【#1】Quy Trình Và Kỹ Thuật Bón Phân Cho Cây Mai Vàng

Với cây mai thì việc bón phân chỉ thực hiện 3 lần chính trong năm, lần thứ nhất sau Tết dùng phân vô cơ để hồi sức cho cây mai, lần thứ hai bón từ tháng 4 âl đến giữa tháng 8 âl, đây là lần bón phân chính để mai vừa phát triển vừa tạo nụ hoa nở đúng dịp tết và bón lần thứ ba khi vừa gần hết mùa mưa (tháng 10 âl) chủ yếu là lân và kali để nuôi nụ.

I. Đại cương về việc chăm sóc cây mai :

Cây mai ngoài thiên nhiên sống rất khoẻ vì có bộ rễ ăn sâu vào đất hấp thụ những chất cần thiết để phát triển, để kháng bệnh nó phát triển theo thời tiết một cách tự nhiên nhưng với cây mai trồng trong chậu thì bộ rễ bị cắt đi rất nhiều, đa phần chỉ còn loại rễ cám nằm hoàn toàn trong chậu , sống được nhờ dưỡng chất do người trồng cung cấp mà việc cung cấp nầy khó có thể đủ và đúng theo nhu cầu của cây ở từng giai đoạn .

Muốn chăm sóc để mai có hoa nhiều trong ngày Tết thì người làm công việc nầy phải hiểu một cách cơ bản về các đặt tính sinh lý của cây mai như giai đoạn nào mai sinh trưởng, giai đoạn nào cây mai sinh sản , phải biết ở mỗi giai đoạn cây mai cần loại phân bón nào, cần phòng bệnh gì …để có biện pháp chăm sóc thích hợp. Công việc chăm sóc phải liên tục, chỉ cần lơ đãng vài ba ngày thì kết quả sẽ không như ý mình. Trong việc chăm sóc cần phải chú ý một số nguyên tắc như sau:

1. Phòng bệnh hơn chữa bệnh:

Mai có đặc tính là cây hoang dã nên sức sống rất mãnh liệt ở môi trường thiên nhiên vì có bộ rễ phát triển rất mạnh nên chỉ cần ở một nơi có độ ẩm tương đối thì nó có thể sống được, nhưng khi ta trồng chúng trong chậu bộ rễ dài không còn nữa mà chúng sống nhờ vào hệ thống rễ cám sinh ra khi rễ cái bị cắt mất , vì vậy với cây mai trồng chậu nếu không đủ dinh dưỡng cây sẽ phát triển rất chậm và nhất là dễ bị sâu bệnh tấn công.

Vì khả năng tự nhiên bị mất đi nên khi cây một khi bị bệnh sẽ chậm hồi phục, nếu bệnh nặng hơn cây bị suy thì việc hồi phục phải tính bằng đơn vị năm chứ không phải là vài ba tháng. Việc chăm sóc mai nhất là mai trồng chậu cần thiết phải chú ý:

a. Phải đủ và cân đối dinh dưỡng cho cây : muốn thế thì ta không nên bón nhiều phân vô cơ mà nên sử dụng phân gà, phân bò, hai loại phân sau này phải ủ thật hoai và không nên bón một lúc quá nhiều ( bón ít và bón nhiều lần )

b. Vệ sinh cây: phải rữa sạch rong rêu, nấm móc bám lâu ngày trên cây vì chúng chính là môi trường tốt cho các nấm bệnh bám vào. Thường xuyên kiểm ta và cắt tỉa bớt những cành mọc chen bên trong (những cành nầy chỉ tranh dinh dưỡng chứ không cho được bao nhiêu hoa) nhất là trong mùa mưa.

c. Phun ngừa sâu bệnh thường kỳ không để khi sâu bệnh tấn công rồi mới phun, cây dù có hết sâu bệnh cũng mất sức đi một phần. Nếu trồng ít thì nên dùng các thuốc có nguồn gốc sinh học hay vi sinh để phòng bệnh cho cây là tốt nhất ( Agrostim TM, Wehg,…)

2. Phải là một chuyên gia bắt bệnh của cây mai :

Tùy theo sức khỏe của cây mà có biện pháp thích hợp cho từng cây, không giáo điều rập khuôn theo một hướng dẫn nào đó vì những hướng dẫn đó chỉ mang tính chung chung cho các cây mai bình thường.

Thí dụ hướng dẫn như: sau Tết thay đất cho cây nhưng lúc ấy cây bị suy hoặc trời quá nóng hoặc cây đang bị sâu bệnh mà ta tiến hành thay đất thì có thể làm cho cây suy thêm hoặc có thể chết. Người chăm sóc mai phải biết nhìn tán lá , nhìn các biểu hiện của một số lá đánh giá được cây mai đang thiếu chất gì, dư chất gì, cần bón phân như thế nào…một số các trường hợp cụ thể :

+ Lá cây bị vàng :

Trường hợp cây mới bứng: Những lá già bị vàng chứng tỏ một phần rễ bị mất đi phần còn lại không đủ khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng nuôi cây, nếu lá không vàng mà cả lá non lá già bị héo chứng tỏ bộ rễ bị tổn thương trầm trọng cây có thể chết nếu không được chăm sóc đúng mức.

: Đây là khuyết điểm lớn nhất của người mới bắt đầu trồng mai, bao giờ họ cũng nôn nóng muốn bón phân, phun thuốc thế nào để cho cây mau lớn, để cây có nụ nhiều, từ đó họ bón phân quá nhiều, phun thuốc quá nhiều những việc làm này làm cho cây mai chẳng những không lớn được mà có lúc không còn tồn tại nữa. Nên nhớ tâm càng nóng vội thì việc càng khó thành, việc chăm mai cũng vậy.Trường hợp cây đang trồng bình thường mà lá bị vàng: Có các trường hợp xảy ra:

+ Cây bị khô : cây không nhận đủ nước , lá sẽ biến màu nhạt rồi vàng, khô dần. Nguyên do nước tưới quá ít hoặc chỉ tưới ướt trên bề mặt đất và nước chưa đủ thấm xuống đã bốc hơi khô đi, có thể không khí quá khô làm lượng nước trong lá bốc hơi nhanh

+ Nước trong chậu bị đọng lại : Nước đã bịt kín các khe hở trong đất, không khí không vào được trong đất , một số chất hữu cơ trong đất dưới tác dụng vi khuẩn tạo ra khí độc cho cây như CH4, SO2 …Phải ngưng tưới, không được bón phân tiếp và xới đất (không để đứt rễ nhiều) lên để tạo thông thoáng, kiểm tra các lỗ thoát nước

+ Nhiệt độ quá cao : nhất là tháng sau Tết mai được chưng mất sức mà nền nhiệt quá cao làm mai thoát nước nhanh. Cần phải đưa vào nơi mát và thông thoáng, tăng cởng thêm đạm và kali cho cây .

+ Thiếu ánh sáng : Mai là cây thích ứng với ánh sáng mạnh, khi ta đặt cây vào các vị trí thiếu nắng có thể làm cho lá bị vàng nhạt.

+ Phân bón quá nhiều :Nhiều người muốn mai lớn nhanh nên bón phân quá nhiều và đôi khi bón liên tục , cây bị sốc phân làm cho bìa lá bị vàng, khô đi nhất là phân hữu cơ chưa hoai hoặc phân vô cơ qua liều . Phải ngừng ngay việc bón phân , tưới thật nhiều nước và tưới nhiều lần trong vài ngày, sau đó đem chậu vào nơi thoáng mát để yên cho cây, hàng ngày tưới nước vừa phải như các cây khác. Trường hợp bị sốc phân qua nặng nên thay chậu và thay đi một ít đất.

+ Đất có độ kiềm cao: Những vùng đất có khí hậu lạnh thường có độ kiềm cao, trong khi mai thì thích hợp cho vùng đất “hơi chua” Nên tưới thêm sulfat sắt 0.2 %

+ Thiếu phân : Lá sẽ có nhiều biểu hiện khác nhau tùy theo thiếu nguyên tố gì nhưng thường thì màu xanh nhạt dần chuyển qua vàng, nhỏ. Cành phát triển yếu. Nên thay đất và tăng cường phân bón cho cây.

-Lá cây biểu hiện mất cân đối của dưỡng chất hay thiếu hụt một nguyên tố đa lượng , trung lượng hay vi lượng nào đó: Người trồng mai có kinh nghiệm có thể nhìn màu sắc của lá, các chi tiết khác biểi hiện trên lá có thể đoán biết được cây bị mất cân đối chất, cụ thể thiếu nguyên tố nào, xin có một vài thí dụ:

+ Thiếu nguyên tố Đạm :Lá có màu nhạt, còi, thân bé và nứt, nếu năng lá sẽ bị vàng khô nhưng ít bị rụng

+ Thiếu nguyên tố Lân: Lá có màu xanh sẫm, mọc chậm, gân lá có màu vàng hoặc tím, cuống lá màu tím và dễ rụng

+ Thiếu nguyên tố Kali: Lá phía dưới có đốm, đầu và mép lá bị khô vàng, biến thành màu nâu và xoắn, lá phía dưới dễ bị rụng

+ Thiếu nguyên tố Calci: Đầu lá khô thối thành dạng mốc câu, chồi thường bị chết, bộ rễ bị chết

+ Thiếu nguyên tố Sắt : Lá mới ra bị vàng nhưng gân lá có màu xanh, đầu lá khô và lan rộng, chỉ còn gân lá màu xanh.

+ Thiếu nguyên tố Manhê (Mg): Lá phía dưới vàng, xuất hiện đốm khô, gân lá không vàng, mép lá cuốn ngược, giữa gân lá vàng khô.

+ Thiếu nguyên tố Mangang (Mn): Lá mới ra bị vàng chỉ gân lá màu xanh, hình thành mạng lưới nhỏ, đốm bệnh ở khắp mặt lá, hoa nhỏ

+ Thiếu nguyên tố Bo (B) : Đầu ngọn chết khô, góc lá non bị thối, thân và cuống lá dòn, bộ rễ bị chết nhất là đầu rễ

+ Thiếu Lưu huỳnh (S): Lá mới xanh nhạt, nhạt vùng giáp giới gân lá và thịt lá, có lúc có đóm nhưng không khô.

3. Bệnh nôn nóng người trồng mai II. Quy trình chăm sóc mai trong năm :

Mai thuộc loại chính là kiểng hoa nhưng nó cũng có thể tạo thành kiểng dáng, kiểng thế hoặc bonsai đều rất đẹp, ít có loại cây nào được như thế, trồng mai người ta thường chú ý đến hoa nhiều hơn nhưng nếu có được cây mai vừa có hoa đẹp vừa có dáng thế dễ coi càng quý hơn.

Để có cây mai đẹp chưng trong các ngày đầu Xuân ngoài việc chăm sóc, tạo dáng thế thích hợp thì việc chăm sóc để chuẩn bị cho hoa nở vàng trong các ngày Tết là việc phải làm cả năm mới quyết định, nhất là giai đoạn sau Tết.

Mai thuộc họ tiểu mộc , cũng như các loại cây khác, nó phát triển phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết mà thời tiết lại phụ thuộc phần lớn vào chu kỳ trái đất quanh quanh mặt trời, vì thế chăm sóc mai phải dựa vào dương lịch (dl) mới chính xác nhưng Tết Nguyên Đán lại căn cứ vào âm lịch (âl) .

Chúng ta để ý xem nếu mai trổ rộ nhằm vào tiết lập xuân thì hoa trổ nhiều và đẹp tươi hơn nở các thời điểm khác. Việc nầy rất khó cho người chăm sóc mai nhất là gặp năm nhuần thì tiết lập xuân rơi vào ngày 4 tháng 2 dl mà Tết lại sau tiết lập xuân hơn 13 ngày, khả năng mai mở sớm rất cao.

Như vậy năm nay để điều khiển hoa nở ta phải có biện pháp điều chỉnh phân bón, nước tưới, bộ lá hợp lý mới đạt kết quả cao được (không nói đến yếu tố thời tiết bất thường).

Quan sát công việc của nhà vườn, ta thấy họ làm theo một quy trình nhất định (do thói quen họ không gọi là quy trình ) tháng nào làm việc gì đều như có lịch cả. Trong bài này tôi đề nghị một quy trình chăm sóc mai cho cả năm để các bạn tham khảo và khi thực hiện thì tự điều chỉnh cho hợp hoàn cảnh địa lý nơi ở của mình nhất là các bạn ở miền Trung .

Tôi tạm chia công việc làm 6 giai đoạn, mỗi giai đoạn có 2 tháng âm lịch ( các giai đoạn chỉ tương đối và các tháng được dùng là tháng âm lịch, trong trường hợp dùng tháng dương lịch thì có ghi chú bằng “dl”). Chủ yếu công việc trình bày ở đây trên cây mai trồng trong chậu và quy trình nầy bao gồm các việc như: tỉa cành, bấm đọt, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), dùng thuốc điều hoà sinh trưởng…

– Công việc tháng giêng và tháng hai (giai đoạn hồi sức):

– Mai được chưng trong nhà nhiều ngày ( ít nhất 7 ngày đến 15 ngày ) bị thiếu ánh sáng , lá có màu xanh lợt, cành ra dài ,có khi người chưng quên không tưới nước lại đổ bia, nước ngọt vào gốc, vì vậy mai bị mất sức (nếu không gọi là kiệt sức) rất nhiều nhất là sau giai đoạn cây phô hết nội lực của mình ra khi trỗ hoa , nên việc đầu tiên ta phải “hồi sức” cho mai bằng cách:

Nếu là mai chưng trong nhà : Đưa chậu mai ra ngoài sân nới có bóng mát và thoáng (để cây dưới nắng sẽ bị cháy lá , nếu không có điều kiện thoáng mát thì nên giăng lưới lan cho cây không chịu ánh nắng quá nóng của mặt trời)

– Sau những ngày Tết mặc dù hoa vẫn chưa tàn hết hoặc còn một số nụ chưa nở dùng kéo cắt tất cả hoa trên cây, kể cả hoa đã nở và hoa chưa nở để nhựa tập trung nuôi cây thay vì nuôi đài hoa tạo hạt.Việc ngày nên làm trước mồng 15 âl.

– Pha phân NUTRILUX Super Roots kích rễ, bung chồi, phục hồi cây trồng (25g/ bình 16 lít), hoặc phân Urê thật loãng (1 muỗng caphê nhỏ – 4g- pha với ít nhất 8 lít đến 10 lít nước) có thể pha chung với GA 3 ( 1 g/30 lít nước) tưới hoặc phun trên cây từ ngọn xuống đất cho ướt cả cây, ( hoặc có thể dùng thuốc kích thích chồi, lá khác phun đều trên cây) Công việc nầy chỉ thực hiện vào buổi chiều trời thật mát. Chỉ tưới một lần. Việc thay đất, thay chậu cho cây phải đánh giá thật kỹ, nếu cây bị mất sức thì không nên thay đất lúc nầy mà phải dưỡng để bộ rễ phát triển giúp cho cây hồi phục và chuẩn bị cho giai đoạn phát triển trong mùa Xuân. Phải chú ý thêm ở miền Nam thì qua Tết khí hậu rất nóng nên việc thay đất rất dễ làm cho cây bị mất sức , nếu cây đang bị yếu có thể chết.

Việc thay đất cho cây không nên thay mỗi năm mà chỉ thay đất khi bộ rễ đã choán đầy hết cả chậu , rễ có màu vàng sậm. Thường thì hơn 2 năm thay đất một lần.

Trường hợp cây chưng ngoài sân không mất nhiều sức cũng phải cắt bỏ tất cả nụ và hoa có thể tỉa tán hoặc thay đất nếu cần.

– Từ rằm tháng giêng trở đi nếu cây sung lại ta có thể xả bớt 1/3 tàn , nhất là những cành bị nấm, sâu bệnh mọc chéo phải cắt đi hết. Chú ý không nên cắt một lúc hết lá trên cây làm cho sự hô hấp và quang hợp bị gián đoạn cây lại bị mất sức lần nữa.

Các bạn chú ý là các cành phía trên thường non hơn các cành bên dưới lại nhận được ánh sáng (quang hợp) nhiều hơn nên cành phía trên phát triển mạnh hơn cành bên dưới, vì thế khi tỉa cành thì những cành bên dưới không nên cắt ngắn quá , vì như thế cành bên dưới chưa phát triển bao nhiêu thì bị cành phía trên che hết rồi . Nguyên tắc tỉa cành chung là “dưới dài-trên ngắn”.

