Top 4 # Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cam Canh Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 3/2023 # Top Trend | Inkndrinkmarkers.com

Quy Trình Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Cam Đường Canh

Cam đường canh là giống quýt nhưng từ lâu được nhân dân ta quen gọi là cam. Hiện rất được nhiều địa phương trồng bởi đây là loại quả rất phổ biến, cho năng suất cao nếu sử dụng đúng quy trình kỹ thuật chăm sóc cây cam đường canh.

Đặc điểm nổi bật của cây

Cam đường canh là loại quýt cho quả ngọt, vỏ quả mang màu đỏ rất đặc trưng, cam đường cam cho quả rất ngọt và mùi thơm đặc trưng. Cây cam đường canh có sinh trưởng khỏe, cây trưởng thành cao 3-3,5m, tán cây kiểu hình dù, lá có màu xanh đậm, ra hoa tháng 2, tháng 4, thu hoạch vào tháng 11 và tháng 12. Quả cam đường canh có hình dẹt, chín có vỏ màu đỏ, dễ bóc, ruột màu vàng, ăn thơm, ngọt. Trọng lượng của mỗi quả là 80 – 120gr.

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây

Cam đường canh thích nghi với mọi thời tiết khí hậu, được trồng ở rất nhiều nơi, cho năng suất cao khi có kỹ thuật trồng và chăm sóc tốt.

Làm đất: Đất trồng cam cần phải cam ráo, hệ thống thoát nước tốt nhằm tránh ngập lụt mỗi năm. Tại vùng đồng bằng, vũng trũng đào mương và lên luống. Ở vùng trung du cũng như miền núi cần chủ động về nguồn nước để có thể tưới khi cây khô hạn. Đào hố với kích thước là 60 x 60 x 50cm.

Bón phân: Bón lót phân chuồng hoại mục 50kg, lân 1kg, vôi bột 1kg cho mỗi hố và trộn kỹ với đất trước khoảng 30 ngày.

Trồng cây: Khi mang cây cam đường canh xuống đất cần phải đào hố tầm 15 – 30 ngày. Vét hố nhỏ đặt bầu và lấp đất vừa bầu, nén chặt. Tiếp đó cắm cọc chéo vào cây, buộc để tránh làm lay gốc. Tùy vào từng vùng đất xấu tốt mà cách bố trí mật độ cây khác nhau.

Kỹ thuật chăm sóc

Sau khi trồng, bà con cần phải thường xuyên tưới nước cho cây. Và thời gian cây ra hoa, ra trái và nuôi quả, nếu như cây cam đường canh thiếu nước sẽ đậu ít, bị rụng nhiều. Và thừa nước, cây dễ thối rễ cũng gây ra hiện tượng chết cây, vàng lá.

Bón thúc: Sau tháng cây hồi phục sử dụng nước phân lợn, nước giải ủ pha loãng tầm 10 lần với nước lã, nước phân đạm, cứ cách 15 – 20 ngày sẽ tưới 1 lần. Bên cạnh đó, bón phân hữu cơ 10kg + super lân 300g, kali 100g, ure 100g.

Tỉa mầm: Thời kỳ cây ra quả, sau khi thu hoạch xong cần phải đốn tỉa cành tăm, cành vượt, cành khô, cành sâu bệnh. Đốn tỉa phải tiến hành thường xuyên tạo cho cây có mầm mới, không sâu bệnh.

Phòng trừ bệnh, sâu hại

Cam đường canh bệnh hại ít nhưng cũng cần phải để ý tới bọ xít, rầy rệp, bệnh đốm lá … Nếu trường hợp thấy cay có hiện tượng ở trên thì bà con nên dùng thuốc bảo vệ thực vật để phun.

Sâu vẽ bùa: ở trên lá, tạo ra các lớp ngoằn ngoèo sáp trắng, lá xoăn. Phòng trừ bằng cách phun thuốc phòng từ 1 – 2 lần khi cây có đợt lộc non.

Nhện: Sử dụng thuốc Comite 73EC 10ml/10 lít nước, dầu khoáng SK, Ortus 5 SC, Newsodan 5.3 EC pha với nồng đồ đã được khuyến cáo, phun ướt 2 mặt lá, phun khi cây ra lộc non.

Bệnh chảy gôm: Hay thấy ở phần gốc cây. Phòng trừ bằng thuốc Aliette 800 WP

Công dụng của cây

Cam đường canh là 1 trong những loại hoa quả có chứa nhiều tinh dầu mang mùi thơm, chứa rất nhiều vitamic C, mát và bổ dưỡng đến cho cơ thể. Bên cạnh đó, cam có tác dụng chữa bệnh như tăng cường thể lực, ngăn ngừa xơ cứng động mạch, phòng chống ung thư, bảo vệ da, ngăn ngừa táo bón … Do đó, cam đường canh chính là loại quả có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao.

