nguyên liệu: các loại vỏ chứa Ca như vỏ trứng, vỏ sò, vỏ ốc; giấm nguyên chất.

Điều chế: nguyên liệu đem rửa sạch, nghiền nhỏ rồi cho lên chảo rang đều đến khi chuyển sang màu nâu đen, để nguội, cho toàn bộ vào bình chứa. Cứ 1 kg nguyên liệu này thì thêm vào 10 lit giấm, đợi đến khi không còn bọt khí xuất hiện nữa thì vặn chặt nắp, để nơi tối mát khoảng 30 ngày.

Sử dụng FAA/ Cal-Phos/ nước hòa tan Ca: dùng 30 mL/ 1 L nước, phun ẩm cho đất hàng tuần. Dùng Cal-Phos pha loãng với nước theo tỷ lệ 1:1000 phun cho lá đối với cây ăn trái trong giai đoạn ra hoa kết quả.

5. FRB (CÁM LÊN MEN): dùng bón cho cây như một loại phân bón hữu cơ

Nguyên liệu: 15 mL FAA; 15 mL IMO-2; 1 kg cám; 1 L nước.

Điều chế: trộn đều FAA, IMO-2 và nước. Cho từ từ dung dịch này vô thau chứa cám, trộn đều để đạt độ ẩm khoảng 60% (bóp chặt một nắm cám thả nhẹ xuống thau thấy nó vẫn vón cục mà không bể ra là được).

Cho hỗn hợp đã trộn vào một hũ chứa sạch, dùng giấy niêm phong kín, để nơi tối mát trong 7-10 ngày, mỗi ngày đảo trộn hỗn hợp một lần.

Nếu thấy nó quá khô thì thêm một ít nước vào, mục đích là có đủ độ ẩm cần thiết.

Ứng dụng: nên dùng FRB trong thời gian ngắn bởi khá dễ bị mốc. Dùng 1kg/ 1000 m2, dùng bón lên đất ẩm hoặc rải lên đất rồi tiến hành xới đất để FRB phân tán đều hơn.

6. FPJ (THỰC VẬT LÊN MEN): là sản phẩm của quá trình lên men cây non, cành non, chồi non, lá non, nên FPJ cung cấp nhiều enzyme, hormone tăng trưởng và nhiều vi chất có lợi cho cây.

Nguyên liệu: mật đường hoặc đường nâu; dùng các loại thực vật có khả năng phát triển mạnh như thân chuối, măng tre, rau bina, …

Muốn thu được nhiều sản phẩm, nên chọn loại thực vật mọng nước như thân cây chuối.

Nên thu thập vật liệu lúc sáng sớm khi trời chưa có nắng, khi thu được thực vật nên đem làm FPJ ngay để tránh thất thoát các hoạt chất vào không khí.

Đặc biệt nên chọn thực vật không bám bụi đất và không được rửa thực vật trước khi làm vì sẽ làm rửa trôi các vi sinh vật có ích trên thực vật, và thu hoạch lúc trời chưa có nắng nhằm tránh tia tử ngoại chiếu vào làm chết các vi sinh vật có ích này.

Điều chế: thực vật băm nhỏ, trộn với đường theo tỷ lệ khối lượng 2 phần thực vật/ 1 phần đường.

Cho toàn bộ hỗn hợp này vào một hũ chứa, nén chặt để loại hết không khí ra ngoài (khoảng 2/3 bình), sau đó dùng giấy niêm phong lại, để nơi tối mát khoảng 7 ngày.

Sau đó lọc lấy phần lỏng FPJ cho vào một hũ sạch khác, niêm phong bằng giấy.

FPJ được điều chế thành công có mùi thơm, vị ngọt.

Nếu thấy ở đáy bình chứa có đường đọng lại nghĩa là quá trình lên men xảy ra chưa hoàn toàn, thêm một lượng nước sạch vừa đủ hòa tan lượng đường này để tái kích hoạt sự lên men.

Ứng dụng: dùng 30 mL FPJ/ 10 L nước (hoặc có thể dùng loãng hơn), phun lên lá và đất khi trời mát, không có nắng.

Bả lọc FPJ dùng làm thức ăn gia súc hoặc cho vô đống ủ compost. Với cây trồng: cây non nên dùng FPJ pha loãng với nước theo tỷ lệ thể tích 1:1000 phun lên lá.