Công việc tỉa thêm cành ta có thể ngấm nghía rồi thực hiện từ từ trong tháng giêng cũng được. Sau khi tỉa cành nên tổng vệ sinh cho cây bằng cách dùng bàn chải để chải sạch các rong rêu nấm mốc trên cây nếu có mái rửa xe hạ áp lực xuống vừa phải để rửa sạch cây, tránh dùng áp lực cao làm bong tróc vỏ cây , sau đó có thể dùng thuốc có hoạt chất Hexaconazole hoặc carbedazim phun đều lên khắp cây .

Trong đầu tháng hai nếu cây trồng trong chậu phát triển mạnh, tán lá xanh, có rễ ra bít hết chậu thì phải thay đất mới cho cây , nếu mai trồng bằng hổn hợp xơ dừa, tro trấu thì các bạn có thể đưa mai ra khỏi chậu, dùng dao bén gọt bớt các rễ già xung quanh chậu (rễ già có màu nâu sậm và hơi khô) , sau đó đưa cây lại vào chậu và bổ sung chất trồng hổn hợp.

Nếu mai trồng bằng đất thịt thì dùng cái bay nhỏ moi xung quanh chậu sâu xuống phía dưới chậu, chặt bớt rễ già quanh chậu bỏ bớt đất và rễ đi, đưa đất thịt (trộn thêm xơ dừa) vào thay phần đất cũ. Chú ý là không nên bón phân lúc nầy vì rễ bị chặt mất nên khả năng hấp thụ kém, chất dinh dưỡng sẽ theo nước tưới ra ngoài. Muốn vô phân ít nhất phải hơn một tháng nữa mới thực hiện. Trong trường hợp cây chưa cần phải thay đất, ta có thể bón phân cho cây lúc nầy.Trường hợp không thay đất thì nên tưới phân cho cây (ngâm Kali trên nữa tháng , khi tưới nên pha loãng)

Trong giai đoạn nầy vì trời miền Nam nắng nhiều nên phải chú ý tưới nước ít nhất mỗi ngày 2 lần cho chậu trồng bằng chất trồng hổn hợp và một lần cho chậu trồng bằng đất thịt. Quan sát trên mặt chậu thấy đất khô mới tưới và cũng đặc biệt chú ý đây là giai đoạn bọ trĩ hoạt động nên phun thuốc ngừa hoặc quan sát thường ngày nếu thấy có hiện tượng bọ trĩ tấn công phải phun thuốc ngay nhất là khi cây sắp bung tược non .

Nấm hồng nhiễm từ mùa mưa năm trước cũng có thể xuất hiện trong những ngày nắng nóng và không khí có độ ẩm cao. Có thể pha chung thuốc bọ trĩ và nấm hồng để phun ngừa cho cây. Để chống chỏi trời nắng nóng cây rất cần tiêu thụ một lượng đạm và Kali, nếu cây bị bón dư đạm thì với nhiệt độ cao phân đạm sẽ phân huỹ thành khí NH3 gây độc cho cây.

– Công việc tháng ba và tháng tư (giai đoạn ổn định)

Để chuẩn bị đủ dinh dưỡng cho mai phát triển thì ngay từ đầu tháng ba ta nên bón phân cho mai nhất là phân phân chuồng để có đủ thời gian cho phân giải phóng chất đạm cung cấp cho cây trong giai đoạn sinh dưỡng sinh trưởng .

Nếu bón phân vô cơ thì chậm hơn khoảng sau 20 tháng 3 cũng được. Khi những cơn mưa đầu mùa làm mát dịu không khí nếu mưa kèm theo nhiều sấm sét ( sấm sét tổng hợp chất đạm cho đất) thì mai bung tược rất nhanh, rễ non cũng phát triển mạnh. Cây cần lượng dinh dưỡng lớn, nếu có đủ chất thì chồi non sẽ vượt nhanh làm nền cho chồi hoa phát triển trong những tháng sau.

Từ sau những cơn mưa cuối tháng ba sang tháng tư thì nhiệt độ trong không khí dao động có biên độ lớn , lúc thì mát , lúc oi bức . Giai đoạn nầy nấm hồng phát triển mạnh, cần thiết phải cắt tỉa bớt những cành có dấu hiệu bệnh, tạo thông thoáng cho cây , phun thuốc ngừa hoặc trị bệnh cho cây.

Cần chú ý việc bấm đọt để cây phát triển nhiều chôi hơn. Vì cây rất cần phân lân trong giai đoạn tạo nụ nhưng lân vô cơ ở dưới dạng Oxyt nên cây không thể hấp thụ trực tiếp được nên cuối tháng 3 al nên bón mỗi cây một ít lân super và lân vi sinh để lân có đủ thời gian để vi sinh phân huỷ giúp cây hấp thu.

– Công việc tháng năm và tháng sáu (giai đọan tích luỹ ):

Tháng 5 và tháng 6 là giai đoạn cây tích luỹ chất dinh dưỡng nên phát triển rất mạnh. Đây là giai đoạn ổn định dáng thế cho cây. Tược non phát triển mạnh ta phải uốn nắn để tạo dáng cho mai hoặc bấm đọt để tạo tán cây theo ý muốn.

Đây là giai đoạn tạo dáng tốt nhất cho cây, không nên để cành ra dài mới cắt làm mai bị mất sức , cành nào không muốn phát triển phải bấm đọt ngay để chất dinh dưỡng tập trung nuôi chồi khác .Nếu không là năm nhuần thì trong tháng 6 ta tạo dáng lần cuối cùng (năm nhuần có thể thực hiện trong tháng 7).

Để chồi nách thành nụ hoa ta giảm hẳn phân đạm (chỉ dùng một lượng nhỏ để giữ cân đối dinh dưỡng cho cây), tốt nhất là không sử dụng phân vô cơ nữa . Để hình thành nụ tốt cần tăng lượng lân lên bằng cách bón phân hữu cơ, nếu trồng trong chậu không sử dụng nhiều quá .Chú ý rằng đây là giai đoạn mưa tăng dần về lượng , thường xuyên kiểm tra nấm bệnh cho cây , tốt nhất nên phun thuốc ngừa nấm bệnh để phòng các bệnh cháy lá, rỉ sắt, thán thư, nấm hồng …bọ trĩ cũng còn phá hoại cây trong giai đoạn nầy (đã giảm nhiều so với các tháng trước) cũng cần để ý để phòng trị chúng.. Một số nụ hoa cũng hình thành từ tháng 6 âl. Nếu cây phát triển không cứng cáp lắm cần bổ sung thêm phân kali.

Nụ hoa hình thành từ sau tiết hạ chi (21/6 dl) chỉ là những sơ khối trong nách lá đến trong tháng 7 dl thì phát triển thành nụ

:Từ tháng cuối tháng 5 dl trở đi một số cây đã hình thành mắt kim ở nách lá, khi bấm đọt các mắt kim nầy sẽ phát triển thành tược non, các mắt kim không phát triển thành tược non qua tháng 7 dl sẽ hình thành nu hoa

Công việc tháng bảy và tháng tám (giai đoạn phát triển nụ hoa ) :

Đây là giai đoạn phát triển nụ hoa của mai lại nhầm vào giai đoạn trời mưa dầm, lúc nào thân cây và lá cây cũng bị ướt nên nấm mốc, rêu dễ phát triển , đất trong chậu cũng ẫm ướt phải thường xuyên kiểm tra xem chậu có bị đọng nước không?, nếu thấy đất trong chậu thoát nước chậm hoặc đọng nước phải kiểm tra và thông lỗ thoát nước cho chậu. Phải có gắng giữ bộ lá cho cây để việc quang hợp được thuận lợi , nụ hoa phát triển hoàn chỉnh hơn.

Trường hợp để sâu rầy hoặc nấm lá phá họai một phần lá bị rụng đi và cây có thể trổ hoa khi trời giảm mưa. Chú ý từ tháng 7 trở đi (cao điểm tháng 8) nhện đỏ bắt đầu phát triển , đây là loại côn trùng tấn công phía trên lá từ bánh tẻ đến là già , lớp biểu bì mặt trên lá bị hư gây khó khăn cho việc quang hợp của cây .

Kể từ rằm tháng 8 trở đi việc bấm đọt, tỉa cành đều phải ngưng hẳn . Chú ý kiểm tra thường xuyên vườn nếu thấy có hiện tượng sâu bệnh phải phun thuốc phòng trị ngay. Nếu không cần thiết thì không nên thay chậu trong những tháng mưa dầm . Kiểm tra chậu thường xuyên xem có bị bít lỗ làm nước đọng hay không nếu nước thoát chậm phải thông ngay lỗ thóat nước, nếu để nước đọng lâu một phần lông hút bị hư ngăn cản việc hấp thu nguồn dinh dưỡng của cây.

– Công việc tháng chín và tháng mười (giai đoạn hình thành) :

Trong giai đoạn nầy vẫn còn mưa dầm vào đầu tháng 9 sau đó giảm dần đến cuối tháng 10 thì giảm hẳn , nụ hoa đã hình thành và sẳn sàng bung ra khi đủ điều kiện, vì vậy ta phải biết điều chỉnh bộ lá cho cây, tay nghề hơn thua nhau là ở giai đoạn nầy , nếu để mai ít lá quá thì có khả năng sẽ nở khi mưa giảm hẳn, để mai nhiều lá quá thì nụ hoa không phát triển tốt được và có lúc mai lại bung cành non nữa. Vì vậy việc điều chỉnh bộ lá cho mai rất cần thiết (phải dựa vào kinh nghiệm từng vùng).

Nguyên tắc chung là không sử dụng phân có hàm lượng đạm cao trong giai đoạn này nhưng nếu bộ lá quá ít lại già quá thì phải dùng phân bón lá loại 20-20-10 phun để tạo thêm lá non kềm giữ sự phát triển nụ thành hoa . Trường hợp cây còn bộ lá xanh rợp ta phải biết xiết nước để một ít lá mai vàng và rụng đi giảm bớt bộ lá để nhựa nuôi chồi hoa.

Việc nầy rất nguy hiểm nếu ta đánh giá không đúng làm lá rụng quá nhiều làm mai bung nếu không kinh nghiệm và không có thời gian theo dỏi khi xiết nước thì không nên làm . Trường hợp mưa giảm , trời nắng nhiều phải tưới cây ít nhất mỗi ngày một lần.

– Công việc tháng mười một và tháng mười hai (giai đoạn hoàn chỉnh ) :

Chăm sóc tốt trong giai đoạn nầy quyết định cho chất lượng hoa Tết. Ta biết trong lúc nầy nụ hoa sẳn sàng bung nụ khi có điều kiện nhưng để hoa trổ đạt chất lượng hơn như : hoa lâu tàn hơn, màu tươi hơn, lượng hoa mỗi nụ nhiều hơn và hoa thơm hơn thì phải gia công thêm nữa vì thế việc bón thúc là cần thiết. Từ đầu tháng mười hoặc chậm nhất là giữa tháng mười phải bón thúc cho mai. Việc bón thúc không sử dụng phân hữu cơ mà phải dùng phân vô cơ mới có tác dụng tốt.

Để làm tăng chất lượng hoa ta bón cho mai phân lân và kali .Phân lân có thể rãi trên mặt đất mỗi cây khỏang 200 g hoặc pha nước tưới vào gần gốc mai (phân không tan hoàn toàn trong nước), phân kali thì pha 1 muỗng caphê nhỏ với 5 lít nước tưới lên đất gần gốc mai, chỉ cần tưới 2 lần cách nhau một tuần, muốn đạt yêu cầu hơn ta nên ngâm trước lân , kali ít nhất 1 tháng để tưới cho mai . Có người còn dùng phân bón lá loại thúc ra hoa để phun xịt ( xin tìm hiểu kỹ tác dụng của phân ), có thể phun từ 2 đến 3 lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 7 ngày.

Đầu tháng 12 có thể bón thêm một ít phân Lân để giúp cây sau khi trỗ không mất sức nhiều và hoa ít rụng hơn. Cuối cùng phải “canh” để lảy lá , lá được lảy vào thời điểm nào phải do kinh nghiệm ncsm quyết định dựa vào diễn biến của thời tiết, phải dựa vào độ lớn nhỏ của chồi nụ, phải dưạ vào tán lá của cây ….(đã có rất nhiều tài liệu nói về vấn đề nây , xin không trình bày thêm).

Sau khi lảy lá không cần phải tưới nhiều nữa nhưng không được để mai bị khô gốc. Hàng ngày quan sát diển biến của mỗi cây nhất là sự phát triển của nụ hoa để điều chỉnh nước tưới hoặc dùng các biện pháp khác để điều chỉnh cho nụ bung vỏ lụa vào ngày đưa Ống Táo .

Tóm lại việc chăm sóc mai phải được thực hiện từ sau Tết , phải chú ý xem các diễn tiến của cây, phải biết dùng phân bón, nước tưới để điều chỉnh cho cây và nhất là phải phòng và trị sâu bệnh thật tốt thì cuối năm mới có kết quả được.

Với cây mai thì việc bón phân chỉ thực hiện 3 lần chính trong năm, lần thứ nhất sau Tết dùng phân vô cơ để hồi sức cho cây mai, lần thứ hai bón từ tháng 4 âl đến giữa tháng 8 âl, đây là lần bón phân chính để mai vừa phát triển vừa tạo nụ , nếu chọn giải pháp bón nhiều lần thì có thể làm như trong Quy trình chăm sóc mai trong năm nhưng không bón quá nhiều và bón lần thứ ba khi vừa hết mùa mưa (tháng 10 âl) chủ yếu là lân và kali để nuôi nụ.

Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể bón phân bổ sung cho cây như lúc trời quá nắng nóng cần phải tưới thêm một ít đạm và Kali để cây chống chọi lại thời tiết hoặc lúc mưa dầm cũng phải bổ sung thêm Kali cho cây.Cũng xin lưu ý cây mai thiếu phân không thể chết mà chỉ chết khi bón phân quá nhiều.

【#2】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Măng Tây Làm Giàu Của Nhà Nông

Nhu cầu của thị trường đối với măng tây là rất lớn. Lượng cung hiện tại không bằng cầu. Mà nguyên nhân chính dẫn đến việc năng suất của măng giảm. Đó chính là việc chăm sóc măng không đúng quy trình dẫn đến măng bị kiệt sức, bị nấm bệnh.

1. Thời vụ trồng Măng tây

Cây Măng tây thường sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ từ 15 đến 30°C. Vì vậy bà con có thể gieo trồng vào 2 thời vụ. Gieo cuối tháng 8 đến đầu tháng 9 để trồng tháng 2, tháng 3 và gieo cuối tháng 2 đến tháng 4 để trồng từ tháng 4 đến tháng 6 dương lịch.

2. Gieo ươm cây giống Măng tây

Cần khoảng 500g hạt giống Măng tây để gieo ươm đủ trồng cho 1 ha với mật độ khoảng 18.000 – 20.000 cây/ha. Ngâm hạt giống Măng tây trong nước ấm khoảng 52°C (2 sôi,3 lạnh) trong 12 giờ. Để tối ưu chất lượng hạt cũng như hạn chế được sự xâm hại của các khuẩn gây bệnh bà con nên ngâm hạt cùng với Chế phẩm sinh học VƯỜN SINH THÁI.

Sau khi ngâm xong, vớt ra đem ủ trong vải sạch cho nứt nanh rồi đem gieo vào bầu ni lông kích thước 12 x 7cm có chứa đất sạch, phân hữu cơ và 1 ít tro bếp. Mỗi bầu gieo 1 hạt, hàng ngày tưới vừa đủ ẩm, chăm sóc cho cây sinh trưởng và phát triển tốt cho đến khi đủ tiêu chuẩn. Thông thường, sau gieo từ 3 – 3,5 tháng, chiều cao cây đạt 25 – 30cm, thân có 1 – 2 nhánh, khỏe mạnh, không sâu bệnh gây hại thì đem trồng.

3. Đất trồng phù hợp cho Măng tây

Chọn các loại đất phù sa, đất đỏ, đất xám, thịt nhẹ có pha cát; đất có độ tơi xốp cao , giàu mùn, giàu chất hữu cơ; thế đất cao ráo, dễ thoát nước; có tầng canh tác dày từ 30 – 40 cm. Độ ẩm đất trung bình từ 65 – 70%, độ pH từ 6,6 – 7,0, không bị phèn chua, không bị ngập úng trong mùa mưa, chủ động tưới nước trong mùa nắng. Đất được cày bừa kỹ, phơi ải, nhặt sạch cỏ dại, xử lý nấm bệnh và tuyến trùng, san cho bằng phẳng. Lên liếp rộng 100 – 120 cm, cao 20 – 25cm.