Chúng tôi chuyên cung cấp cây giống chính gốc

Mọi thông tin vui lòng liên hệ:

Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội – Trung Tâm Cây Giống Chất Lượng Cao

Địa chỉ: Trâu Quỳ- Gia Lâm- Hà Nội

Email: [email protected]

Điện thoại: 0912 850 282

Quy Trình Thâm Canh Cam Đường Canh

Tùy theo địa hình đất (cao hay thấp, dễ hay khó thoát nước) mà lựa chọn phương pháp lên luống hay đắp ụ cho phù hợp.

Tùy theo địa hình đất (cao hay thấp, dễ hay khó thoát nước) mà lựa chọn phương pháp lên luống hay đắp ụ cho phù hợp.

Trồng cây chắn gió, thiết kế hàng rào bảo vệ, hệ thống thoát nước, hệ thống cung cấp nước tưới trước khi trồng cây.

Tùy theo khí hậu từng vùng, đất đai, kỹ thuật canh tác mà khoảng cách thay đổi cho phù hợp, khoảng cách trồng thích hợp nhất cho cam là 4 x 4m.

Đào hố trồng với kích thước: 1 x 1 x 1m. Khi đào, lớp đất mặt để riêng, lớp đất dưới trộn với phân chuồng, vôi bột, lân sau đó lấp hố cao hơn mặt đất 20 – 30cm.

Khi trồng, đào lỗ giữa mô, đặt bầu cây con xuống sao cho mặt bầu cao hơn mặt mô 3 – 5cm. Sau đó dùng đất vun tới mặt bầu rồi dận chặn, tưới nước.

Khi đặt cây phải xoay mắt ghép theo hướng chiều gió để tránh gãy nhánh, có thể cắm cọc để cây khỏi bị tác hại của gió.

Những năm đầu cây giống còn nhỏ chưa giao tán phải làm sạch cỏ gốc. Ở những vùng đất bằng hoặc hơi dốc nên trồng cây phân xanh ở giữa các hàng cây để vừa che phủ đất giữ ẩm, chống cỏ dại, tạo nguồn phân xanh cải tạo đất và cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Đối với đất dốc, giữa các hàng cam gieo 1 hàng rào kép cây phân xanh thuộc loại thân bụi như muồng, cốt khí, keo, đậu để chống xói mòn và cung cấp chất hữu cơ tại chỗ. Lượng hạt cây phân xanh từ 20-25kg/ha. Diện tích đất trống còn lại trên băng gieo các loại cây họ đậu thân thảo như đậu hồng đáo, cỏ sytilo, lạc dại.. để che phủ, giữ ẩm đất và chống cỏ dại. Thường gieo trồng cây phân xanh trước khi trồng cam, hoặc ngay sau khi trồng.

Trụ cột của tán cây là 3 cành chủ C1, mỗi cành C1 lại có 2-3 cành C2. Cành cấp 1 mọc từ thân chính, cách mặt đất 50cm, xiên góc 60-80o so với thân chính. Cành cấp 2 mọc xiên 10-200 từ cành cấp 1, độ dài cành cấp 1 khống chế trong khoảng từ 50-60cm. Cành cấp 3 mọc xiên từ cành cấp 2 với góc 10-200. Cành mang quả là cành cấp 4, phân bố đều xung quanh tán cây.

Loại phân Lượng phân bón (g/cây)

+ Thời kỳ bón: Bón phân thúc 4-5 lần/năm vào các tháng 2, 4, 6, 10 và tháng 12. Lượng phân chia đều trong các lần bón.

+ Phương pháp bón: Lúc cây còn nhỏ, phân vô cơ được hòa với nước để tưới cho cây kết hợp với các đợt xới xáo làm cỏ.

Khi cây lớn, rạch rãnh xung quanh tán, rãnh sâu khoảng 10-15 cm, rắc phân vào rãnh rồi lấp đất lại. Mỗi lần bón phân đều phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo gốc, tưới nước và tủ gốc cây.

Phân chuồng được bón với lượng 50-60kg/cây/năm, bón 1 lần cùng với lần bón phân hữu cơ vào đầu vụ xuân. Khi bón phân chuồng, rãnh bón được cuốc sâu và rộng hơn, sâu từ 15-20 cm, rộng từ 20-30 cm.

2.2. Chăm sóc thời kỳ kinh tế (sau thời kỳ kiến thiết cơ bản)

Thường xuyên phát cỏ, tủ gốc để giữ ẩm. Bổ sung nước tưới để duy trì ẩm độ đất đạt từ 70-75% sau khi đậu quả và trong giai đoạn quả lớn.

+ Lượng bón: Vào thời kỳ kinh tế, lượng phân bón chủ yếu dựa vào năng suất vụ trước đó để đảm nhu cầu dinh dưỡng cho cây.

Lượng phân bón được khuyến cáo sử dụng theo bảng sau:

+ Thời kỳ bón: Bón phân trong thời kỳ cây cho quả được chia làm 3 lần chính: bón sau thu hoạch quả, bón trước khi ra hoa và bón trong thời gian quả lớn. Lần bón thứ 3 có thể được chi thành 2-4 lần nhỏ, tùy điều kiện từng nơi. Lượng phân bón được áp dụng theo hướng dẫn trong bảng dưới.

* Bón sau thu hoạch: Rạch rãnh xung quanh tán (rộng 30cm, sâu 20 cm), rắc phân (phân vô cơ và hữu cơ) vào rãnh rồi lấp đất kín.