Những loại cây có lá nhỏ thì dùng loãng hơn nữa. Với cây trưởng thành dùng loãng với tỷ lệ 1:800 phun cho lá.

Không nên quá lạm dụng FPJ, nên dùng mỗi tuần một lần cho cây là đủ vì nếu dùng sai tỷ lệ, ví dụ dùng FPJ quá đậm đặc thì cả hoa, lá, thân non của cây cũng bị lên men cây chết.

Giống như IMO, nên làm FPJ từng loại, ví dụ FPJ từ chuối thì chỉ làm từ mỗi thân cây chuối, FPJ từ măng thì chỉ làm từ măng, sau đó tùy giai đoạn mà áp dụng.

Ví dụ dùng FPJ măng cho giai đoạn cây non, vì dùng đường lên men giúp ép các hoạt chất có lợi trong cây măng, mà có lẽ nhiều người đã biết, ít có loài thực vật nào sinh trưởng mạnh như cây măng lúc mới nhú ra khỏi mặt đất; dùng FPJ thân chuối cho giai đoạn cây trưởng thành.

Nếu như không có điều kiện tìm các loài thực vật như măng tre, có thể thay thế bởi những loài thực vật có khả năng phát triển mạnh khác như dong, khoai, …

Chỉ nên làm các chế phẩm với lượng vừa đủ dùng, vì nếu để lâu, chúng ta khó mà biết được chúng có biến chất hay không.

Những loại chế phẩm bán trên thị trường hầu như được các nhà sản xuất áp dụng công nghệ cao để chế biến, còn ở đây ta dùng cây nhà lá vườn và cách thức thủ công để làm, cho nên chỉ làm với lượng nhỏ.

Khi thấy thực sự có hiệu quả mới nên áp dụng cho quy mô lớn, tránh gây lãng phí tiền bạc và công sức.

Video: Ủ sản phẩm nông nghiệp hư hỏng bằng giấm gỗ làm chế phẩm sinh học

7. IMO (VI SINH VẬT BẢN ĐỊA): là loại chế phẩm được điều chế bằng cách tận dụng nguyên liệu có sẵn tại địa phương.

Có thể thu thập IMO từ nhiều vùng khác nhau (đồng bằng, đồi núi, trang trại, rừng rậm, …), sau đó kết hợp chung trong việc sử dụng, mục đích là tạo một môi trường giàu các vi sinh vật có lợi cho đất và cây trồng. Chọn các vùng đất chưa bị cày xới trước đó.

Nguyên liệu: gạo (nên chọn loại gạo rẻ tiền) hoặc một nguồn giàu carbohydrate; đường nâu hoặc mật đường (rỉ đường – thứ thu được từ bả mía ép hay có màu nâu đen giống nước màu kho cá); khay gỗ (thường dùng khay có kích thước 40*40 cm, cao khoảng 7-8 cm).

Điều chế: nấu gạo thành cơm chín, trải thành một lớp 2-3 cm trong khay, không nén chặt nhằm tạo diện tích lớn nhất để vi sinh vật phát triển. Dùng giấy niêm phong lại cho chặt, đảm bảo không bị thụng xuống chạm vào lớp cơm trong khay.

Tìm nơi có tán tre hoặc tán cây rậm rạp (thường là nơi tập trung nhiều vi sinh vật nhất), đào một hố nông bằng khoảng 1/2 chiều cao khay gỗ, cho khay chứa cơm đã chuẩn bị vào, dùng lá mục, cành khô gần ngay tại đó phủ sao cho kín, nếu sợ mưa có thể phủ lên một lớp nilon.

Sau 3-4 ngày (mùa nóng) hoặc 5-6 ngày (mùa lạnh), lớp cơm trong khay gỗ sẽ bị bao phủ bởi một lớp mốc trắng, đôi khi có lẫn một số mốc khác màu vào.

Thu lấy lớp cơm chứa mốc trắng (không nên hoặc hạn chế dùng đến phần cơm chứa các mốc màu khác vì các vi sinh vật có hại có thể lẫn vào) đem trộn với mật đường hoặc đường nâu theo tỷ lệ khối lượng 1:1, cho vào đầy khoảng 2/3 một hũ chứa sạch, dùng giấy báo niêm phong lại, để nơi râm mát trong khoảng 7 ngày.