Thông thường cứ 03 tháng ta tiến hành bón phân trùn quế hoặc phân chuồng ủ hoai có bổ xung lân. Cứ 10 ngày/1 lần phải bón phân NPK và phun các chế phẩm vi sinh như: Chế phẩm sinh học VƯỜN SINH THÁI, WEHG, Agrostim,… để kích thích cây sinh trưởng trổ nhiều măng. Đặc biệt chú ý bổ sung thêm Nấm đối kháng Trichoderma để phòng trị tuyến trùng, nấm bệnh gây hại cho cây. Với việc dùng phân hữu cơ sẽ giúp măng tây tăng khả năng phát triển, thúc đẩy quá trình cung cấp dinh dưỡng cho cây, tăng sản lượng và chất lượng, thời gian thu hoạch và tuổi thọ của măng.

4.1 Giai đoạn bón lót

Bón phân trước khi trồng. Cần khoảng 30 tấn phân trùn quế hoặc phân chuồng ủ hoai có bổ xung vi sinh và lân Đối với đất không tơi xốp thì cần thêm khoảng 30 tấn chất độn như tro trấu, xơ dừa,…đã được khử nước vôi). Kết hợp dùng Nấm đối kháng Trichoderma và 3 tạ NPK.

4.2 Giai đoạn bón thúc – Sau khi trồng 15 ngày:

Bón thúc 150kg NPK 15-15-15. Vun đất cao 5cm đậy gốc bảo vệ rễ. Khi cây con cao dần ta dùng cọc tre hoặc cột bê tông có chiều cao: 1,2m đường kính: 5cm. Tiến hành đóng cọc 2 đầu luống rồi dùng dây nilon hoặc dây điện thoại hỏng căng đôi kẹp lỏng giữa thân cây, giữ cây luôn thẳng. Sử dụng 15ml Chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 45 lít nước phun dưới dạng sương mù đều 1 lượt.

– Sau khi trồng được 30 ngày:

Bón thúc 150kg NPK 16-16-8. Vun đất cao 5cm đậy gốc bảo vệ cổ rễ và giữ mặt luống đất trồng khoảng 80cm so với mặt đất tự nhiên. Luôn giữ cây đứng thẳng. Sử dụng 15ml Chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 45 lít nước phun dưới dạng sương mù đều 1 lượt giúp bộ lá quang hợp tổng hợp chất hữu cơ nuôi dưỡng cây và bộ rễ.

– Sau khi trồng được 45 ngày:

Cắt tỉa những cây nhỏ chọn giữ lại khoảng 3-5 cây mẹ khỏe mạnh trên 1 bụi. Tỉa bỏ cây bị sâu bệnh và cây bị nghiêng ngả, cây già yếu. Xới đất làm cỏ rồi bón thúc 200kg NPK 15-15-15. Vun đất cao 5cm đậy gốc bảo vệ bộ rễ. Giữ độ cao của mặt luống khoảng 80cm so với mặt đất. Cần giăng thêm dây giữ cây hoặc năng dần dây đôi theo chiều cao thân măng. Sử dụng 15ml Chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 45 lít nước phun dưới dạng sương mù đều 1 lượt. Kết hợp tưới bổ sung thêm các chủng nấm có lợi để ức chế sự xâm hạt và phát triển của nấm bệnh bằng viên Chế phẩm Trichoderma NANO (nấm đối kháng).

– Sau khi trồng được 120 ngày:

Khi cây phát triển thêm nhiều thân mới, cọn giữ lại 3 cây mẹ khỏe mạnh trên bụi, tỉa bỏ cây bị sâu bệnh, cây già và cây nhỏ. Xới đất, làm sạch cỏ rồi bón thúc 300kg NPK 16-16-8. Vun đất cao 5cm rồi đậy gốc bảo vệ cổ rễ. Giữ độ cao mặt luống khoảng 80cm so với mặt đất tự nhiên. Giữ cây luôn đứng thẳng để lấy được ánh nắng toàn phần. Sử dụng 15ml Chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 45 lít nước phun dưới dạng sương mù đều 1 lượt.

– Sau khi trồng được 135 ngày:

Giai đoạn này cây bắt đầu cho lứa măng tơ đầu tiên. Ta quan sát thấy cây mẹ phát triển tốt, đường kính gốc khoảng gần 1cm, lá chuyển sang màu xanh đậm thì giữ lại 3 cây mẹ khỏe mạnh trên 1 bụi. Tiến hành cắt bỏ cây bị sâu bệnh, cây bị nghiêng ngả, cây già yếu và cây nhỏ và cành lá phát sinh ở phần gốc khoảng 50cm để thông gió. Xới đất làm sạch cỏ rồi bón thúc 400kg NPK 21-7-14, vun đất cao 5cm rồi đậy gốc lại bảo vệ bộ rễ. Vẫn đảm bảo độ cao của mặt luống so với mặt đất tự nhiên là 80cm. Sử dụng 15ml Chế phẩm Vườn Sinh Thái pha với 45 lít nước phun dưới dạng sương mù đều 1 lượt. Pha viên Chế phẩm Trichoderma NANO với nước để tưới gốc, ngăn ngừa nấm bệnh hại.

Khi thu hoạch lứa măng tơ mỗi ngày, được khoảng 15 ngày thì bón thúc 300kg NPK21-7-14; thu tiếp 15 ngày thì tạm ngừng thu hoạch. Tránh cây bị mất sức làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của đợt thu tiếp theo.

4.3 Giai đoạn bón phân trong chu kỳ dưỡng cây mẹ thay thế

– Khi tạm ngưng thu hoạch lứa măng tơ 15 ngày khi quan sát cây mẹ trẻ thay thế đủ lớn, tiến hành nhỏ 3 cây mẹ già yếu cũ. Xới đất, làm sạch cỏ non rồi bón thúc 400kg NPK 15-15-15. Vun đất cao 5cm đậy gốc bảo vệ cổ. Chiều cao luống so với mặt đất tự nhiên khoản 80cm.

– Khoảng 20 ngày sau, khi ta quan sát đường kính thân cây mẹ mới khoảng 1cm, bộ lá chuyển sang màu xanh đậm thì tiến hành cắt tỉa bớt ngọn măng giữ ở độ cao 1,2m. Bón thúc 12 tấn phân trùn quế có ủ lân hoặc phân chuồng ủ hoai. Kết hợp với Nấm đối kháng Trichoderma + 400kg NPK 21-7-14. Vun đất cao 5cm đậy gốc lại rồi phun thuốc phòng trừ nấm bệnh và sâu hại.

– Sau khi cắt hạ ngọn khoảng 10 ngày, cây bắt đầu cho ra lứa măng mới. Thu hoạch lứa măng này kéo dài khoảng 2 tháng thì cho nghỉ dưỡng cây mẹ thay thế.

– Sau khoảng 1 tháng dưỡng cây mẹ mới thì ta sẽ thu hoạch lứa măng thứ 3 này khoảng 3 tháng. Cứ như vậy cho các đợt cây mẹ mới tiếp theo.

Lưu ý: Chu kỳ thu hoạch măng ngắn hay dài tùy thuộc vào chế độ chăm sóc của người trồng, nó ảnh hưởng đến số lượng cũng như chất lượng của măng rất nhiều. 4.4 Giai đoạn bón phân trong chu kỳ thu hoạch măng

Trong một chu kỳ thu hoạch măng kéo dài khoảng 3 tháng. Cần tiến hành bón thúc phân đều đặn 15 ngày/lần với 400kg NPK 21-7-14. Tùy theo sự phát triển của cây mà ta có thể sử dụng thêm các chế phẩm sinh học bón lá như: Chế phẩm VƯỜN SINH THÁI, WEHG, Agrostim… để kích thích cây măng phát triển cho nhiều măng cũng như chất lượng măng tốt hơn.

5. Cách chăm sóc cây Măng tây – Tưới và thoát nước cho măng tây

Nước tưới là một yếu tố quyết định cho năng suất măng nhiều hay ít. Độ ẩm của đất trồng măng tây luôn luôn được giữ trong khoảng 60-70% là phù hợp nhất.

Mùa hè ở miền bắc nước ta nắng gắt cần phải tưới 2 lần/ngày để đảm bảo độ ẩm cho đất, nên tưới vào buổi sáng sau khi thu hoạch măng xong hoặc cuối buổi chiều mát.

Trong thời gian thu hoạch măng thì không nên tưới vào buổi chiều vì sẽ làm đọng nước trên búp măng làm giảm thành phẩm của măng. Chúng ta có thể tưới nước theo rãnh hoặc phun sương tùy theo thiết kế của mỗi nông trại.

Trong trường hợp mưa kéo dài làm ngập măng thì ta phải dùng bơm tháo nước ngay. Vì bộ rễ của măng bị ngập úng quá 24 giờ sẽ làm ảnh hưởng lớn đến măng và kéo theo nhiều bệnh nấm.

– Cách làm cỏ cho măng tây

Chủ động làm cỏ trước khi trồng măng ra vườn. Từ khi chuẩn bị đất trồng cần làm sạch cỏ, phun thuốc diệt mầm cỏ.

Trước mỗi định kỳ bón phân 15 ngày/ lần, cần phải dọn cỏ sạch sẽ khi cỏ còn non. Tránh trường hợp cỏ già rơi hạt tái sinh ra lớp cỏ con cháu.

Trong thời gian mới trồng được 1-5 tháng do cây còn nhỏ bộ rễ chưa phát triển rộng, để ngăn ngừa cỏ ta có thể phủ lên mặt luống màng phủ nông nghiệp, hoặc tro trấu, xơ dừa, rơm đã được khử mầm bệnh.

Giải pháp sinh học bền vững đem lại hiệu quả kinh tế cao cho Cây Trồng

HỖ TRỢ VÀ TƯ VẤN KỸ THUẬT MIỄN PHÍ: 0962 686 348

【#3】Quy Trình Kỹ Thuật Gieo Ươm Cây Ớt Cay Và Cà Tím Trong Nhà Màng

Quy trình gieo ươm cây ớt và cà tím này áp dụng tại tỉnh An Giang với điều kiện nhà màng cần có khung sườn bằng tầm vông; mái phẳng; độ cao đến đỉnh mái 6,2m; khoảng hở thoát nhiệt cũng là độ lệnh 2 mái rộng 0,5m; mái lợp bằng màng nylon chuyên dụng.

Hông nhà cao 4,5 m, lợp lưới trắng mịn, 54 meshes, cố định và bên ngoài có 1 lớp tưới trắng chống tạt mưa, 54 meshes, chỉ cố định mép trên. Trong nhà có trần (la phông) bằng lưới đen để che 30% nắng. Bên dưới trần có hệ thống tưới phun sương để phun giảm nhiệt khi trời nóng.

Khi gieo và chăm sóc cây giống có thêm vật liệu phủ để che mát và giữ ẩm vỉ bằng vải tối màu, dày, giữ ẩm tốt. Trong nhà có các luống rộng 2,5m, trên mặt luống có căng dây đỡ vỉ, cách mặt đất 20cm; mỗi luống xếp 5 hàng vỉ. Lối đi giữa các luống 30cm.

Việc gieo ươm cây trong quy trình này sử dụng vỉ ươm bằng vỉ xốp, 112 lỗ/vỉ, với giá thể tự sản xuất theo hướng dẫn của quy trình.

Nếu có điều kiện, các lối đi trong nhà màng và đường dẫn ra vào nhà màng đổ bê tông cho sạch.

1. Chuẩn bị luống đặt vỉ

Từ khi gieo hạt đến khi xuất vườn, các vỉ ươm sẽ có 1 lần chuyển chỗ. Do vậy cần chuẩn bị không gian đặt vỉ theo 2 giai đoạn như sau:

– Khu vực đặt vỉ mới gieo: cần các luống đất, phẳng mặt, rộng 2,5m. Hai luống cách nhau bằng lối đi rộng 30cm, thấp hơn mặt luống 10cm. Bên dưới lớp lưới la phông cần có thêm 1 lớp che mát nữa, có thể bằng lưới đen che hoa lan (che 70% ánh sáng) hoặc vải dày, tối màu. Vỉ đặt sát mặt đất. Mùa mưa ẩm, có thể kê vỉ trên hàng cây tầm vông (vỉ cách đất 5-6cm). Cây ở đây khoảng 12-15 ngày.

– Khu vực đặt vỉ chăm sóc cây đến xuất vườn: 12-15 ngày sau khi hạt nảy mầm vỉ được chuyển sang các luống có dàn dây thép đỡ. Các luống cũng có quy cách như trên nhưng có giàn dây thép đỡ vỉ. Bên dưới la phông có thể có hoặc không có thêm 1 lớp che mát cơ động. Nếu trời nắng nhiều, khô, nóng thì cần thêm 1 lớp lưới nữa. Nếu trời âm u, mát thì không cần. Các vỉ được đặt ở đây để chăm sóc đến xuất vườn.

Cách làm dàn dây thép đỡ vỉ: Theo chiều dọc luống, căng 10 hàng dây thép đường kính 2mm, cách mặt đất 20cm để đỡ 5 hàng vỉ. Cứ 2 đường dây thép tạo thành 1 cặp, đỡ vào vị trí cách mép vỉ 5cm. Hai đầu dây thép cột vào cọc đóng chắc xuống đất. Khoảng giữa 2 đầu cọc dùng các viên gạch 4 lỗ (gần 20cm) chống lên.

2. Chuẩn bị giá thể

Nguyên liệu cần có: Đất bột, phân bò hoai mục, mụn xơ dừa, phân vi sinh, tro trấu và tricoderma.

Thành phần và tỷ lệ phối trộn tạo giá thể: đất bột (20% thể tích + mụn xơ dừa (40% thể tích) + tro trấu (30% thể tích) + phân bò hoai mục (10% thể tích). Cứ 1 m3 giá thể trộn 30 kg phân hữu cơ vi sinh và 2 kg Tricoderma

Làm giá thể

Có thể đếm bao hoặc đổ đống tạo hình khối để đo thể tích của tro trấu, mụn dừa và đất rồi trộn theo tỷ lệ nói trên. Tricoderma trộn vào phân hữu cơ vi sinh được rải, trộn đều vào giá thể. Vừa trộn vừa tưới đủ ẩm (nắm chặt thấy mát tay, không có nước rỉ ra). Sau khi trộn đều, tạo đống, ủ 5-7 ngày bằng cách dùng bao bì hay vật liệu tương tự trùm kín.

Sau ủ như trên, đánh ra, trộn đều, bóp vụn rồi đem dùng. Nếu có điều kiện thì dùng máy đánh tơi và sàng. Khi chưa có máy nên dùng khung lưới sàng như sàng cát.

3. Gieo ươm và quản lý nảy mầm

Xử lý hạt giống trước khi gieo

Thông thường để kích thích hạt nảy mầm nhanh và đều thì hạt ớt (hoặc cà tím, cà chua) nên ngâm ủ trước. Cách làm: ngâm hạt trong nước ấm (2 sôi, 3 lạnh) khoảng 12 giờ, vớt ra rửa sạch nhớt rồi ủ ấm hạt cho tới gần nứt nanh thì đem gieo.

Vào giá thể và gieo hạt

Dùng vỉ 112 lỗ để ươm. Đặt vỉ cạnh đống giá thể, dùng tay gạt, khỏa giá thể đầy vỉ. Đưa các vỉ này vào nơi chuẩn bị gieo hạt. Dùng chổi quét sạch mặt vỉ. Tưới nước đủ ẩm vỉ. Dùng bàn tạo lỗ ấn, tạo lỗ từng vỉ. Gieo mỗi lỗ 1 hạt. Rải nhẹ một lớp giá thể để lấp hạt và dùng tay khỏa bằng. Xếp vỉ vào luống ở khu vục đặt vỉ mới gieo, tủ kín vải.

4. Chăm sóc, tưới nước

Ở khu vưc mới gieo

Hàng ngày tưới nước đủ ẩm.Tốt nhất là dùng bình bơm hoặc máy phun nước áp lực cao gắn vòi phun nước mịn để tưới. Thường chỉ cần tưới mỗi ngày 1 lần, tùy thực tế miễn thấy giá thể đủ ẩm. Khi thấy có mầm trắng đội lên thì gỡ lớp vải phủ. Chăm sóc ở đây đến khoảng 12-15 ngày thì chuyển sang khu vực giàn để chăm sóc. Tại đây cần chú ý có thể có bệnh lở cổ rễ gây hại.