* Bón thúc: bón theo rãnh, rãnh sâu 10cm, rộng 15cm, mỗi lần bón phân đều phải kết hợp với làm cỏ, xới xáo gốc, tưới nước và tủ gốc lại gốc cây.

Tiến hành cắt tỉa 3 lần trong năm, vào các đợt sau:

+ Đợt 1: Cắt tỉa sau thu quả. Cắt bỏ tất cả những cành trong tán, cành nhỏ, cành yếu, cành sâu bệnh, một số cành vượt, cành mọc đan xen nhau. Cắt tỉa kết hợp với vệ sinh đồng ruộng, đốt bỏ hết tàn dư sâu bệnh trên vườn.

+ Đợt 2: Cắt vào vụ xuân, thời điểm cây ra hoa đậu quả: cắt bỏ những cành yếu, cành có chùm hoa nhỏ, cành sâu bệnh, cành mọc trong tán.

+ Đợt 3: Cắt tỉa vào vụ hè, giai đoạn quả lớn: Cắt bỏ những cành sâu bệnh, tỉa bỏ quả nhỏ quả dị hình.

– Trưởng đẻ trứng vào mặt dưới lá non. Sâu non đục vào lớp dưới biểu bì tạo đường hầm ngoằn ngoèo màu trắng bạc. Sâu non đẫy sức hoá nhộng ngay trong vòng cuộn của lá. Vòng đời sâu vẽ bùa ngắn, từ 17 – 23 ngày.

– Phòng trừ: phun Polytrin 440EC nồng độ 0,25%. Phun khi lộc non mới nhú, dài1-2cm

– Loài Hypomeces squamosus màu xanh vàng, kích thước lớn hơn loài Platymycterus sieversi, màu trắng đục. Khi có tiếng động, câu cấu lẩn trốn hoặc giả chết rơi xuống đất. Trưởng thành hoạt động giao phối vào ban ngày, trứng đẻ từng ổ 3-5 quả vào các kẽ thân cây hoặc mép lá khô. Sâu non nở ra rơi xuống đất, hoạt động dưới mặt đất. Trưởng thành vũ hoá sau những cơn mưa tháng 4-5 và tháng 7-9.

– Phòng trừ: phun Supracide 0,20 – 0,25%

– Vào tháng 4-5, trưởng thành đẻ trứng, từng quả, vào nách lá non, đỉnh chồi. Sâu non đục vào bên trong cành tạo đường ngoằn ngoèo xoáy trôn ốc. Lúc đầu, đường hầm đục hướng ra ngoài tán, sau đó đường đục quay vào phía trong thân và sâu hóa nhộng ở đó.

– Phòng trừ: Phun Supracide 0,2 – 0,25% khi lộc non xuất hiện hoặc bơm Ofatox 0,1% vào lỗ đục trên cành, sau đó dùng đất sét bít kín lỗ thông.

– Trưởng thành màu xanh đậm có những đốm trắng. Trưởng thành đẻ trứng, từng quả, vào các vết nứt của cây. Sâu non đục vào trong thân tạo đường ngoằn ngoèo hướng từ dưới lên trên, hoá nhộng ngay trong thân cây.

– Phòng trừ: vệ sinh vườn, gốc cây sạch sẽ. Thường xuyên dùng nước vôi đặc quét gốc để hạn chế trưởng thành đẻ trứng lên thân cây. Bơm Supracide 0,2 – 0,25% vào lỗ có sâu, dùng đất sét bịt kín lỗ sâu đục để diệt sâu non.

Nhóm ngài chích hút quả : Othreis fullonia, Ophiusa coronata, Ophiusa tirhaca.

– Trưởng thành hoạt động từ chập tối đến khoảng nửa đêm, hút dịch trên những quả cam chín. Quả bị ngài chích sẽ thối, sau đó bị rụng.

– Phòng trừ: Đặt bẫy dẫn dụ có trộn thuốc trừ sâu để diệt ngài, 10 bẫy/ha.

– Ruồi trưởng thành dài 4 – 5 mm, màu nâu đỏ, vân vàng. Trưởng thành cắm ống đẻ trứng vào quả, sâu non nở ra ăn thịt quả và phát triển thành dòi ở bên trong. Ruồi vàng phá hoại nặng vào tháng 8-9. Quả bị hại thường bị rụng sớm.

– Phòng trừ: dùng bả Metyleuzernol + Nalet tiêu diệt con trưởng thành.

– Rệp sống thành quần tụ, hút nhựa trên chùm hoa hay các bộ phận non. Chất bài tiết của rệp là môi trường thuận lợi cho nấm muội đen phát triển. Rệp gây rụng hoa, quả non, đọt non biến dạng, lá bị xoăn lại.

– Phòng trừ: phun DC Tron Plus 0,5%, Supracide 0,2% khi phát hiện thấy rệp hại

– Rầy trưởng thành màu xám nâu, dài 2,5 – 3 cm. Rầy cái đẻ trứng trên các lộc non vừa nhú, rầy có thể đẻ tới 800 quả trứng. Rầy trưởng thành hoạt động nhanh nhẹn, rầy con màu vàng sáng rất ít di động.