Sau thời gian này, đem chắt lọc lấy phần IMO lỏng (có thể thu được rất ít) cho vào một hũ chứa khác, dùng giấy niêm phong lại. IMO lỏng thu được gọi là IMO-2, còn IMO ban đầu (phần cơm chứa mốc trắng) gọi là IMO-1

Một số nơi khi làm bước trộn cơm mốc với đường có thể thêm một lượng nước sạch bằng 3 lần lượng hỗn hợp cơm + đường, sau khi lọc sẽ thu được sản phẩm gọi tắt là BIM.

Dùng IMO: 100-250 mL IMO-2/16 L nước, phun ẩm cho đất hàng tuần. Dùng 2 ml IMO-2 và 1lit nước, phun ẩm cho đống ủ compost, giúp ngăn mùi hôi và làm quá trình ủ diễn ra nhanh hơn

Dùng BIM: 15-30 mL BIM/4lit nước phun ẩm cho lá và đất. Đối với đống ủ compost, dùng BIM pha loãng với nước theo tỷ lệ thể tích 1:1000 hoặc 1:500 phun ẩm cho đống ủ.

IMO-3,4,5: nên tiến hành làm các IMO thứ cấp trên mặt đất, ở nơi mát mẻ, không làm trên nền bê tông.

Pha loãng IMO-2 hoặc BIM theo tỷ lệ thể tích 1:1000 trộn với cám sao cho đạt độ ẩm khoảng 65-70% (dùng tay cầm một nắm cám, bóp chặt, thấy cám vo lại thành cục và nước rỉ ra một vài giọt là được).

Trải cám thành một lớp cao khoảng 30-40 cm, dùng rơm rạ hoặc một tấm bạt phủ kín. Trong quá trình ủ, khi thấy nhiệt độ cao hơn 45 độ C thì nên tiến hành đảo đống ủ để nhiệt độ hạ xuống (nhiệt độ quá cao sẽ làm chết các vi sinh vật có ích). Tiến hành ủ như vậy cho đến khi nhiệt độ trở lại bình thường là hoàn tất. Đây gọi là IMO-3.

Dùng IMO-3 trộn với đất theo tỷ lệ khối lượng 1:1, trải thành lớp dày khoảng 20 cm, phủ bạt hoặc rơm lên để khoảng 1 ngày để vi sinh vật phân bố đều khắp đống ủ.

Nếu thấy hỗn hợp bị khô thì dùng IMO-2 loãng làm ẩm. Đây gọi là IMO-4. Đất đem dùng nên là đất kết hợp từ rừng, trang trại, đồng lúa, …

Trộn IMO-4 với phân gà theo tỷ lệ 1:1 về khối lượng, chất đống cao khoảng 80-90 cm, phủ kín lại tiến hành ủ trong khoảng 7 ngày. Sản phẩm thu được gọi là IMO-5, là một nguồn phân bón hữu cơ hầu như không còn mùi hôi, có thể đem bón trực tiếp cho cây trồng.

Cái này ở nhà chỉ mới xài tới IMO-2 pha loãng, đem trộn với đống rau + cá thúi thì thấy nó khử mùi rất tuyệt, riêng cái IMO-3,4,5 thì chưa đụng đến vì không có điều kiện.

Tự Làm Chế Phẩm Sinh Học Trừ Sâu Em5 * Tin Cậy 2022 / 2023

Hiện nay, thuốc trừ sâu có nguồn gốc hóa học được sử dụng ngày càng tràn lan, mất kiểm soát, có thể tồn tại trong môi trường rất lâu và tích lũy sinh học theo chuỗi thức ăn. Đây cũng là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người cũng như các động vật có ích khác. Theo một số thông kê, Báo Thanh Niên điều tra cho thấy tỷ lệ số người mắc bệnh ung thư ở Việt Nam ngày càng tăng. Bệnh ung thư do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng phổ biến nhất là những nguy cơ từ nguồn thức ăn và nước uống mà chúng ta đã và đang sử dụng hàng ngày.

Người Việt Nam rất thích ăn nhiều củ quả, rau xanh trong bữa ăn nhưng lại khoái khẩu với các món rau ăn sống như: salad, rau sống, gỏi, nộm,…Trong khi đó, thực trạng đáng cảnh báo là việc sử dụng tràn lan các loại thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc hóa học trên đồng ruộng. Sẽ dẫn đến nguy cơ chúng ta ăn phải các loại nông sản còn dư lượng thuốc quá nhiều.