Ở khu vực vỉ đã lên giàn

Đồng thời với việc đưa xếp vỉ lên giàn là việc dồn cây cho đủ mật độ. Tức là, lấy cây, cả bầu ở 1 vỉ khác thay vào những chỗ thiếu cây để mỗi vỉ đảm bảo có 112 cây. Hàng ngày tưới nước đủ ẩm. Mỗi ngày nên tưới 2 lần, sáng và chiều. Khi cây đã lớn, nếu ít thì dùng thùng sa, nếu nhiều thì dùng máy bơm gắn ống nhựa dẻo có gương hoặc dùng máy bơm áp lực cao gắn vòi phun mịn để tưới. K inh nghiệm dùng gương sen mua ở Lâm Đồng là tốt nhất.

Chú ý phải tưới cây con bằng nước sạch. Tốt nhất là nước giếng khoan đã được bơm lên chứa trong bể chứa vài ngày. Ở khu vực này có thể có ít sâu, bệnh, chú ý bọ trĩ, nhện đỏ.

5. Bón phân

Trong khoảng 15-20 ngày sau gieo quan sát tình trạng cây tốt hay xấu để điều chỉnh. Nếu cây xấu, tưới bổ sung phân hóa học, dùng DAP (18-46-0), ngâm nước cho tan rồi pha loãng để tưới. Nồng độ để tưới là 0,3-0,5%, tức 300g đến 500g phân pha 100 lít nước (tùy mức độ xấu của cây). Nên dùng bình xịt hoặc máy phun áp lực cao có đầu vòi tạo nước dạng hạt mịn để phun ướt giá thể. Có thể pha thêm K-humat hoặc Atonik vào vào dung dịch DAP nói trên (theo hướng dẫn trên bao bì). Nếu cây có khả năng quá tốt, quá mập thì giảm nước tưới để hãm cho cây cứng lại.

6. Phòng trừ sâu bệnh hại

Nói chung, sâu bệnh trong vườn ươm không nhiều như ngoài ruộng và dễ phòng trị.

6.1. Các loại bệnh chính và cách phòng trị

Ở vườn ươm thường gặp các loại bệnh do nấm gây nên và nhiều nhất là lở cổ rễ, chết rạp cây con do các nấm Pythium, Rhzoctoinia, Fusarium, Sclerotium, trong đó nhiều nhất do Pythium. Đôi khi cũng có bệnh thán thư gây hại sớm.

Trong phần chế biến giá thể có hướng dẫn dùng phân vi sinh. Trường hợp không có phân vi sinh có thể sử dụng Tricoderma hoặc chế phẩm vi sinh TKS Pseudomonas trộn vào giá thể. Nếu sản xuất lâu ngày, áp lực bệnh nhiều, để tăng khả phòng bệnh nên phun bổ sung tricoderma, hoặc chế phẩm nói trên ngay khi vừa gieo hạt.

Trong những trường hợp bệnh hại nặng có thể dùng một trong các loại thuốc sau để hạn chế bệnh lây lan như: Rovral, Ridomil MZ, Viroval, Hạt vàng, Carbendazim, Benlat… (dùng đối với bệnh do nấm Sclerotium rolfsii); Aliette, Ridomil, Phosacide… (dùng đối với bệnh do nấm Phytophthora capsici); Validacin (đối với bệnh do Pythium).

Các loại bệnh khác, nếu có, phòng trừ phù hợp từng đối tượng.

6.2 Các loại sâu hại chính và cách phòng trừ

Trong vườn ươm thường có rệp, bọ trĩ, nhện đỏ, ít khi gặp sâu vẽ bùa (ruồi đục lá), sâu tơ, sâu đàn.

– Rệp, bọ trĩ, nhện đỏ thường bám và chích hút mặt dưới lá. Khi phát hiện dùng Actara, Biohopper hoặc Almat phun theo nồng độ hướng dẫn.

– Ruồi đục lá: Khi phát hiện, phun Trigard hoặc thuốc có hoạt chất tương tự

-Sâu tơ, sâu đàn: Khi phát hiện dùng Oshin, Takumi 20WG, Ammate150SC kết hợp với thuốc Binhtox 1.8 E, Sherzol 205 EC, Biocin 16 WP, Secsaigon 10EC.

7. Luyện cây, xuất vườn

Theo tập quán sản xuất tại An Giang, cây ớt giống đạt các chỉ tiêu: cao 20-21cm, đường kính thân 3 mm, có 5-6 lá là phù hợp để trồng. Như vậy sau khi gieo khoảng 32-35 ngày thì cây đạt tiêu chuẩn này. Cây cà tím cũng tương tự, cao 15-17cm, đường kính thân 3mm, có 5- 6 lá.

Trước khi xuất vườn 5- 7 ngày giảm nước tưới từ từ đến mức khi còn 2 ngày nữa cây bắt đầu chớm héo thì tưới nhẹ trở lại, để cây không chết, nhưng vẫn ở tình trạng thiếu nước. Luyện như vậy cây sẽ cứng cáp, khi trồng ra ruộng cây mau bén rễ, tỷ lệ cây sống sẽ cao. Mặt khác, giảm tưới, giá thể co lại sẽ dễ lấy cây ra khỏi vỉ.

Đề đảm bảo cây sạch sâu bệnh khi khi xuất vườn, trước khi xuất 2-3 ngày phun cho cây giống 1 lần hỗn hợp thuốc sâu và bệnh có thể gồm Dithan và Antracol.

Để chuyển cây giống đi xa nên dùng các thùng giấy, xếp cây. Cũng có thể dùng các túi xốp nếu chuyển gần hoặc số lượng cây ít.

8. Giảm nóng trong nhà màng

Những tháng nóng, khô như tháng 4 hàng năm, có ngày nhiệt độ trong nhà và ngoài trời có thể đến 40 độ C, độ ẩm không khí còn dưới 50%. Những ngày nóng, khô cần can thiệp để giảm nóng, tăng độ ẩm trong nhà màng bằng tổng hợp các biện pháp sau đây:

Sáng sớm tưới thật đẫm cho cây và cho cả vùng đất trống trong nhà. Bổ sung thêm lớp che nắng. Che 2-3 tầng cho mỗi khu vực tùy tuổi cây, trong đó cây lớn (trên 20 ngày tuổi) có thể che còn 50% ánh sáng; cây nhỏ tuổi hơn có thể che còn 20-30% ánh sáng;các vỉ mới gieo hạt cần phủ vải ẩm hoàn toàn.

Khi trời bắt đầu nắng lên, thường 8 giờ sáng, bắt đầu phun nước bằng hệ thống phun mù, cứ 30-60 phút một lần, mỗi lần khoảng 5 đến 6 phút, khi thấy trong nhà mát thì thôi. Làm như vậy, môi trường nhà kính hoàn toàn an toàn cho cây.

9. Vệ sinh vỉ và nhà màng

Vệ sinh vỉ

Sau mỗi vụ ươm, cần phơi vỉ, vỗ cho rơi hết tàn dư vụ trước. Sau 2-3 vụ nhúng vỉ vào nước booc đô nhằm diệt mầm mống bệnh, để cho khô vỉ rồi dùng.

Cách pha booc đô: dùng 80 lít nước pha 1 kg sulfast đồng vào 1 thùng nhựa, dùng 20 lít nước pha 1kg vôi củ hoặc bột loại tốt vào 1 thùng khác. Đồ từ từ dung dịch đồng vào nước vôi, vừa đổ vừa khuấy.

Vệ sinh nhà màng

Nhà màng cần được chú ý giữ sạch sẽ, không để cỏ dại, không trồng lấy quả ớt, cà tím, cà chua trong nhà màng vì dễ nhiễm bệnh cho cây con. Khoảng 3 tháng 1 lần rải vôi mặt luống để khử trùng. Hạn chế người lạ, người từ các ruộng rau vào nhà màng. Đặc biệt chú ý không để các tàn dư cây giống trong nhà, bỏ xa hoặc chôn sâu cây giống hư, thải loại. Chăm sóc nhà màng, sửa lại những chỗ hư hỏng. Khi lưới trắng bẩn nhiều nên phun nước xịt rửa./.

Theo Trung tâm Nghiên cứu Chuyển giao TBKT Nông nghiệp

【#4】Quy Trình Kỹ Thuật Sử Dụng Phân Bón Thông Minh Để Trồng Cà Tím

– Tiết kiệm công lao động: Bón một lần duy nhất.

– Giảm lượng phân bón dư thừa. – Tăng năng suất và chất lượng nông sản.

– Hạn chế tác hại của cỏ dại và sâu bệnh.

– Bảo vệ môi trường, giảm ô nhiễm đất và nước.

III. QUY TRÌNH, KỸ THUẬT TRỒNG CÂY CÀ TÍM.

– Cà tím phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 21 – 29 độ C. Ở nhiệt độ thấp hơn tỷ lệ đậu quả giảm, ở nhiệt độ và độ ẩm cao cũng làm năng suất giảm đáng kể.

– Cà tím có khả năng chịu hạn và lượng mưa cao, nhưng không chịu được đất sũng nước trong 1 thời gian dài làm cây dễ bị bệnh nấm thối rễ.

– Yêu cầu khắt khe ánh sáng ngày dài để ra hoa.

– Đất trồng thích hợp là đất thoát nước tốt, pha cát, sạch bệnh và chủ động được tưới tiêu.

3.1. Thời vụ.

– Có thể trồng được quanh năm. Vụ đông-xuân có thể trồng từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Vụ hè-thu trồng từ tháng 4 đến tháng 7

– Kinh nghiệm của nhiều nhà vườn cho thấy các tỉnh Nam bộ không nên trồng vào các tháng mùa mưa (tháng 5, tháng 6), các tỉnh phía Bắc không nên trồng vào các tháng 12, tháng 1 vì rất dễ bị sâu đục quả gây hại vào thời gian cây cho thu hoạch.

3.2. Gieo hạt và ương cây con.

– Lượng hạt gieo để có cây trồng cho 1 sào Bắc Bộ là 11 – 15 gr

– Xử lý hạt giống trước khi gieo: Hạt giống mới không cần xử lý trước khi gieo. Đối với hạt đã qua bảo quản cần xử lý ngâm hạt trước khi gieo trong nước ấm 50 độ C trong 30 phút, sau đó tráng qua nước lạnh, hong khô đem gieo sẽ nâng cao sức nảy mầm và tỷ lệ nảy mầm.

– Gieo cây con trên khay có ngăn để không làm rối rể con. Chăm sóc cây con 35 – 40 ngày, khi có 4 – 6 lá thật, cao 6 – 8cm, thân mập, không bị bệnh đem trồng.

– Trước khi nhổ cây con đem trồng không nên tưới nước cho cây 5-7 ngày, chỉ tưới ẩm 4-5 giờ trước lúc nhổ cho cây không bị đứt rễ và chóng bén.

3.3. Làm đất, lên luống.

– Làm đất.

+ Cày bừa để ải trong thời gian ít nhất là một tuần.

+ Không đập đất quá nhỏ thành dạng đất bột.

Xử lý đất kỹ để diệt nguồn bệnh bằng cách ngâm nước ruộng với vôi bột ít nhất 1 tuần (20- 25kg vôi bột/1 sào BB), sau đó tháo cạn nước và phơi ải đất.

– Lên luống rộng 1,2m, cao 20 – 30cm, rãnh rộng 30cm.

3.4. Khoảng cách, mật độ.

– Cây – cây: 60 cm

– Hàng cách hàng: 50cm

– Mật độ: 20.000 – 22.000 cây/ha (750 – 800 cây/sào).

3.5. Kỹ thuật sử dụng PHÂN BÓN THÔNG MINH 20 – 5 – 12 + TE cho cây cà tím (Bón một lần duy nhất cho cả vụ). – Loại phân:

+ Phân bón thông minh 20 – 5 – 12 + TE. + Bón lót: Phân chuồng, vôi… (tùy mức đầu tư)

– Lượng phân: Phân bón thông minh: 30 – 35kg/sào (9 – 11 viên/cây; 4,2gr/viên).

Bón lót: Phân hữu cơ hoai mục 600 – 700 kg hoặc phân vi sinh, vôi… (tùy mức đầu tư).

– Thời điểm bón và vị trí bón phân bón thông minh.

+ Bón lúc trồng: Đào hốc theo khoảng cách trồng cây sâu 20cm. Bón lót phân hữu cơ hoai mục, vôi, … cùng với toàn bộ Phân Bón Thông Minh (9 – 11 viên/cây) trộn đều với đất, lấp 1 lớp đất. Sau khi trồng ấn nhẹ đất vào gốc cây và làm bằng phẳng đất chung quanh gốc. Tưới nước giữ ẩm cho cây ngay. Mùa mưa nên trồng thưa hơn sẽ cho năng suất cao hơn là trồng dày, có thể trồng xen tỏi tây, hành lá và các loại rau ăn lá ngắn ngày vào giữa 2 hàng cà tím vừa tăng thêm thu nhập vừa hạn chế được cỏ dại trong giai đoạn đầu.

Lưu ý:

Có thể bón lót kết hợp làm đất, lên luống.

Trồng cây vào lúc chiều mát.

+ Bón sau trồng (3 – 5 ngày).

Bón lót trước khi trồng.

Phân Bón Thông Minh: Sau 3 – 5 ngày trồng cây bón 9 – 11 viên/ cây xung quanh gốc cây sao cho sâu 10 – 15cm, cách gốc cây 7 – 10cm. Sau đó lấp đất kín. Mùa mưa nên trồng thưa hơn sẽ cho năng suất cao hơn là trồng dày, có thể trồng xen tỏi tây, hành lá và các loại rau ăn lá ngắn ngày vào giữa 2 hàng cà tím vừa tăng thêm thu nhập vừa hạn chế được cỏ dại trong giai đoạn đầu.

Sau khi thu lứa quả đầu kết hợp làm cỏ và loại bỏ lá già, lá bị bệnh.

IV. CHĂM SÓC.

– Tưới nước: Tưới nước quan trọng nhất vào thời kỳ ra hoa và đậu quả. Nên tưới nước theo phương pháp tưới rãnh. Có thể dẫn nước ngập 2/3 rãnh luống cho nước ngấm vào mặt luống khoảng 2-3 giờ rồi tháo cạn nước đi. Không để mặt luống bị khô, thiếu nước cà sẽ kém ra hoa, năng suất kém, trái nhỏ.

– Trồng dặm: Sau khi cấy 7 ngày, kiểm tra ruộng và dặm những cây chết vào buổi chiều mát, trồng xong tưới nước ngay để tránh cây bị héo.

– Làm giàn, tỉa cành: Khi cây bắt đầu ra hoa nên tỉa bỏ bớt các cành nhánh dưới chùm hoa thứ nhất cho gốc được thông thoáng. Khi cà ra đợt hoa thứ 2 thì bấm ngọn, hãm cành hạn chế chiều cao để cho cà ra nhiều cành nhánh quả. Khi cà bắt đầu phân nhánh thì làm giàn bằng tre, nứa cho cà khỏi đổ.

– Làm cỏ, vun xới.

V. PHÒNG TRỪ SÂU, BỆNH HẠI.

Một số sâu bệnh hại chính của cà tím như sâu xanh, sâu đục quả, sâu xám, sâu ăn lá, bệnh lở cổ rể, bệnh đốm nâu…

1. Sâu đất, tuyến trùng.

Xử lý đất trước khi trồng bằng Sagosuper 3G, Diaphos 10H, Basudin 10H, Sincosin lên hốc gieo, hoặc sau khi cấy rãi quanh gốc.

2. Sâu xanh.

Áp dụng công thức luân canh thích hợp, tốt nhất là luân canh với lúa

Phòng trừ: Dùng các loại thuốc hóa học theo nồng độ và hướng dẫn ghi trên bao bì, phun khi sâu tuổi còn nhỏ, kết hợp diệt sâu và trứng bằng tay. Sử dụng chế phẩm BT và NPT.

3. Sâu khoang.

Vệ sinh đồng ruộng trước khi gieo.

Dùng thuốc Decio, Sherpa … Sử dụng chế phẩm BT và NPT.