– Phòng trừ: Phun dầu DC Tron Plus 0,5%, Sherpa 0,2% để phòng trừ

– Nhện đỏ có chiều dài khoảng 0,5 mm, thân hình ô van, màu đỏ sẫm (Tetranychus) hoặc đỏ tươi (Panonychus citri), trên thân có lông dài thưa màu trắng hoặc hơi vàng. Trứng nhện màu đỏ tươi hình cầu hoặc hình củ hành. Nhện đẻ trứng sát gân lá, trên cả hai mặt lá.

– Phòng trừ: Phun Abarmactin: 0,3%, DC Tron Plus 0,5% , Pegarus 0,2%, Saromite 0,15%

Bệnh vàng lá: Greening do Liberibacter asiaticus

– Cây bị bệnh có hiện tượng “gân xanh lá vàng”. Bệnh thường biểu hiện từ những cành đơn lẻ, lá rụng dần và cành bị chết. Ở những cành bị bệnh, quả nhỏ, biến dạng, màu nhợt, chua.

– Phòng trừ: chặt bỏ những cây bị bệnh. Chăm sóc tốt cho vườn cam, trồng xen ổi để xua đuổi rầy chổng cánh.

Bệnh loét cam: Xanthomonas campestris citri

– Triệu chứng: Trên lá, khi mới xuất hiện, vết bệnh có dạng giọt dầu trong suốt, sau đó vết bệnh lan rộng ra thành hình tròn hay hình bất kỳ màu nâu nhạt, quầng vàng. Vết bệnh lan nhanh khi gặp nhiệt độ, ẩm độ cao. Khi cây bị bệnh, lá rụng hàng loạt, cành khô rồi chết, cây sinh trưởng kém, quả rụng sớm.

– Phòng trừ: phun dung dịch Boocđo 1%.

+ Bệnh chảy gôm: Phytophthora sp

– Bệnh chủ yếu hại các rễ tơ nơi tiếp giáp giữa bộ phận trên và dưới mặt đất. Ở cây bị bệnh, lá chuyển vàng, nhựa chảy ra từ các vết bệnh trên thân.

– Phun hoặc quét dung dịch Aliet 2% hoặc boocdo 3% lên thân cây.

Tiến hành thu hoặc khi quả chuyển màu vàng. Quả được thu hoạch vào ngày nắng khô ráo, không nên thu trái ngay sau mưa hoặc vào những ngày mù sương vì quả dễ bị ẩm thối. Quả thu xong cần để nơi thoáng mát, không nên tồn trữ quá 15 ngày kể từ khi thu hoạh vì làm giảm giá trị thương phẩm quả. Muốn bảo lâu, phải đặt quả nơi thoáng mát.

Nguồn: chúng tôi

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Thâm Canh Cà Tím

Cà tím là một trong những cây trồng được đưa vào mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng tại các xã nông thôn mới của thành phố. Cây cà tím phù hợp với vùng đất tại Củ Chi, Hóc Môn thành phố Hồ Chí Minh. Đây là loại rau ăn quả đem lại hiệu quả kinh tế cao, thời gian thu hoạch trái kéo dài. Tuy nhiên để trồng cà tím đạt hiệu quả cao cần chú ý một số kỹ thuật canh tác

1. Chuẩn bị đất trồng cà tím

Bón voi và phân lót: trước khi cày bừa đất, rải đều cho 1 ha: 1 tấn vôi + 30 – 40 tấn phân hữu cơ hoai (hoặc 6 tấn phân gà) + 1 – 2 tấn Super lân. Vôi nên bón ít nhất 2 tuần trước khi trồng. Sau khí bón lót cày bừa đất thật kỹ (độ sâu lớp đất cày bừa ít nhất 30 cm).

Lên líp trồng và trải bạc: sau khi cày bưa xong, lên líp để chuẩn bị trồng. Líp cao ít nhất 30 cm. Mặt líp ít nhất 1 – 1,2 m ngang, rãnh nước giữa 2 líp khoảng 60 – 80 cm. Kích thước rãnh + líp: 1,8 m. Trải bạc.

Lắp đặt hệ thống tưới: trên mặt mỗi líp lắp đặt một đường ống nước mềm chạy dài suốt líp để đảm bảo tưới nước đầy đủ cho cây cà trong suốt mùa trồng. Mỗi đầu đường ống đều có một van đóng mở.

2. Kỹ thuật trồng và dặm cây con

Mật độ và khoảng cách trồng cây cà tím

– Khoảng cách giữ 2 cây: 55 cm.

– Khoảng cách giữ 2 hàng: 1,8 m.

– Mật độ trồng: khoảng 10.000 cây/ha

Cách trồng

– Khi cây ghép (phần ngọn) trong bầu có 7 – 8 lá, có thể đem trồng được.

– 2 – 3 ngày trước khi trồng, triệt để không tưới nước cho cây con trong bầu. Không được cắt cành nhánh cây con khi trồng.

– 1 ngày trước khi trồng, tưới nước cho đất.