Đứng trước mối lo ngại này, nhiều người đang hướng đến xu thế mới với cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật có nguồn gốc sinh học sẽ lại mang đến sự an toàn tuyệt đối cho người sử dụng vì thời gian cách ly ngắn, mang lại hiệu quả lâu dài. Vì vậy, đang được bà con nông dân và các cấp quản lý đặc biệt chú ý, đưa vào sử dụng để bảo vệ cây trồng.

Chế phẩm sinh học trừ sâu là những chế phẩm có nguồn gốc sinh học, được làm từ những nguyên liệu tự nhiên, rất dễ tìm kiếm như: gừng, tỏi, ớt, sả, các loại lá hoặc các chủng nấm vi sinh,.. Có hiệu quả cao trong việc phòng trừ sâu, bệnh, xua đuổi côn trùng. Nhưng lại rất an toàn với sức khỏe con người, môi trường đất, tiêu diệt sâu với tỷ lệ cao mà không làm cho chúng kháng thuốc, hạn chế việc “giết nhầm” những loài côn trùng hữu ích.

EM5 thực chất là Chế phẩm sinh học trừ sâu, là chất ngăn ngừa, xua đuổi côn trùng, sâu hại, không phải hoá chất độc. Thông thường nó được phun lên cây với nồng độ 1/500-1/1000 pha loãng với nước.

Để pha chế EM5, bà con cần chuẩn bị những nguyên liệu sau:

* 1 lít EM1 + 1,2kg Rỉ đường + 6 lít Nước + 1 lít Dấm + 1 lít Rượu , sau khi ủ từ 5-7 ngày sẽ thu được 10 lít EM5

Để tăng hiệu quả của EM, cần cho thêm nhiều chất hữu cơ có hàm lượng chất chống ôxy hoá (như: tỏi, ớt, cây lô hội, lá nêm, hoa quả xanh, cỏ hoà thảo và các cây có giá trị y học cao….). Khi sử dụng các loại vật liệu này cần phải băm nhỏ hoặc xay nghiền trước khi điều chế.

Cách Pha chế Chế phẩm sinh học trừ sâu

Trộn rỉ đường với nước, chú ý để hoà tan rỉ đường hoàn toàn (có thể sử dụng nước ấm để hoà tan nhanh rỉ đường).

Đổ dấm, rượu ≤450 (hoặc cồn pha loãng), sau đó cho chế phẩm EM1.

Rót dung dịch hỗn hợp vào can nhựa (hoặc thùng) đậy nút kín. Đổ đầy can để duy trì điều kiện kỵ khí. Các cây, cỏ, quả được xay nghiền nhỏ cho vào can nhựa (nếu muốn).

Bảo quản ở nơi ấm (25-30oC), tránh ánh sáng mặt trời chiếu vào.

Khi thùng chứa có nhiều khí lên men, thường xuyên mở nắp để xả gas, sau đó đóng chặt lại như cũ.

Thành phẩm: EM5 có thể sử dụng khi gas không còn sinh ra nữa. EM5 có chất lượng tốt khi cho mùi thơm, ngọt (mùi ester/rượu).

Bảo quản: EM5 cần được bảo quản ở nơi tối, mát, có nhiệt độ ổn định, đồng nhất. Nếu sử dụng cây cỏ thì phải lọc trước khi cho vào bảo quản. Không được bảo quản trong tủ lạnh hoặc dưới ánh nắng mặt trời. EM5 sử dụng trong vòng 3 tháng sau khi pha chế.

Sử dụng:

Để tăng khả năng chống sâu bệnh thuốc trừ sâu sinh học EM5 được pha loãng trong nước theo tỷ lệ 1/100-500 (với cây con 1/500-1,000; cây lớn 1/100) để phun ướt cây. Bắt đầu phun sau khi nảy mầm, trước khi sâu bệnh xuất hiện. Nên phun EM5 thường xuyên, tốt nhất là vào buổi sáng hoặc sau khi mưa to.

Để khử mùi hôi phun EM5 với tỷ lệ pha loãng 1/100.

Mọi thông tin cần trao đổi cũng như cần tư vấn khi mua sản phẩm Quý khách vui lòng liên hệ:CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ TIN CẬYĐịa chỉ: Số 4, Đường số 3, Khu Đô Thị Vạn Phúc, P. Hiệp Bình Phước, Q.Thủ Đức, Tp.HCMĐiện thoại: (028) 2253 3535 – 090 288 2247 – 0909 307 123 – 0903 908 671 Email: kinhdoanh@tincay.com; tincaygroup@gmail.com; tincay@tincay.com