4. Sâu xám, sâu vẽ bũa

– Diệt bướm bằng bã chua ngọt vào đầu vụ gieo trồng. Làm đất ải và diệt cỏ trên đồng ruộng

Dùng thuốc Basudin hạt rắc vào đất theo hàng cây . Có thể dùng thuốc Dimecron, Decis y theo nồng độ và hướng dẫn ghi trên bao bì.

– Sâu vẽ bùa: Ofunack, Triggard, SK99, Dragon, Pyrinex vào lúc sáng sớm. – Nhóm chích hút: Bọ trĩ, rầy xanh, nhện: Actara, Sagosuper, Sherzol, Netoxin, Confidor, Supracide, Mospilan,… theo nồng độ khuyến cáo 5. Bệnh lỡ cổ rễ do nấm

Luân canh với các cây trồng khác. Vệ sinh đồng ruộng

Không để vườn ươm cây con quá ẩm. Khi bệnh xuất hiện nhiều dùng thuốc Validacin để phun.

6. Bệnh héo xanh vi khuẩn.

Thâm canh, bón phân đầy dủ cho cây. Sử dụng các giống có khả năng kháng bệnh

Khi phát hiện ruộng có cây bị bệnh thì đem nhổ và tiêu hủy ra xa.

7. Bệnh đốm nâu do nấm.

Thu dọn kỹ tàn dư sau mỗi mùa vụ, Luân canh cây cà với loại cây khác.

Kịp thời tỉa cành, tỉa lá, bấm ngọn.

Dùng các loại thuốc Booc do, Zineb iện nhiều.

8. Bệnh phấn trắng trên trái.

Polygam, Kumulus, Dithane – M45, Derosal, Topsin, Sulox, Thio-M, Dipomate phun sớm khi cây vừa mới nhiễm bệnh, có thể phun phòng khi thời tiết thuận lợi cho bệnh phát triển như mưa dầm, sương mù, mưa nắng xen kẽ, kết hợp với tỉa bỏ trái bệnh. Đồng thời tỉa bớt nhánh, lá già, thoát nước, cắm chà, giăng dây để giảm ẩm độ trong ruộng.

VI. THU HOẠCH, BẢO QUẢN.

60 ngày sau khi gieo là có thể thu hoạch. Cứ 2 – 3 ngày thu 1 lần.

( Bài viết khó có thể tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả xin chân thành cảm ơn vả rất mong thu nhận được những góp ý của bạn đọc xa gần để bài viết sau tốt hơn )

Sản Phẩm Bao gồm các loại: gà giống, vịt giống, ngan giống, ngỗng giống

Địa Chỉ

Thôn 5, Xã Phù Vân, TP. Phủ Lý , Hà Nam

Thu Hà là một trong những địa chỉ đang được bà con chăn nuôi khắp cả nước tin cậy và mua con giống. Thu Hà được đánh giá có con giống tốt và chất lượng và dịch vụ khá tốt. Đặc biệt với những bà con ở xa có thể yên tâm khi mua giống vì có chính sách bảo hành trong quá trình vận chuyển

【#5】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Rau Mồng Tơi

Mồng tơi hay mùng tơi ( Basella alba) là một loại cây thuộc họ Mồng tơi.

Đây là loại dây leo quấn, mập và nhớt, sống hàng năm hay hai năm. Lá dày hình tim, mọc xen, đơn, nguyên, có cuống. Cụm hoa hình bông mọc ở kẽ lá, màu trắng hay tím đỏ nhạt. Quả mọng, nhỏ, hình cầu hoặc trứng, dài khoảng 5-6 mm, màu xanh, khi chín chuyển màu tím đen. Cây mồng tơi mọc nhanh, dây leo có thể dài đến 10 m.

Trong rau mồng tơi có vitamin A 3, vitamin B 3, chất saponin, chất nhầy và chất sắt. Rau mồng tơi là loại rau dân dã, được ưa thích tại Việt Nam, nhất là trong mùa hè. Lá và đọt thân non của mồng tơi thường được dùng để nấu canh, luộc, xào, ăn lẩu… có tính mát, nhuận trường.

B. Quy trình kỹ thuật

I. Điều kiện ngoại cảnh

Mồng tơi sinh trưởng tốt tại những nơi đất thấp, vùng nhiệt đới lên đến độ cao 500 m so với mực nước biển, thập chí có thể là những vùng ôn đới có độ cao 3000 m. Là cây ngắn ngày, thích hợp nhất với đất cát.

II. Biện pháp kỹ thuật

1. Giống

Hiện nay Công ty TNHH Phát triển Nông nghiệp Việt Á cung cấp giống Mồng tơi cao sản VA.187 (Basella Rubra VA.187). Là giống có khả năng kháng bệnh tốt, độ đồng đều cao, vị ngon ngọt, mềm, lá tròn lớn, dầy, màu xanh đậm cây cao từ 25-30 cm. Thời vụ trồng quanh năm. Thời gian thu hoạch 30-35 ngày sau trồng. Lượng giống cần thiết 2,5-2,7 kg/1000 m ².

2. Thời vụ

Mồng tơi được gieo trồng quanh năm, chính vụ Xuân và thu hoạch suốt vụ Hè Thu. Gieo trồng từ đầu tháng 3 đến tháng 5, thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 9. Ở các tỉnh phía Nam có thể trồng quanh năm.

3. Kỹ thuật trồng

Chọn loại đất thịt nhẹ, thịt trung bình, đất cát pha, pH từ 6,0 – 6,7. Đất cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo trồng.

Làm luống: Mặt luống rộng 1 – 1,2 m, cao 25 – 30 cm, rãnh luống rộng 20 – 30 cm.

Mồng tơi có thể gieo thẳng theo hàng hoặc gieo cây con rồi tỉa trồng khi có 2 – 3 lá thật.

Khoảng cách: Hàng cách hàng 20 – 25 cm; cây cách cây 20 cm.

Mật độ: Từ 16 đến 17 vạn cây/ha.

Tuyệt đối không được dùng phân chuồng, phân bắc và nước phân tươi để bón hoặc tưới. Có thể dùng phân hữu cơ sinh học hoặc phân rác chế biến thay thế phân chuồng với lượng bằng 1/3 lượng phân chuồng.

4. Phân bón và chất phụ gia

Liều lượng bón phân chuồng: Bón lót 10-15 tấn phân chuồng/ha (360-540 kg/sào), có thể dùng phân hữu cơ sinh học hoặc phân rác chế biến thay thế với lượng bằng 1/3 phân chuồng.

Cách bón thúc:

Lần 1: Sau trồng 10 ngày.

Lần 2: Sau trồng 25 – 30 ngày (đã thu hái vỡ).

Lượng phân đạm và kali còn lại hoà tưới sau mỗi đợt hái.

Xới xáo, vun gốc, làm cỏ, kết hợp với các đợt bón thúc.

Chỉ được thu hoạch sau khi bón hoặc tưới phân ít nhất 7 – 10 ngày.

Có thể dùng nitrat amôn, sulfat amôn thay cho urê, kali clorua thay cho kali sulfat hoặc các phân hỗn hợp NPK với liều lượng nguyên chất tương đương, hoặc phun các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng qua lá theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Liều lượng và phương pháp bón phân hóa học:

Sử dụng nguồn nước sạch để tưới (nước sông hoặc nước giếng), luôn giữ độ ẩm đất 80%.

6. Phòng trừ sâu bệnh hại

Sâu hại: Mồng tơi thường bị sâu khoang ( Spodoptera litura) và một số sâu ăn lá khác gây hại nhưng ít nghiêm trọng, cần sử dụng biện pháp thủ công bắt sâu và ngắt ổ trứng sâu. Trong trường hợp bị sâu hại nặng mới dùng thuốc bảo vệ thực vật (có thể dùng Sherpa 25EC,…).

Bệnh hại: Chủ yếu có bệnh đốm mắt cua ( Cercospora sp.), nếu chăm sóc tốt, cây phát triển mạnh sẽ hạn chế bệnh. Khi bệnh nặng mới dùng thuốc Rovra 50WP, Score 250EC, Anvil 5SC.

Phun theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc, thời gian cách ly tối thiểu là 10 ngày.

7. Thu hoạch, sơ chế, bảo quản

Cần thu hoạch đúng lứa bảo đảm chất lượng rau non và phải đảm bảo thời gian cách ly thuốc hoá học bảo vệ thực vật và phân đạm bón thúc.

【#6】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cây Đảng Sâm

Thứ hai – 05/06/2017 16:51

Giống cây đảng sâm

Cung cấp giống cây Đảng sâm và giống cây dược liệu các loại, liên hệ 0988 774 076

ĐẢNG SÂM

Tên khoa học: Codonopsis javanica (Blume) Hook. f. Thoms.

Họ: Hoa chuông ( Campanulaceae).

Tên khác: Ngân đằng, cây đùi gà, mần rày cáy (Tày), co nhả dòi (Thái), cang hô (H’Mông).

Tên vị thuốc: Đảng sâm.

I. Đặc điểm chung

1. Nguồn gốc, phân bố

Đảng sâm là cây của vùng cận nhiệt đới, được ghi nhận ở Trung Quốc, Myanma, Ấn Độ, Lào, Việt Nam và Nhật Bản. Cây mọc hoang ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, phân bố tập trung nhất ở Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng.

Đảng sâm thường mọc trên các nương, rẫy đã bỏ hoang lâu ngày có cỏ tranh, đất tương đối màu mỡ và ẩm.

2. Đặc điểm thực vật

Đảng sâm là cây thân thảo, leo bằng thân quấn. Thân leo dài 2 – 3 m, phân nhánh nhiều. Lá mọc đối, hình tim, mép nguyên, lượn sóng hoặc hơi khía răng cưa, mặt trên màu xanh lục, mặt dưới có lông nhung trắng. Hoa mọc riêng rẽ ở kẽ lá, cuống dài 2 – 6 cm, đài gồm 5 phiến hẹp, tràng hình chuông màu trắng, chia 5 thuỳ, nhị 5. Quả nang hình cầu có 5 cạnh mờ, đầu trên có một núm nhỏ hình nón, khi chin màu tím hoặc đỏ.Hạt nhiều màu vàng nhạt. Rễ phình thành củ hình trụ dài, đường kính 1,5 – 2 cm, phía trên to, phía dưới có phân nhánh, màu vàng nhạt.

3. Điều kiện sinh thái

Đảng sâm sống ở đất màu mỡ, nhiều mùn, cao ráo, thoát nước.Nhiệt độ thích hợp 18 – 25 o C, có thể chịu được nhiệt độ trên 30 oC nhưng không kéo dài.Về mùa đông nhiệt độ thấp cây vẫn sống được.Lượng mưa trung bình 1500 mm.

Ở vùng núi có độ cao 400 – 1600 m so với mặt biển cây mọc hoang dại, chu kỳ sinh trưởng kéo dài 1 năm. ở đồng bằng cây vẫn sinh trưởng được nhưng thời gian bị rút ngắn còn 8 – 9 tháng, cây không sống qua mùa hè.

4. Giá trị làm thuốc

a) Bộ phận sử dụng:

Bộ phận sử dụng là rễ củ.

b) Công dụng:

Rễ củ đảng sâm được dùng làm thuốc chữa tỳ vị kém, phế khí hư nhược, kém ăn, đại tiện lỏng, mệt mỏi, ốm lâu ngày, cơ thể suy nhược… Ngoài ra còn được dung làm thuốc bổ dạ dày, lợi tiểu tiện, chữa ho tiêu đờm.

II. Kỹ thuật trồng trọt

1. Chọn vùng trồng

Cây Đảng sâm chủ yếu sinh trưởng tốt ở vùng trung du và miền núi, có độ cao từ 400m trở lên so với mặt nước biển.Chọn đất nơi cao ráo, nhiều mùn, tơi xốp, thoát nước, có nhiều chất dinh dưỡng.Các triền đồi thoải, ruộng bậc thang hay chấn ruộng cao là thích hợp nhất. Các loại đất khác có thể trồng được nhưng năng suất thấp, pH thích hợp 5,5 – 6,5.

2. Giống và kỹ thuật nhân giống

Đảng sâm trồng ở Việt Nam hiện nay có 2 loại:

– Lộ đảng sâm Comdonopsis pillosula Nanny do Viện Dược Liệu di thực từ Trung Quốc vào những năm 60, hiện nạy còn rất ít

– Đảng sâm Comdonopsis javanica là giống mọc hoang có sẵn ở Việt Nam, Viện Dược liệu đã tiến hành di thực thuần hoá trồng thành công tại Trạm nghiên cứu Dược Sapa – Lào Cai.

Quy trình này chỉ áp dụng cho loài đảng sâm Codonopsis javanica.

Đảng sâm có thể nhân giống hữu tính bằng hạt. Ngoài ra có thể nhân giống vô tính bằng mầm của đầu rễ (khi cần thiết).

Lượng hạt dùng để gieo cho 1ha là 3 – 3,5 kg. Sử dụng hạt của cây 2 – 3 năm tuổi để làm giống. Không dùng hạt của cây trồng 1 năm tuổi vì chất lượng thấp. Nên dùng hạt mới thu hoạch, chọn hạt già, chắc, có tỷ lệ mọc cao từ 75% trở lên.

Diên tích vườn ươm để trồng 1ha là 300 – 400m².

Kỹ thuật làm giống:

Làm đất vườn ươm: Cần chọn đất tơi xốp, bằng phẳng, ít sỏi đá, thuận tiện tưới tiêu, nhặt sạch cỏ dại, cày hoặc cuốc sâu 30 cm. Phơi ải, bừa kỹ.

Lên luống: lên luống cao 30 cm, rộng 80 – 90 cm, dài tuỳ ruộng.

– Phân bón: Bón lót gồm phân chuồng hoai mục bón 10 tấn + 150 kg phân lân + 100 kg phân KCl cho 1 ha vườn ươm. Trộn đều các loại phân, rải trên mặt luống, xáo nhẹ và san phẳng mặt luống để lấp phân. Khi cây cao 7 – 10 cm, có 5 – 6 lá, bón thúc 50 – 60 kg Ure/ha pha loãng tưới đều cho cây.

Gieo hạt: Hạt được đãi sạch, trộn đều đất bột khô, chia đều cho các luống, gieo làm 3 lần, xong lấp đất dày 1 – 2 cm, cuối cùng phủ một lớp rơm rạ hoặc trấu mỏng lên trên mặt luống.

Chăm sóc vườn ươm: Luôn tưới đủ ẩm bằng ô doa, nếu không mưa hàng ngày tưới 1 lần vào buổi chiều mát.

Tiêu chuẩn cây giống:

Cây được 5 – 6 lá thật, tỉa bớt cây để khoảng cách cây 3 – 5 cm. Cây được 9 – 10 lá (khoảng 3 tháng tuổi) chọn cây khoẻ mạnh, không sâu bệnh đánh trồng ra ruộng sản xuất. Khi đánh cây tránh làm xây sát và đứt rễ củ.

3. Thời vụ gieo trồng

Mỗi năm có thể gieo trồng 2 thời vụ:

– Thời vụ 1: Gieo hạt vào mùa xuân (tháng 2 – đầu tháng 3) và đánh cây con trồng vào tháng 5 – 6.

– Thời vụ 2: Gieo hạt vào mùa thu (tháng 9 – 10) và đánh cây con trồng vào tháng 2 – 3.

4. Kỹ thuật làm đất

Đất sau khi được chọn cày sâu 30 cm, phơi ải, bừa kỹ, dọn sạch cỏ dại.

Lên luống cao 30 cm, rộng 60 – 70 cm, chiều dài tùy ruộng. Đất ở vùng đồi có độ dốc vừ phải thì có thể trồng theo từng vạt nhỏ, đất có độ dốc lớn cần trồng theo đường đồng mức. Bổ hốc với khoảng cách 20 x 40 cm.

5. Mật độ khoảng cách và kỹ thuật trồng

Tùy loại đất đai để bố trí mật độ khoảng cách trồng thích hợp:

– Đất tốt trồng mật độ 83.000 cây/ha với khoảng cách 30 x 40 cm.

– Đất xấu trồng mật độ 125.000/ha với khoảng cách 20 x 40 cm.

6. Phân bón và kỹ thuật bón phân

Lượng phân bón:

Thời kỳ bón:

– Bón lót: ½ lượng phân hữu cơ + ½ lượng phân lân + ¼ lượng phân kali, trộn đều bón theo hốc sau đó lấp đất lại.