– Khi trồng chú ý chỉnh thân cây nghiêng về một hướng. Chú ý khi trồng không làm rễ bị xây xát. Không nên đặt cây con quá sâu, tốt nhất là đặt cây con sao cho mặt đất trong bầu ngang với mặt đất bên ngoài.

Thời kỳ sau trồng

– Sau khi trồng tưới nước nhiều cho cây trong vòng 3 – 4 ngày đầu.

– 5 – 6 ngày sau khi trồng, tiến hành dặm những cây chết hoặc mọc kém để đảm bảo mật độ cây trồng.

– Cắm cọc đỡ cà sau cấy: dùng cọc khoảng 50 – 60 cm cắm cạnh cây cà và dùng dây cột giữ cây cà khỏi ngã.

Dựng chà le

Để làm giàn đỡ nhánh cà, chà le được cắm gốc ngay giữa líp và nghiêng qua hai bên, 2 cây chà le cách nhau 2 m. Sau đó giăng 2 tầng dây nylon đen theo hàng chà le.

3. Cách chăm sóc cây cà tím ngoài đồng

a) Liều lượng phân bón cho cây cà tím

Lượng phân bón cho 1 ha như sau:

+ Vôi nông nghiệp: 1.000 kg

+ Phân hữu cơ: 30 tấn

+ Super lân: 1.000 kg

+ NPK (20-20-15): 1.100 kg

+ KCl: 100 kg

+ Ure: 100 kg

+ DAP: 50 kg

b) Cách bón cho cây cà tím

– Bón lót: toàn bộ phân hữu cơ, vôi, lân, 50 kg NPK và 50 kg KCl.

– Thúc lần 1: 10 ngày sau khi trồng, bón 150 kg NPK, 50 kg Ure (ngâm chan 50 kg DAP trong suốt quá trình).

– Thúc lần 2: 10 – 12 ngày sau khi thúc lần 1, bón 200 kg NPK, 50 kg Ure và 50 kg KCl.

– Thúc lần 3: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 2, bón 200 kg NPK

– Thúc lần 4: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 3, bón 200 kg NPK

– Thúc lần 5: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 4, bón 200 kg NPK

– Thúc lần 6: 15 – 20 ngày sau khi thúc lần 5, bón 100 kg NPK

Tùy theo tình hình sinh trưởng của cây có thể chan thêm phân bón bổ sung.

c) Dẫn nhánh:

sau khi trồng khoảng 20 – 25 ngày, tiến hành dẫn nhánh chính bằng dây nhựa đen, mỗi dây dẫn 4 nhánh (2 nhánh mỗi bên 2 líp).

d) Tỉa và cắt cành:

2 tuần sau khi bắt đầu thu hoạch, tiến hành tỉa nhánh phụ, không tỉa nhánh chính, loại bỏ trái hư. Nhánh đã thu trái, chừa lại mầm tốt để tiếp tục lấy trái. Thông thường mỗi tuần tỉa một lần tùy theo cây rậm rạp nhiều hay ít. Khi cây cà tím cao khoảng 1,6 m, bấm đọt 4 nhánh chính để cho ra nhiều nhánh phụ để tăng lượng trái.

e) Phòng trừ sâu bệnh cho cây cà tím:

sau khi trồng, chú ý phun thuốc phòng trừ sâu bệnh sau khi điều tra sinh vật hại định kỳ hàng tuần.

Sâu hại: trên cây cà tím thường xuất hiện các loại sâu hại như rầy xanh, bọ trĩ, nhện đỏ, sâu xanh, sâu đục đọt, sâu đục trái.

+ Rầy xanh, bọ trĩ: xuất hiện ở mọi giai đoạn sinh trưởng của cây. Thường tập trung ở mặt dưới lá, đọt non, chích hút nhựa làm cây khó phát triển. Có thể dùng các bậy vàng, bẫy xanh bám dính để phòng trừ, nếu mật độ cao có thể sử dụng thuốc Pyrinex 20 SC, Netoxin 18 SL.

+ Nhện đỏ: xuất hiện lúc cây đã lớn đến giai đoạn thu hoạch. Thường tập trung ở mặt dưới lá, chích hút nhựa làm cây khó phát triển, mất sức, năng suất giảm. Dùng thuốc Confidor 100 SL, Danitol 10 EC để phòng trừ.

+ Sâu xanh, sâu đục trái: xuất hiện mọi giai đoạn sinh trưởng của cây. Sâu cắn phá đọt lá non, bông và đục vào trái. Phun thuốc Regent 800 WG, Lexus 800WP.

Bệnh hại: một số bệnh thường xuất hiện trên cây cà tím như bệnh héo xanh, bệnh đốm lá, bệnh lở cổ rễ cây con, bệnh khảm virus.

+ Bệnh lở cổ rễ cây con: từ khi cây nẩy mầm. Nấm bệnh tấn công phần tiếp giáp giữa rễ và thân làm cây chết nhanh. Phun Validacin 3 L, Bendazol 50 WP, Thane M 80 WP.

+ Bệnh héo xanh: bệnh do vi khuẩn gây ra. Cây bệnh, lá mất màu nhẵn bóng, tái xanh, cụp xuống, ở giai đoạn cây con thì héo toàn cây, cây trưởng thành triệu chứng thường thể hiện ở lá ngọn trước, cũng có thể héo từng nhánh sau đó héo toàn cây. Ở 1 – 2 ngày đầu cây có thể phục hồi phục hồi lại được vào lúc trời mát hoặc về đêm nhưng 2 – 3 ngày sau lá héo không thể phục hồi lại được và toàn cây héo rũ rồi chết.

Luân canh cây trồng với các loài cây kháng bệnh, làm sạch cỏ dại, thoát nước tốt, trồng cây con khỏe mạnh và cây ghép trên những gốc ghép kháng bệnh là một trong những biện pháp kiểm soát bệnh quan trọng.

+ Bệnh đốm lá: xuất hiện giai đoạn cây lớn. Nâm bệnh xâm nhập vào biểu bì lá tạo thành hình bất định và lan rộng. Phun Bendazol 50 WP, Topsin M 700 WP.

+ Bệnh khảm virus: cây bị bệnh thường có ngọn xoăn vàng, nhăn nheo, màu vàng xen kẽ, lá nhỏ dị hình, làm cho lá và ngoạn xoăn lại. Nếu cây bị bệnh giai đoạn đầu thì còi cọc, không phát triển và không ra trái. Nếu cây bị bệnh giai đoạn sau thì sinh trưởng giảm, trái nhỏ và khô nước, chất lượng kém và không tiêu thụ được. Côn trùng là tác nhân truyền bệnh từ cây này sang cây khác.

Thu hoạch cà tím: cây sau khi trồng khoảng 35 – 40 ngày có thể bắt đầu cho trái. Dùng tay để thu cà. Trái cà sau khi hái cần được vận chuyển nhẹ nhàng tránh xây xát, hư dập.

Hình 1: Sâu đục trái

Hình 2: Sâu đục đọt

Qui Trình Kỹ Thuật Sản Xuất Cam Canh An Toàn

Ban hành kèm theo Quyết định số 2661 /QĐ – SNN ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Giám đốc Sở NN &PTNT Hà Nội)

– Vụ xuân: trồng tháng 2 – 4

– Vụ thu đông: trồng tháng 8 – 10

Sử dụng cây giống sạch bệnh, được khai thác từ cây đầu dòng hoặc vườn cây đầu dòng đã được công nhận.

a) Đất trồng:

– Đất trồng phải đảm bảo đủ điều kiện cho sản xuất quả an toàn theo quy định tại mục II của quy trình này.

– Đất trồng phù hợp cho cây cam canh là là đất có độ dốc trên 5 o, mạch nước ngầm thấp, thoát nước tốt, đất có thành phần cơ giới nhẹ (cát pha, thịt nhẹ), độ pH từ 5,5 – 6,5.

b) Chuẩn bị hố trồng:

Đào hố kích thước 0,6 x 0,6 x 0,6m. Bón lót (phân hữu cơ ủ hoai: 20 – 30kg hoặc 1-2 kg khô dầu đậu tương/hố; lân super: 1,0-1,5kg; Kali sunlfat: 0,5kg; vôi bột: 1,0kg. Trộn đều các loại phân với lớp đất mặt bón xuống đáy hố Sau khi bón dùng đất đắp ụ trên mặt hố cao 20 – 30cm, đường kính 0,8 – 1,0m. Công việc đào hố, bón lót phải xong trước khi trồng 01 tháng.

Trồng cây

– Mật độ, khoảng cách: mật độ trồng từ 830 – 1100 cây/ha, tương ứng với khoảng cách 3m x 4m hoặc 3m x 3m. Nơi đất dốc cây được bố trí theo đường đồng mức, với khoảng cách cây như nhau.

– Cách trồng: Đào hố nhỏ chính giữa hố trồng, đặt cây, lấp đất vừa bằng cổ rễ hoặc cao hơn 2-3cm.

4.1. Thời kỳ kiến thiết cơ bản(từ năm thứ nhất đến năm thứ 3):

a) Chăm sóc:

– Sau khi trồng phải tưới nước, giữ ẩm trong vòng 20 ngày đến 1 tháng để cây bén rễ và hồi phục.

– Nên trồng cây họ đậu ở giữa các hàng cây để che phủ giữ ẩm, chống cỏ dại và cung cấp dinh dưỡng cho cây.

b) Bón phân:

Liều lượng (kg/gốc/năm): phân chuồng ủ hoai 10 – 15 (hoặc bột đậu tương, khô dầu đậu tương 2 – 3); đạm urê 0.2-0.3; super lân 0.5-1; kali 0.1-0.2; NPK(5:10:3): 5 – 10.

Phương pháp bón: Phân chuồng ủ hoai (hoặc bột đậu tương, khô dầu đậu tương), 50% lượng phân NPK (5:10:3) bón vào tháng 11 – 12, phân vô cơ chia ra bón 4 lần vào các đợt lộc. Tiến hành rạch rãnh theo tán cây để bón sau đó lấp đất lại.

c) Cắt tỉa tạo tán:

– Từ năm thứ 2 trở đi cần chú ý cắt tỉa bỏ cành vô hiệu, tạo tán để cây phát triển rộng đều ra xung quanh và khống chế độ vươn quá cao của thân cây.