– Sau khi thu hạt năm thứ nhất, cây bắt đầu lụi. Vào tháng 1 năm sau bón phân năm thứ 2 gồm ½ lượng phân chuồng + ½ lượng phân lân + ¼ lượng phân kali.

– Phân đạm được chia đều cho 2 năm, định kỳ mỗi năm bón 3 – 4 lần vào các tháng thứ nhất, 3, 6, và tháng 9, kết hợp với các lần làm cỏ xới xáo, mỗi lần 50 – 60 kg/ha (1,85 – 2,22 kg/sào Bắc bộ). Tháng thứ 7, 8 năm thứ 2 tiếp tục bón lượng kali còn lại.

7. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

Kỹ thuật trồng:

Khi cây con đạt tiêu chuẩn, đánh cây trồng theo hốc, mỗi hốc 1 cây. Đặt rễ cây thẳng đứng, lấy tay lấp đất và ấn chặt gốc. Trồng xong cần tưới ngay. Nên trồng vào chiều mát, sau 5 – 7 cây bắt đầu bén rễ hồi xanh.

Chăm sóc:

– Năm thứ nhất: Định kỳ 30 ngày chăm sóc 1 lần, làm sạch cỏ, kết hợp với bón đạm, lượng đạm mỗi năm 200 – 250 kg urê được chia làm 3 lần bón thúc, mỗi lần cách nhau 3 tháng.

Tháng 7, 8 khi cây chuẩn bị ra hoa, bón bổ sung ¼ lượng kali (100kg KCl) /ha. Cuối mùa đông cây lụi, cắt bỏ phần thân leo, vệ sinh đồng ruộng.

– Năm thứ hai: Sang mùa xuân năm thứ 2 khi cây bắt đầu mọc trở lại bón lót 10 tấn phân chuồng + ½ lượng phân lân và ¼ lượng kali. Trộn đều vùi quanh gốc kết hợp vớí làm cỏ vun gốc.

Lượng đạm còn lại chia làm 3 lần bón thúc, mỗi lần cách nhau 3 tháng kết hợp với làm cỏ. Tháng 7,8 năm thứ 2 tiếp tục bón ¼ lượng kali còn lại.

– Kỹ thuật tưới tiêu nước: Cây Đảng sâm thường trồng ở trung du và miền núi, cần đảm bảo nước tưới khi ở vườn ươm và lúc mới trồng đến bén rễ hồi xanh. Còn trong quá trình sinh trưởng phát triển của cây chủ yếu là nhờ nước tự nhiên. Ở những nơi chủ động tưới tiêu có thể tưới khi cây gặp khô hạn.

Làm giàn cho cây leo: Cây Đẳng sâm dài 15 – 20 cm bắt đầu cần làm giàn leo, dùng cây sặt, hoặc tre làm giàn cắm chéo hình chữ A để 2 hàng đảng sâm leo chung.

8. Phòng trừ sâu bệnh

Đảng sâm thường bị các loại sâu bệnh hại sau:

a) Sâu xám(Agrotis ipsilon):

Đặc điểm gây hại: Thường gây hại ở thời kỳ cây con. Loài sâu này thường gây hại vào ban đêm, ăn lá non hoặc cắn đứt ngang các thân và cành non. Sâu non màu xám đen hoặc màu nâu xám dọc theo hai bên thân có những chấm đen mờ.

Biện pháp phòng trừ:

– Cày, phơi ải đất trước khi trồng 2 tuần để tiêu diệt trứng và nhộng. Làm đất kỹ, sạch cỏ trước khi trồng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.

– Đối với những ruộng có diện tích nhỏ có thể bắt sâu bằng tay vào buổi sáng sớm hay chiều tối bằng cách bới đất xung quanh gốc cây bị sâu cắn để bắt sâu.

– Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm. Cách làm bẫy: Cho 4 phần đường + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước vào trong bình đậy kín, sau 3 – 4 ngày khi thấy mùi chua ngọt thì thêm vào 1% thuốc trừ sâu. Quấn giẻ hay buifnhuig rơm rạ vào đầu gậy nhúng vào bả cắm trên bờ ruộng. Sau 2 – 3 ngày nhúng lại 1 lần . Bướm trưởng thành sẽ bay vào ăn bả chua ngọt và chết.

– Ruộng bị sâu hại nặng có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: Thiamethoxam (ví dụ Actara 25 WG, 350FS), Abamectin (ví dụ Shertin 3,6 EC, 5,0 EC). Hòa thuốc với nước theo tỷ lệ khuyến cáo ở bao bì, phun vào chiều tối. Nếu mật độ sâu cao nên phun kép 2 lần cách nhau 5 ngày.

b)Rệp mềm (Aphis gossipii):

Đặc điểm gây hại: Ban đầu, rệp chỉ tập trung gây hại ở những búp non, lá non. Về sau do tích lũy nhiều, mật độ tăng nhanh, chúng xuất hiện trên cả những lá già và thường tập trung ở mặt dưới của lá. Rệp chích hút nhựa cây làm búp non, lá non bị quăn queo, biến dạng, lá chuyển dần sang màu vàng, cây còi cọc, sinh trưởng kém. Rệp mềm có kích thước nhỏ, có hình quả lê và thân mềm. Chúng thường tập trung lại thành từng đám, đặc biệt ở dọc các gân lá.

Biện pháp phòng trừ:

Kiểm tra ruộng thường xuyên và diệt bỏ ngay lập tức những lá bị rệp nặng. Nhổ cỏ dại mọc xung quanh cây vì nhiều loại cỏ dại vốn là đối tượng gây hại của dệp. Rệp có thể bị gió thổi bay do đó tránh trồng đảng sâm ở cuối hướng gió của những ruộng đã bị nhiễm rệp.

– Sau mỗi vụ thu hoạch cần thu gom sạch sẽ những tàn dư của cây (thân, lá) ở vụ trước đem ra khỏi ruộng tiêu hủy hoặc ủ làm phân bón để tiêu diệt những con rệp còn sống sót trên đó, hạn chế rệp lây lan sang cho vụ sau.

– Hạn chế sử dụng hóa chất vì chúng có thể tiêu diệt cả những thiên địch. Nếu thấy mật độ rệp cao và liên tục gia tăng thì phải dùng thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ rệp. Có thể sử dụng các loại thuốc như: Dầu khoáng (ví dụ Citrole 96.3EC, DK-Annong Super 909EC, Vicol 80 EC); Abamectin (ví dụ Aremec 18EC, 36EC, 45EC); Chlorpyrifos Ethyl + Permethrin (ví dụ Tasodant 6G, 12G, 600EC, 600WP). Cần xem kỹ hướng dẫn trên nhãn thuốc về liều lượng và cách sử dụng.

c) Bệnh lở cổ rễ (Rhizoctonia sp.)

Đặc điểm gây hại: Bệnh lở cổ rễ thường xuất hiện ở giai đoạn cây con, đặc biệt trong giai đoạn vườn ươm. Triệu chứng bắt đầu với vết đốm màu nâu nhỏ ở gốc thân và lan rộng đến rễ. Vùng rễ nhiễm bệnh bị thối, cây con héo rễ và chết.

Biện pháp phòng trừ:

– Thường xuyên kiểm tra vườn ươm, loại bỏ và tiêu hủy những cây con bị nhiễm bệnh để giảm thiểu sự lây lan của bệnh.

– Nếu bệnh gây hại nặng có thể dùng một số loại thuốc trừ nấm như: Pencycuron (ví dụ Monceren 250SC, Vicuron 25WP, 250SC); Validamyxin + Polyoxin B (ví dụ Ukino 60SC, 95WP); Validamycin (ví dụ Validacin 3L, 5L, 5SP; Tung vali 3SL, 5SL, 5WP, 10WP). Tưới hoặc phun trực tiếp dung dịch thuốc trừ nấm vào gốc cây

9. Thu hoạch, sơ chế và bảo quản

a) Thu hoạch:

Tiến hành thu hoạch vào cuối mùa đông năm thứ 2, khi cây vàng lụi. Trước khi thu hoạch cần phá bỏ giàn leo, cắt toàn bộ phần thân lá mặt đất, dùng cuốc thuổng đào sâu, tránh sây sát, đứt rễ củ.

b) Sơ chế:

Rễ thu về được rửa sạch, phơi hoặc sấy khô, độ ẩm < 12%.

c) Bảo quản:

Khi đảng sâm khô, đạt tiêu chuẩn, bảo quản trong bao nilon, bên ngoài bọc bao tải dứa hoặc các loại bao tải chống ẩm khác, để nơi khô ráo không được ẩm ướt. Khi bảo quản trong kho để trên giá hoặc kệ cao cách mặt đất ít nhất 5 cm. Đảng sâm ít bị mối mọt.

10. Tiêu chuẩn dược liệu

Mô tả: Phiến đảng sâm có màu đen, dễ bẻ, vết bẻ không phẳng, mùi thơm, vị ngọt.

Dược liệu có độ ẩm không quá 12%, tạp chất vô cơ không quá 0,5%, bộ phận khác của cây không quá 1%, tro toàn phần không quá 6%, tro không tan trong acid không quá 2%, kim loại nặng không quá: 1 phần triệu Pb, 0,2 phần triệu Cd, 0,1 phần triệu Hg, 1,5 phần triệu As. Hàm lượng saponin toàn phần trong dược liệu không được ít hơn 3% tính theo dược liệu khô kiệt.

Quý khách hàng có nhu cầu về hạt giống vui lòng liên hệ Công Ty CP Dược Liệu Xuyên Việt ( Tìm đối tác làm nhà phân phối, đại lí giống cây dược liệu )

Địa chỉ: 287 Minh Khai – Phố Mới – Lào Cai

Mobile: 0988 774 076

Email:[email protected]

http://duoclieuxuyenviet.com

【#7】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Rau Cải Bắp

Cây rau cải bắp hay bắp cải (Cabbage) có tên khoa học là Brassica oleracea L. var, thuộc họ Cải: Brassicaceae, bộ Cải hay Mù tạc: Brassicales.

Là cây rau được trồng phổ biến trong vụ Thu Đông, Đông Xuân tại Miền Bắc và được trồng quanh năm tại Mộc Châu và Đà Lạt… Bắp cải khá dễ trồng, cho năng suất cao và giá trị kinh tế lớn, bảo quản được lâu và vận chuyển dễ dàng, có thể sản xuất thành hàng hóa phục vụ thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Rau cải bắp là loại rau ngon, có thể chế biến thành nhiều món, có giá trị dinh dưỡng cao, giàu vitamin A, C, E, B…, rau cải bắp còn được mệnh danh là vị thuốc của người nghèo vì rất tốt cho sức khỏe con người.

Thành phần dinh dưỡng có trong 100 g bắp cải:

Các loại cải bắp: Bắp cải trắng, bắp cải tím, bắp cải lá nhăn (Savoy), bắp cải baby hay tý hon (Brussel) và bắp cải trái tim (Bắp cải xoáy).

Các tỉnh trồng nhiều rau cải bắp tại Việt Nam như Lâm Đồng, Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Sơn La.

Năng suất các giống cải bắp hiện nay khoảng 27 – 40 tấn/ha. Theo Tổng cục thống kê Việt Nam 2010, diện tích cải bắp trên cả nước là 29.200 ha, sản lượng cải bắp 676.300 tấn/năm. Hiện nay diện tích trồng ngày một tăng do nông dân chuyển từ trồng lúa sang trồng rau màu.

B. Quy trình kỹ thuật

I. Điều kiện ngoại cảnh

– Cây cải bắp sinh trưởng tốt nhất ở nơi có nhiệt độ trung bình 20-25 ºC. Nhiệt độ vượt quá 30 ºC cải bắp vẫn sinh trưởng nhưng khả năng cuộn bắp bị hạn chế. Hiện nay trên thị trường có một số giống chịu nhiệt rất tốt, có thể trồng được quanh năm ở những vùng có nhiệt độ không khí mát mẻ hoặc trồng ở thời vụ rất sớm ở Miền Bắc.

– Cải bắp có khả năng chịu đựng cao với khí hậu nóng, ẩm. Trong mùa đông lạnh, sinh trưởng nhanh và cho năng suất cao trên đất giàu mùn, thoát nước tốt.

– Cải bắp ưa đất cát pha, đất thịt nhẹ, độ phì nhiêu cao, tơi xốp, độ pH trung tính (6-7), đất chủ động tưới và thoát nước tốt.

II. Biện pháp kỹ thuật

1. Giống

– Giống vụ sớm và chính vụ: Bắp cải chịu nhiệt F1 Sakada (VA.70), Sakan (VA.287), Bắp cải tím Ý- Rose (VA.198)

– Giống vụ chính và vụ muộn: KA-Cross (VA. Sakata 789), F1 New Cross (VA.81), F1 Thúy Phong (VA.90), F1 Thùy Phong (VA.80).

2. Thời vụ

– Vụ sớm: Gieo từ 15/7 đến 25/7, trồng 15/8 đến 25/8, thu hoạch từ 15/10

– Vụ chính: Gieo từ 15/8 đến 30/8, trồng từ 15/9 đến 30/9, thu hoạch vào tháng 12, tháng 1

– Vụ muộn: Gieo 1/11 đến 15/11, trồng 1/12 đến 15/12, để thu hoạch vào tháng 2 năm sau

Vườn ươm

Có thể gieo khay (1 hạt/ô) hoặc gieo sạ trực tiếp xuống đất vườn ươm:

– Gieo khay: Khay gieo ươm bằng nhựa hoặc xốp, phổ biến là loại khay 84 lỗ, sử dụng giá thể là xơ dừa hoặc peatmoss. Chú ý xử lý xơ dừa trước khi sử dụng.

– Gieo sạ: Đối với gieo sạ cần làm đất kỹ, nhỏ, tơi xốp lên luống rộng 1 – 1,2 m, rãnh luống 0,3 m, cao 25-30 cm. Đất vườn ươm phải là đất chuyên gieo ươm, tơi xốp, sạch cỏ dại, cao ráo thoát nước tốt, không có nguồn sâu và bệnh hại.

– Hạt giống được gieo bằng tay hoặc máy gieo hạt với 1 hạt/lỗ hoặc được gieo đều trên mặt luống. Sau khi gieo xong cần phủ hạt trên khay bằng một lớp xơ dừa/peatmoss mỏng 0.5-1 cm, phun ẩm bằng bình phun, che đậy khay ươm bằng màng Acrylic hoặc nylon, sau khi hạt nảy mầm thì bỏ lớp màng che phủ ra. Đối với gieo sạ trên mặt luống, gieo xong phủ mặt luống bằng một lớp vỏ trấu hoặc rơm rạ dày 1- 2 cm, sau đó dùng ô doa tưới đẫm nước.

– Chăm sóc: Sau gieo 1-2 ngày hạt sẽ nảy mầm, chú ý tưới nước để giữ ẩm cho vườn ươm bằng phun ẩm hoặc tưới nước vào sáng sớm và chiều mát. Làm vòm che nắng mưa cho vườn ươm, cao 0,8-1 m từ mặt luống đến mái vòm, chắc chắn, tránh đổ khi giông bão. Nên dùng một lớp nylon trong suốt và một lớp bạt cắt nắng để che đậy vườn ươm, chỉ che mặt luống khi nắng to hoặc trời mưa.

– Tưới nước: Sau khi gieo hạt phải tưới nước liên tục 3-5 ngày đầu, 1-2 lần vào sáng sớm và chiều mát. Khi hạt đã nảy mầm ngừng tưới 1-2 ngày, sau đó cách một ngày tưới một lần. Không nên tưới nhiều vào giai đoạn 1- 2 lá thật, nếu ẩm quá ở giai đoạn này cây dễ bị chết thắt, lở cổ rễ. Trước khi trồng khoảng 3-4 ngày, ngừng tưới nước để luyện cây con. Trước khi nhổ cây trồng xuống ruộng phải tưới nước trước để khi nhổ cây không bị đứt rễ.

– Tiêu chuẩn của cây giống tốt: Phiến lá tròn, đốt sít, mập, lùn, cây có 5-6 lá thật thì nhổ trồng.

– Cây giống gieo trên đất vườn ươm hoặc gieo trong khay nếu nhiễm sâu tơ thì trước khi trồng nhúng, ngâm trong 1 phút toàn bộ lá vào dung dịch Regent (1g), Lanate (5g) và BT (5g) / 4 lít nước để diệt sâu non và trứng, chú ý không nhúng rễ.