– Trong các đợt bón thúc, làm cỏ kết hợp với tỉa lá già, lá bệnh, cành tăm,…

4.2. Thời kỳ kinh doanh (từ năm thứ 4 trở đi):

a) Chăm sóc:

– Lảm cỏ: làm cỏ kết hợp với xới xáo nhẹ vùng đất mặt.

– Tưới và thoát nước: tưới nước trong thời kỳ khô hạn, khi đất có độ ẩm giảm dưới 60%. Ở vùng đất trũng hoặc bằng phẳng cần đào rãnh thoát nước vào mùa mưa, không để vườn đọng nước quá lâu.

b) Bón phân:

Bón phân cân đối, hợp lý, theo nhu cầu của sinh trưởng của cây.

c) Kỹ thuật chăm sóc, cắt tỉa tạo tán:

– Điều khiển ra hoa, đậu quả: cuối tháng 1 đầu tháng 2 khi lộc cây chuyển sang màu bánh tẻ thì tiến hành đảo cây. Có thể đào bầu nhấc hẳn lên mặt luống (kích thước bầu bằng 1/3 đường kính tán). Khi lớp đất dưới đáy bầu ải trắng, quanh bầu các đầu rễ cam chuyển màu thâm nâu thì hạ cây trồng lại xuống hố kết hợp bón phân, tưới ẩm. Mục đích đảo rễ để cắt đứt bộ rễ tơ, làm trẻ hóa cây, thúc cây phân hóa mầm hoa, ra nhiều quả. Việc đảo cây cần được tiến hành định kỳ sau thu quả mỗi năm.

– Nuôi và giữ quả non: sau khi hết hoa, quả non hình thành tiến hành tiện mở thân cam (khoanh vỏ) khoảng 0,3 -0,5mm để cây không bị chột, không ảnh hưởng đến phát triển của quả, sau đó tiến hành phun kích quả lớn.

– Trong các đợt bón thúc, làm cỏ kết hợp với tỉa lá già, lá bệnh, cắt tỉa cành tăm,…

– Việc cắt tỉa tạo tán tập trung vào 3 thời kỳ chính:

+ Sau thu hoạch: là thời kỳ đốn tỉa mạnh nhất để điều chỉnh tán cây. Cắt bỏ các cành già, cành vô hiệu…

+ Cắt tỉa lộc thu: thực hiện vào tháng 8 – 9 (khi lộc thu còn non, từ 3-4cm). Tỉa bớt lộc thu chỉ để lại mỗi cành 1-2 lộc thu to khỏe để định hình cành mang quả năm sau và cắt bỏ hết các cành vượt.

+ Khống chế và tỉa bỏ lộc đông từ cuối tháng 10 đến tháng 1 năm sau không tưới ẩm, nếu ra lộc đông thì dùng dao, kéo cắt bỏ lộc.

Các đối tượng sâu bệnh hại chính: sâu vẽ bùa, bọ trĩ, rầy chổng cánh, nhện hại rệp muội xanh và rệp muội nâu đen, ruồi vàng, bệnh thối rễ, bệnh vàng lá Greening, bệnh loét, bệnh sẹo,…

5.1. Biện pháp canh tác, thủ công, sinh học:

Chăm sóc cho cây sinh trưởng tốt, vệ sinh vườn cây, tỉa cành, tạo tán ngay từ khi cây còn nhỏ giúp vườn cây thông thoáng; cắt bỏ các cành, lá, quả, thu gom, tiêu hủy để hạn chế nguồn sâu bệnh.

Tăng cường sử dụng phân hữu cơ, khô dầu đậu tương ủ với EM kết hợp với nấm đối kháng Trichoderma; bón phân cân đối, hợp lý, bổ sung đủ yếu tố trung, vi lượng, bón thúc cho lộc non ra tập trung giúp cây sinh trưởng khỏe mạnh, tăng sức chống chịu, hạn chế sự phá hại của sâu bệnh.

Trồng cây chắn gió xung quanh vườn. Trồng cây đúng mật độ, khoảng cách. Trong mùa mưa không để vườn cây quá ẩm thấp, có biện pháp thoát nước nhanh sau khi mưa lớn; tránh tưới phun lên tán cây khi trong vườn có bệnh.

Thường xuyên theo dõi quan sát, để bảo vệ các chồi non vào các giai đoạn cao điểm phát triển của sâu bệnh. Ngắt bỏ lá bị bệnh, sâu gây hại, bắt giết sâu non, trưởng thành khi mật độ thấp. Trường hợp bị hại nặng nên cắt bỏ các chồi lá bị sâu bệnh đem tiêu hủy.

Sử dụng bẫy Methyl Eugenol (Flykil, Jianet, Vizubon – P,…) để trừ trưởng thành ruồi đục quả hoặc sử dụng biện pháp bao quả để phòng ngừa.