Kỹ thuật trồng:

– Chọn đất trồng có độ pH 6 – 6,5, đất giàu mùn (hàm lượng hữu cơ khoảng 1,5 – 2,5 %). Nơi trồng rau sạch phải xa nguồn nước thải, các khu công nghiệp. Đất trồng phải đảm bảo tưới tiêu chủ động.

– Làm đất kỹ, nhỏ, tơi xốp lên luống rộng 1 – 1,2 m trồng hàng đôi, rãnh luống rộng 0,2 – 0,3 m, luống cao 0,2 – 0,25 m.

– Kỹ thuật trồng: Chọn những cây đủ tiêu chuẩn, sinh trưởng tốt, đồng đều không có sâu bệnh. Dùng dầm hoặc cuốc bổ hốc rồi đặt cây vào theo thế tự nhiên của cây.

– Mật độ và khoảng cách trồng: Trồng hàng đôi theo kiểu so le với mật độ phù hợp theo mùa vụ như sau: Vụ sớm: 35.000 – 41.000 cây/ha (cây cách cây 35-40 cm, hàng cách hàng 30 – 40 cm); chính vụ và vụ muộn: 30.000-33.000 cây/ha (cây cách cây 35-40 cm, hàng cách hàng 50 – 60 cm)

– Nên phủ luống trước khi trồng bằng các vật liệu như rơm rạ khô hoặc màng phủ nông nghiệp.

4. Phân bón

Nguyên tắc sử dụng phân

– Ưu tiên lựa chọn các loại phân hữu cơ đã qua xử lý hoai mục, phân hữu cơ sinh học, phân hữu cơ vi sinh.

Lượng bón và phương pháp bón phân

– Lượng bón tính cho 1 ha: 20 tấn phân hữu cơ vi sinh (phân chuồng hoai mục), 120 N- 145 PO – 72 KO nguyên chất, tương đương 260 kg urê + 800 kg lân super + 120 kg kali clorua.

– Phương pháp bón phân:

Cách bón:

– Bón trước khi trồng 1- 2 ngày vào rạch hoặc hốc, đảo đều và lấp kín phân, bảo đảm phân được vùi sâu khoảng 15-20 cm.

Bón toàn bộ phân chuồng và phân lân, chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục, tuyệt đối không dùng phân tươi.

Bón thúc : Bón thúc chia làm 3 lần

– Bón thúc lần 1: Thời kỳ hồi xanh, cây con sau trồng 7-10 ngày, hòa tưới vào gốc kết hợp vun xới làm cỏ vét rãnh.

– Bón thúc lần 2: Bắt đầu thời kỳ trải lá bàng sau trồng 25 – 35 ngày, bón cách gốc 20 cm kết hợp xới xáo làm cỏ lấp phân.

– Bón thúc lần 3: Thời kỳ cuốn bắp sau trồng 50-60 ngày bón nốt lượng phân còn lại. Có thể bón vào gốc hoặc hòa tưới tùy theo điều kiện đất.

– Sử dụng phân bón qua lá phun các nhau 12-15 ngày/lần, ngừng phun khi cây cuốn bắp chặt.

    Có thể sử dụng phân bón hỗn hợp NPK 15-15-15, 15-5-25 để thay phân đơn với lượng 30-35 kg/sào Bắc Bộ (hoặc quy đổi tương đương).

Nên ngắt bỏ bớt lá già, lá sâu bệnh đảm bảo ruộng thoáng, hạn chế sâu bệnh, thuận tiện cho chăm sóc, thu hái.

– Tưới nước: có thể sử dụng nước mặt (hồ, ao, sông) hoặc nước ngầm (nước giếng khoan) để tưới; hàm lượng một số hóa chất và kim loại nặng trong nước không vượt mức tối đa cho phép được quy định trong Quyết định số 99/2008/QĐ-BNN ngày 15/10/2008 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Định kỳ kiểm tra chất lượng nước tưới theo quy định.

– Không sử dụng nước thải công nghiệp, nước thải từ các bệnh viện, khu dân cư tập trung, trang trại chăn nuôi, lò giết mổ gia súc chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn để tưới trực tiếp.

– Sau khi trồng thường xuyên tưới ẩm cho cây sinh trưởng phát triển bình thường. Giai đoạn cây sinh trưởng thân lá cần đảm bảo đủ nước (luôn duy trì độ ẩm đất từ 70-80 %).

– Nếu có điều kiện thì tưới rãnh, sau khi mặt nước đã thấm nước đều phải tháo kiệt, hạn chế đọng nước trên rãnh.

– Các đợt bón thúc đều phải kếp hợp làm cỏ, xới xáo, vun gốc, tưới nước.

6. Phòng trừ sâu bệnh

Biện pháp canh tác, thủ công, sinh học:

Cần áp dụng tối đa các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) như sử dụng bẫy pheromone để phòng trừ sâu xanh bướm trắng ở các giai đoạn sinh trưởng của cây.

Quản lý cây trồng tổng hợp (ICM) nhằm hạn chế thấp nhất việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) như: sử dụng các giống, kháng và nhiễm nhẹ sâu bệnh.

Trước khi trồng vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ dại, làm đất sớm để trừ trứng, nhộng, sâu non trong đất, xử lý bằng thuốc (Basudin 10H, Vibam 5H,…);

Kết hợp các đợt bón thúc cho bắp cải cần vơ tỉa lá già, loại bỏ lá bị sâu, bệnh tạo cho ruộng thông thoáng, hạn chế sâu bệnh.

Áp dụng các biện pháp luân canh với cây lúa nước, cây khác họ nhằm hạn chế nguồn phát sinh sâu bệnh hại. Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng phát hiện và phòng trừ sớm sâu bệnh hại;

Dùng biện pháp thủ công: ngắt ổ trứng, bắt giết sâu non khi mật độ sâu thấp (áp dụng với sâu khoang, sâu xanh bướm trắng).

Biện pháp hóa học

– Các nguyên tắc khi sử dụng thuốc BVTV

+ Chỉ sử dụng thuốc BVTV khi sâu bệnh hại đến ngưỡng phòng trừ theo hướng dẫn của ngành Bảo vệ thực vật.

+ Ưu tiên sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học, thuốc thảo mộc, thuốc gốc cúc tổng hợp, các loại thuốc có độ độc thấp (thuộc nhóm 3 trở lên), thuốc có thời gian cách ly ngắn, nhanh phân hủy và ít ảnh hưởng đến các loài vi sinh vật có ích trên ruộng.

+ Cần sử dụng luân phiên các loại thuốc có hoạt chất khác nhau để tránh sâu nhanh quen thuốc. Tuân thủ nghiêm ngặt nồng độ, thời gian cách ly của từng loại thuốc trước khi thu hoạch theo đúng hướng dẫn của đơn vị sản xuất ghi trên bao bì.

+ Người sản xuất phải nắm vững kỹ thuật sử dụng thuốc theo nguyên tắc “4 đúng”: đúng thuốc, đúng nồng độ-liều lượng, đúng lúc và đúng cách.

+ Thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để phát hiện sâu bệnh hại và thực hiện theo hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và các cơ quan chuyên môn.

Một số sâu bệnh hại chính và cách phòng trừ

Bọ nhảy ( Phyllotreta Striolata): xuất hiện gây hại trên cải rất sớm, khoảng 5 ngày sau gieo. Gây hại chủ yếu ở giai đoạn 13 – 15 ngày sau gieo. Hoạt chất Abamectin Scorpion 18EC, Elincol 12ME, Tập kỳ 1,8 EC pha (10 -15ml/bình 16 lít nước), …

Sâu tơ ( Plutella xylostella), sâu ăn tạp ( Spodoptera litura), sâu đục nõn (đục ngọn) ( Hetula undalis), sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae): xử lý thuốc hóa học thế hệ mới có hoạt chất Spinosad (Success 25SC), hoạt chất Indoxacarb (Ammate 150SC), thuốc thảo mộc có hoạt chất Matrine (Marigold 0.36 AS, Sokupi 0.36AS, Sokonec 0.36AS …), thuốc sinh học Bt (Delfin WG, Crymax 35WP, Kuraba WP,…), hoạt chất Emamectin benzoate (Emaben 2.0EC, Rholam 20EC, Susupes 1.9EC, Dylan 2EC…), hoạt chất Abamectin (Elincol 12ME, Kuraba 3.6EC, Vertimec 1.8EC, Soka 24.5EC, Plutel 1.8EC…).

Rệp ( Brevicoryne brassicae) : Là môi giới truyền một số bệnh virus. Sử dụng một trong các loại thuốc sau: Oncol 20EC 0,3%, Marshal 200EC 0,2%, Butyl 20WP 0,2%, Trebon 30EC, Actara 25WP, …để phòng trừ.

– Chết thắt cây con do nấm Rhizoctonia solaniPythium ultinum gây ra ở 2 thời kỳ của cây trước nảy mầm và sau nảy mầm.

– Bệnh sương mai do nấm Bremia lactucae gây ra khi độ ẩm đất và không khí quá cao. Dùng Mancozep phun 5 ngày 1 lần, luân canh cây trồng có hiệu quả hơn.

– Bệnh thối thân do nấm Sclerotinia sclerotiorum gây ra, vết bệnh xuất hiện ở phần thân gần đất, sau đó lan đến lá bị khô, cây gục xuống và chết, trong thân mô cây bị thối nhũn. Bào tử nấm sống nhiều năm trong đất, dùng giống chống bệnh và phải luân canh với cây trồng khác họ.

– Bệnh thối rễ do nấm Pythium ultinum gây ra, xuất hiện khi đất dí chặt, tưới quá nhiều nước, cần làm cho đất thông thoáng, bón thêm vật liệu hữu cơ cho đất tơi xốp.

– Bệnh cháy lá do vi khuẩn Xanthomonas gây hại, vết bệnh xuất hiện và gây hại trên lá già sát mặt luống sau lan lên lá trên. Để hạn chế bệnh hại cần tiến hành luân canh cây trồng, dọn sạch tàn dư bệnh, sử dụng giống chống chịu bệnh, khi bệnh nặng cần tiến hành phun thuốc kịp thời, sử dụng thuốc Kasuran 47 WP để phun.

– Bệnh thối nhũn bắp cải do vi khuẩn Erwinia carotovora gây ra, bệnh hại nặng trên những chân ruộng trũng thấp, bón thừa đạm và đặc biệt sau những trận mưa. Nên chọn chân ruộng cao ráo, sạch sẽ để trồng, bón phân cân đối, có thể sử dụng thuốc Kasumin 2 SL, Kasuran 47 WP để phun phòng đặc biệt sau những trận mưa.

– Bệnh thối hạch trên lá do nấm Sclerotinia sclerotium: gây hại nặng vào mùa mưa, phun thuốc khi bệnh xuất hiện. Bệnh nặng có thể phun thuốc 2, 3 lần cách nhau từ 5 – 7 ngày, xử lý một trong các loại thuốc có hoạt chất Chlorothalonil (Daconil 75WP, Arygreen 75WP, …), hoạt chất Mancozeb + Metalaxyl (Ridomil MZ – 72WP, Romil 72WP …), hoạt chất Difenoconazole (Score 250EC), hoạt chất Mancozeb (Dithane M45 – 80WP), hoạt chất Propineb (Antracol 70WP, Zintracol 70WP …), hoạt chất Difenoconazole (Score 250EC), hoạt chất Mancozeb (Dithane M45 – 80WP).

– Bệnh sưng rễ do nấm Plasmodiophora brassicae gây hại, đây là bệnh phổ biến và nghiêm trọng tại các vùng chuyên trồng rau họ thập tự. Hiện chưa có thuốc đặc trị bệnh nên biệp pháp hiệu quả nhất là luân canh cây trồng, vệ sinh sạch sẽ đồng ruộng trước khi trồng và sau khi thu hoạch, sử dụng phân bón cân đối hợp lý.

– Tuyến trùng gây bệnh sưng rễ ( Meloidogyne sp): dùng các loại thuốc Sincosin 0,56 SL 0,1 % để xử lý hạt, xử lý cây con lúc trồng và phun thêm một lần vào 10 ngày sau trồng.

III. Thu hoạch, sơ chế, bảo quản

Thu hoạch

Thời gian thu hoạch tuỳ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc và đặc điểm khí hậu, đất đai từng vùng. Thu hoạch khi bắp cuốn chặt, thu hoạch vào sáng sớm hoặc chiều mát, thu hoạch nhẹ nhàng, tránh dập nát, hư hỏng; dùng các thùng, rổ sạch gom, thu, phân loại, xếp vào các dụng cụ vận chuyển về phòng sơ chế và bảo quản, tránh để dập nát, xây sát hoặc tiếp xúc với đất.

Loại bỏ quả có vết sâu bệnh hại, dị dạng. Không rửa nước trước khi đóng gói và đưa vào bảo quản cũng như vận chuyển phụ vụ thị trường.

Thời điểm thu hoạch phải đảm bảo đúng thời gian cách ly theo chỉ dẫn trên bao bì hóa chất, thuốc BVTV.

Sơ chế

Nhà sơ chế, các thiết bị dụng cụ, vật tư, đồ chứa, phương tiện vận chuyển phải đảm bảo các tiêu chí về an toàn vệ sinh thực phẩm theo quy định.

Chất lượng nước sơ chế tối thiểu phải đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt theo quy định của Bộ Y tế.

Đóng gói

Trước khi đóng gói, cần loại bỏ lá già, lá sâu bệnh, phân loại, rửa sạch. Đóng gói theo nhu cầu sử dụng, ghi nhãn theo quy định để giúp việc truy nguyên nguồn gốc được dễ dàng.

Bảo quản

Bắp cải được bảo quản nơi thoáng mát hoặc kho lạnh, có thể làm giàn nhiều tầng để xếp khi vận chuyển, tránh không để chất đống gây dập nát và ảnh hưởng đến hô hấp.

Sản phẩm

Bắp cải an toàn sau thu hoạch, sơ chế để tiêu thụ trên thị trường hoặc chế biến phải đạt các chỉ tiêu chất lượng quy định.

Không bảo quản và vận chuyển sản phẩm chung với các hàng hóa khác có nguy cơ gây ô nhiễm sản phẩm.

【#8】Qui Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Có Múi (Citrus)

Một số lưu ý về kỹ thuật canh tác

a. Các giống cam: Ở Tiền Giang hiện trồng các giống:

– Cam giây: Cây cam phân cành thấp, tán hình dù lan rộng. Ở tuổi thứ 5 cây cao khoảng 3 – 4 m, đường kính tán 5 – 6 m. Cành ít gai, gai ngắn, lá xanh đậm, có eo nhỏ, cây có thể ra hoa 3 vụ trong một năm, năng suất có thể đạt tới 1.000 – 1.200 trái/cây/năm. Trọng lượng trái trung bình 217 – 259g. Khi chín vỏ trái màu vàng, thịt trái vàng đậm, ngọt, ít chua, nhiều hạt 20 – 23 hạt/trái.

– Cam mật: Cây 5 tuổi cao trung bình 5 m, tán hình cầu, cây phân cành nhiều, ít gai. Lá có màu xanh đậm, eo lá nhỏ, tán cây thoáng. Cây ra 2 – 3 vụ trái/năm. Số trái đạt từ 1.000 – 1.200 trái, trọng lượng trung bình 240 – 250 g. Vỏ trái dày 3 – 4 mm, trái mọng nước, khi chín có màu vàng, thơm, ngọt, ít chua, nhiều hạt. Cam mật là một giống có năng suất cao.

– Cam sành: Là giống cam được các nhà vườn ưa chuộng, cây có phẩm chất trái thơm ngon, trồng được ở nhiều loại đất, màu sắc trái xanh vàng, bề mặt vỏ sần, trái hình cầu, hơi dẹp hai đầu, thịt trái màu cam, mềm, nhiều nước. Lá hình trứng màu xanh đậm, trọng lượng trung bình 250g, ít hạt.

b. Các giống quít:

– Quít đường: Tán cây trung bình, trái hơi dẹp hai đầu, vỏ mỏng dễ bóc, múi rời dễ tách, vỏ trái màu vàng xanh, láng, thịt trái màu cam, mềm: có nhiều nước, vị ngọt, thơm, trọng lượng trái trung bình 170 g.