Bảo vệ thiên địch tự nhiên như bọ rùa, bọ cánh cộc, ong ký sinh trứng, sâu non, nhộng, nuôi kiến vàng.

Thường xuyên kiểm tra ruộng vườn, phát hiện và phòng trừ sâu bệnh kịp thời.

5.2. Biện pháp sử dụng thuốc BVTV:

Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh, điều tra phát dục sâu hại, dự tính thời gian trưởng thành, sâu non rộ. Dự báo mức độ bệnh hại để phòng trừ đúng thời điểm. Sử dụng thuốc khi mật độ sâu, tỷ lệ bệnh cao, theo nguyên tắc 4 đúng và đảm bảo thời gian cách ly.

Xử lý các loại thuốc khi sâu bệnh hại đến ngưỡng: sâu vẽ bùa 20% lá,lộc, bọ trĩ 20% lá,lộc, rầy chổng cánh 4 trưởng thành/cành non, nhện đỏ, nhện trắng, nhện rám vàng 10% số quả, rệp muội xanh và rệp muội nâu đen 25% cành lá, ruồi vàng trước khi quả bị hại; thối rễ 20% số rễ , bệnh vàng lá Greening 10% cây, bệnh loét, bệnh sẹo 10% lá, quả,….

– Sâu vẽ bùa: Abamectin (Catex 1.8EC, Reasgant 2WG, Brightin 4.0EC…), Emamectin benzoate (Silsau super 3EC, Tasieu 2WG…), Lufenuron (Match 050EC,…), Matrine (Agri-one 1SL, Sokupi 0.36SL…), Petroleum spray oil (Dầu khoáng DC 98.8EC…),…

– Bọ trĩ: Chlorantraniliprole (Dupont TM Prevathon 5SC, …), Emamectin benzoate (Silsau super 3EC, Tasieu 2WG…), Abamectin (Kuraba 3.6EC, Catex 1.8EC….),…

– Rầy chổng cánh: Thiamethoxam ( Actara 25WWG, Fortaras 25WG, …), dầu khoáng (DC – Tronplus 980EC, Catex 1.8EC , SK, …),…

– Nhện hại: Emamectin benzoate (Rolam 50WP, Silsau super 5WP, Dylan 2EC,…), Abamectin (Kuraba 3.6EC, Catex 1.8EC….), Dầu khoáng SK EnSpray 99EC,…

– Rệp muội xanh và rệp muội nâu đen: Chlorantraniliprole (Dupont TM Prevathon 5SC, …), Abamectin (Reasgant 2WG, Brightin 4.0EC…), Thiamethoxam (Actara 25WG…), Spinetoram (Radiant 60SC…),…

– Ruồi vàng sử dụng thuốc: sử dụng bẫy bả Methyl Eugenol (Flykil, Jianet, Vizubon – P,…),…

– Bệnh thối rễ: Ningnanmycin (Cosmos 2SL, Niclosat 2SL…), nấm đối kháng Tricoderma sp.

– Bệnh vàng lá Greening: gây hại nguy hiểm và quan trọng nhất trên cây có múi, cần phun thuốc trừ rầy chổng cánh để phòng bệnh.

– Bệnh loét: Copper Oxychloride + Steptomycin (Batocide 12WP,…), Acrylic acid 4 % + Carvacrol 1 % (Som 5 DD, …), Copper Hydroxide (DuPont Kocide 46.1WG…),…

– Bệnh sẹo: Copper Hydroxide (DuPont Kocide 46.1WG…),…

II YÊU CẦU ĐIỀU KIỆN SẢN XUẤT VÀ AN TOÀN THỰC PHẨM

Khi vỏ quả bắt đầu chuyển sang mầu vàng sẫm, có mùi thơm (tháng 11-12), tiến hành thu hoạch tỉa dần (quả to trước, quả bé sau).

– Mức giới hạn tối đa về kim loại nặng trong quả theo quy định tại QCVN 8-2:2011/BYT.

– Mức giới hạn tối đa về thuốc bảo vệ thực vật và hoá chất khác theo Thông tư số 50/2016/TT-BYT ngày 30/12/2016 quy định giới hạn tối đa dư lượng trong thực phẩm

– Hàm lượng một số kim loại nặng trong đất dưới ngưỡng cho phép: Asen (As): ≤ 15,0 mg/kg đất khô; Cadimi (Cd): ≤ 1,5 mg/kg đất khô; Chì (Pb): ≤ 70,0 mg/kg đất khô; Đồng (Cu): ≤ 100,0 mg/kg đất khô; Kẽm (Zn): ≤ 200 mg/kg đất khô; Crom (Cr): ≤ 150,0 mg/kg đất khô.

– Đất trồng không chịu ảnh hưởng trực tiếp của các nguồn gây ô nhiễm như bãi rác, khu dân cư, nghĩa trang, bệnh viện…

Hàm lượng của một số kim loại nặng trong nước dưới ngưỡng cho phép: Thuỷ ngân (Hg): ≤ 0,001 mg/lít; Cadimi (Cd): ≤ 0,01 mg/lít; Asen (As): ≤ 0,05 mg/lít; Chì (Pb): ≤ 0,05 mg/lít.