– Quít tiều: Vỏ màu cam đậm, bề mặt vỏ láng, nổi múi khá rõ. Trái hình cầu, dẹp hai đầu, vỏ rất dễ bóc, thịt trái màu cam đậm, mềm, vị hơi chua hơn quít đường, khá nhiều nước, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 180 g.

c. Các giống bưởi:

– Bưởi Năm Roi: Lá có dạng hình tam giác, phiến lá hình trứng ngược, vỏ trái màu vàng, bề mặt vỏ rỗ đốm, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, màu thịt vàng đồng đều, vị ngọt hơi chua, nước khá, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1 kg.

– Bưởi long: Lá có dạng tim, phiến lá hình trứng ngược; vỏ trái màu vàng xanh, bề mặt trái rổ đốm, trái có hình cầu hơi chom, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu hồng pha, nhiều nước, vị chua, hơi đắng, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1,1 kg.

– Bưởi đường da láng: Vỏ màu vàng nhạt, bề mặt vỏ láng, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu vàng đậm, nước nhiều, vị ngọt đắng, ít hạt. Trọng lượng trái trung bình 1kg.

– Bưởi thanh trà: Vỏ trái màu vàng nhạt, bề mặt vỏ láng, trái hình quả lê, vỏ múi dễ bóc, thịt trái màu vàng nhạt, nhiều nước, vị ngọt, ít hạt. Trọng lượng trái 1 kg.

Ngoài ra, cây có múi còn có nhiều giống khác như: Cam xoàn, Bưởi Biên Hòa, Quít Orlando … mấy năm gần đây cũng đang được nhà vườn ưa chuộng.

Cây có múi thường được trồng vào đầu mùa mưa để đỡ công tưới, tuy nhiêm cũng có thể trồng được quanh năm nếu chủ động nguồn nước tưới.

3. Chuẩn bị đất trồng:

Dùng đất tốt như đất mặt ruộng, đất bãi bồi ven sông … để đắp mô. Mô có hình tròn, đường kính 0,6 – 0,8 m; cao 0,3 – 0,5 m. Đất đắp mô có thể trộn tro trấu, phân chuồng hoai mục, xử lý đất bằng Furadan để trừ côn trùng và vôi để ngừa bệnh.

4. Trồng cây chắn gió và che mát:

Cây có múi thích hợp ánh sáng tán xạ, do đó phải trồng cây che mát cho cam, quít bưởi như các loại cây mãng cầu xiêm, so đũa … . Đồng thời trồng cây chắn gió như dừa, xoài, các loại cây lấy gỗ trên bờ bao … để hạn chế sự thiệt hại do gió bão, sự lây lan của côn trùng, mầm bệnh.

5. Khoảng cách trồng:

– Cam sành: 3 x 3 m

– Cam mật, quít, chanh: 4 x 4 m

Có thể trồng dày hơn để khai thác trong những năm đầu, khi cây giao tán thì tiến hành đốn tỉa.

6. Đắp mô, bồi liếp:

Trong 2 năm đầu sau khi trồng: mỗi năm bồi 1 – 2 lần bằng đất bùn ao, đất bãi sông phơi khô. Năm thứ ba trở đi thì tiến hành bồi liếp mỗi năm 1 lần khoảng 2 – 3 cm nhằm mục đích cung cấp thêm dinh dưỡng, đồng thời nâng cao tầng canh tác. Chú ý không bồi sát gốc cây.

Mực nước trong mương: cam, quít rất mẫn cảm với nước, vì vậy cần để mực nước trong mương cách mặt liếp khoảng 50 – 80 cm.

7. Tủ gốc, giữ ẩm:

Rễ hấp thu dinh dưỡng đa số mọc cạn, mùa nắng nhiệt độ cao sẽ ảnh hưởng xấu đến rễ, do đó cần tủ gốc giữ ẩm bằng rơm rạ, lục bình, nhớ tủ xa gốc ít nhất 20 cm.

Ngoài ra, trong vườn cần lưu ý để cỏ, loại cỏ ăn cạn như cỏ rau trai để giữ ẩm vườn trong mùa nắng, làm thông thoáng đất trong mùa mưa và giảm thiệt hại cho cây trong mùa lũ. Nếu cỏ mọc cao nên cắt cỏ bớt (không xới gốc).

Thường xuyên cắt tỉa cành già, cành vượt, cành sâu bệnh, cành mọc từ gốc ghép để vườn cây thông thoáng hạn chế sâu bệnh phát triển.

Tùy theo đất, giống và tình trạng dinh dưỡng của cây mà quyết định lượng phân bón thích hợp, cần cung cấp đầy đủ đạm, lân, kalii; bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng để cây đạt năng suất cao.

【#9】Quy Trình Kỹ Thuật Canh Tác Cây Đậu Phộng, Cây Lạc

Ngày đăng: 2021-12-27 15:11:41

I. Kỹ thuật canh tác cây đậu phộng, cây lạc:

1. Chuẩn bị đất:

– Làm đất: Cày sâu, bừa nhỏ tơi xốp và nhặt sạch cỏ dại trước khi rạch hàng.

– Đối với đất màu làm liếp rộng 1,2 – 1,5m, rãnh rộng 20 – 30cm. Vụ đông xuân không lên liếp, trồng thành băng rộng 5 – 6m, đào rãnh giữa các dãi băng để tiện đi lại, chăm sóc và tưới nước.

– Trồng mùa mưa (vụ hè thu và thu đông) nhất thiết phải lên liếp thoát nước.

2. Giống:

Một số giống đậu phụng phổ biến như Đậu giấy (Đồng Nai, Sông Bé, Biên Hòa). Giống VD2 của Công ty cổ phần giống cây trồng Miền nam. Giống L14, MD7 và LDH01 do viện Khoa học nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn lọc…

3. Thời vụ:

– Vụ Đông Xuân (chính vụ) gieo tháng 11 – 12 thu hoạch tháng 2 – 3.

– Vụ Hè Thu gieo tháng 4 – 6 thu hoạch 7 – 8.

– Vụ Thu Đông gieo tháng 7 – 8 thu hoạch tháng 10 – 11.

4. Kỹ thuật gieo hạt:

– Trước khi gieo xử lý hạt bằng thuốc Rovral kết hợp với Regent 3H (hoặc BAM 5H).

– Gieo hạt:

+ Gieo hốc: Đất sau khi được xới kỹ và lên liếp, dùng chày 4 – 5 mũi nhọn đi lùi trên ruộng để chọc lỗ (hốc) và gieo tia hạt. Khoảng cách hốc 20 – 25cm và gieo 2 – 3 hạt/hốc.

+ Gieo hàng: Dùng cào 4 – 5 răng với khoảng cách các răng 25cm kéo dọc mặt liếp có độ sâu 4 – 5cm và gieo hạt cách nhau 7 – 9cm. Lượng đậu giống vỏ là 180 – 200kg/ha.

– Độ sâu gieo hạt: Mùa nắng, đất nhẹ gieo sâu 5cm, mùa mưa, đất nặng gieo sâu 3cm.

II. Kỹ thuật chăm sóc và bón phân cho cây đậu phộng, cây lạc

1. Bón phân:

– Bón vôi trước khi làm đất khoảng 500kg/ha và 2 – 3 năm bón 1 lần.

– Bón lót 2 – 3 tấn phân chuồng hoai kết hợp với phân hóa học.

Có thể áp dụng công thức phân: 25kg N – 60kg P2O5 – 60kg K2O/ha.

Thời kỳ bón:

+ Bón lót toàn bộ phân hữu cơ và kali + 50% lân +1/3 phân đạm kết hợp với thuốc trừ kiến, mối.

+ Phân đạm còn lại chia ra làm hai lần bón thúc:

– Thúc 1: 10 – 15 ngày sau khi gieo;

– Thúc 2: 25 – 30 ngày sau khi gieo

50% phân lân còn lại sẽ được bón vào thời điểm cây ra hoa để làm tăng năng suất (nên dùng super lân để bón).

2. Chăm sóc:

– Trồng dặm: 3 – 5 ngày sau khi gieo.

– Làm cỏ vào ngày thứ 15 và ngày thứ 30 sau khi gieo, kết hợp bón phân thúc.

3. Tưới nước:

Có 2 cách tưới:

a. Tưới phun:

– Lần tưới đầu tiên vào thời điểm ngay sau khi gieo, sau đó tưới 7 – 10 ngày/lần.

– Tưới cho đất đủ thấm nước và nên tưới cuốn chiếu, tránh đi lại nhiều trên ruộng. Thiết kế những đường rãnh nhỏ để tiêu nước khi cần thiết, nhất là trường hợp gặp mưa to.

b. Tưới rãnh: Áp dụng phổ biến ở những vùng đất nhẹ và trồng lên liếp.

– Số lần tưới như tưới phun và lần tưới đầu tiên cũng áp dụng ngay sau khi gieo. Nơi cao tưới trước, nơi trũng tưới sau. Tưới cho rãnh nước thấm đều và hạn chế đi lại trên rãnh sau khi tưới. Các rãnh tưới phải thông thoáng, dẫn nước tốt.

Các giai đoạn cây đậu cần nước: vừa gieo xong; ra hoa; đâm tia và tạo trái. Ngưng tưới trước khi thu hoạch 10 – 12 ngày.

III. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH:

A. Bệnh:

1. Bệnh héo cây con: Bệnh gây hại chủ yếu ở giai đoạn cây con (2 tuần tuổi). Cây bị héo, quan sát ngay gốc cây chết thấy có khuẩn ty màu trắng, sau đó trở thành cương hạch tròn màu trắng rồi nâu. Phun thuốc Kitazin 50 EC theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

2. Bệnh đốm lá: có 02 loại:

+ Đốm nâu: Hại chủ yếu trên lá, vết bệnh có màu nâu, nâu vàng, xung quanh vết bệnh có quần vàng, trên vết bệnh có 1 lớp mốc màu xám, mặt dưới vết bệnh có màu nhạt hơn.

+ Đốm đen: Bệnh xuất hiện đầu tiên ở những lá dưới gốc sau đó lan lên những lá phía trên, vết bệnh có màu đen đều ở 2 mặt. Vết bệnh có hình tròn, dưới lá màu đen sẫm, dày. Từ trung tâm vết bệnh lan ra xung quanh, vết bệnh có hoặc có viền vàng rất nhỏ.

Bệnh gây hại nặng vào giai đoạn 70 ngày sau khi trồng. Dùng thuốc gốc đồng hoặc lưu huỳnh như: Benlate, Kumulus, Kasuran, Bordeaux phun vào 20 – 25 ngày sau khi thu.

3. Gỉ sắt: Triệu chứng: Bệnh phát sinh chủ yếu trên lá, đôi khi có trên cuống lá, thân, tia quả. Vết bệnh là các mụn nhỏ màu vàng cam ở dưới các mặt lá, bệnh nặng làm lá khô vàng và rụng đi. Bệnh do nấm gây ra, có thể hại trên tất cả giai đoạn sinh trưởng của cây. Khi chớm bệnh có thể phun Daconil, Dithane M45, Bavistin …

4. Lỡ cổ rễ: Dùng thuốc Validamycin, Anvil, Mancozeb …

5. Bệnh chết nhát: Vụ đông xuân, cây đậu thường bị bệnh chết nhát khoảng 10 – 20 ngày sau gieo. Bệnh chết nhát trên cây đậu phụng còn gọi là bệnh chết ẻo làm thiệt hại lớn đến năng suất và chất lượng đậu. Bệnh do nhiều tác nhân: vi khuẩn gây héo xanh, nấm gây héo rũ gốc, mốc đen, mốc trắng.

Biện pháp phòng trừ:

+ Luân canh với các loại cây trồng khác (lúa, bắp …); sử dụng phân hữu cơ, bón phân cân đối.

+ Xử lý hạt trước khi gieo. Trộn hạt giống với các loại thuốc như Hạt Vàng 50 WP liều lượng 100gr/30kg giống hoặc Saizole 5 SC liều lượng 100ml/30kg giống hòa với nước và tưới đều lên hạt đậu giống trước khi đem gieo khoảng 1 – 2 giờ.

Khi cây được 20 – 40 ngày tuổi, phun các loại thuốc Mexyl MZ 72WP: 1,5kg/ha + KNO3: 1kg/ha, Dipomate 80WP: 1,5kg/ha + Multi-K.

B. Sâu:

– Sâu xanh da láng, sâu tơ, sâu xám: phun Vectimec, Polytrin, Regent …

– Sùng đất: sử dụng các loại thuốc Regent, Basudin …

– Sâu đất: rãi thuốc trừ sâu dạng hạt vào đất từ 1 – 2 tuần lễ trước khi gieo hạt.

Chú ý: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phải theo nguyên tắc “4 đúng” (đúng thuốc, đúng liều lượng và nồng độ, đúng lúc và đúng cách).

IV. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN

Việc thu hoạch và bảo quản có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hạt đậu.

Thu hoạch phải đúng độ chín, (khoảng 3 tháng sau khi gieo) khi có 70 – 75% số quả chín/tổng số quả của cây. Gần ngày thu hoạch nhổ một số cây mẫu để kiểm tra xác định ngày thu hoạch thích hợp.

Quả đậu phụng tươi sau khi thu hoạch có lượng nước 45 – 55% trọng lượng. Cần phải làm khô để hạ độ ẩm xuống còn 9 – 11% bằng cách phơi nắng hoặc sấy. Nếu phơi thì tránh phơi trực tiếp dưới ánh nắng mạnh trên 45ºC.

Quả giống sau khi đã làm khô, để nguội rồi đóng gói trong bao tải bên trong có túi ni lông, khâu kỹ. Nên bảo quản đậu phụng vỏ tốt hơn đậu hạt. Nơi bảo quản cần khô ráo, thoáng mát. Độ ẩm trong kho bảo quản tốt nhất khoảng 65 – 70%, ẩm quá hạt dễ bị nấm mốc làm hư hại nhưng nếu khô quá hạt bị giòn và dễ vỡ khi vận chuyển.

Nhiệt độ bảo quản càng thấp thì thời gian bảo quản được càng dài. Bảo quản trong phòng lạnh 12 – 13ºC. Đậu giống không nên bảo quản quá 12 tháng.

Trong điều kiện bảo quản ở gia đình có thể dùng hai lớp cót quây, ở giữa là lớp trấu khô hoặc tro bếp để chống ẩm (giống như phương pháp bảo quản lương thực). Nếu số lượng ít có thể bảo quản bằng chum vại và bịt kín.

TIN TỨC KHÁC :

【#10】Mít Thái Hiện Nay Đã Và Đang Được Rất Nhiều Người Yêu Thích Bởi Hương Vị Nó Mang Lại. Loại Mít Này Có Vị Ngọt Đậm, Ít Xơ Và Xơ Có Thể Ăn Được.chính Vì Vậy, Mà Mít Thái Trở Thành Một Loại Cây Kinh Tế Của Nhiều Hộ Gia Đình. Bên Cạnh Đó, Nếu Bạn Là Một Khu Vườn Nho Nhỏ Để Trồng Cây Ăn Quả Cũng Tại Sao Không Nên Thử Trồng Một Cây Mít Thái Trong Khu Vườn Của Mình Nhỉ Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Mít Thái Khá Đơn Giản, Không Cần Nhiều Thời Gian Và Công Sức Chăm Sóc, Thời Gian Sinh Trưởng Ngắn Và Nhanh Cho Quả. Với Những Lý Do Trên Nhiều Bà Con Đã Mua Giống Mít Thái Về Trồng. Tuy Nhiên, Để Cây Sinh Trưởng Và Phát Triển Thuận Lợi, Cho Quả Đều Đặn Thì Cần Biết Đến Cách Trồng Và Chăm Sóc Loại Cây Này. Hãy Cùng My Garden Tìm Hiểu Về Cách Trồng Cây Mít Thái Cho Quả To Ngọt, Đậu Trái Quanh Năm Qua Bài Viết Dưới Đây Nhé 1. Cách Trồng Cây Mít Tại Tại Nhà Cây Mít Thái Rất Dễ Trồng, Dễ Phát Triển Thời Vụ Ngắn, Múi Giòn Ngọt Và Sinh Trưởng Tốt Nhất Với Vùng Đất Đồi. Tuy Nhiên, Để Đạt Hiệu Quả Cao Nhất Thì Kỹ Thuật Trồng Đóng Vai Trò Quan Trọng. Khi Trồng Mít Thái Chúng Ta Cần Đáp Ứng Những Kỹ Thuật Đơn Giản Sau 1.1. Chọn Giống Mít Thái Có Thể Nói Chọn Giống Mít Là Bước Đầu Tiên Quan Trọng Và Quyết Định Phần Lớn Quá Trình Phát Triển Sau Này Của Cây. Phương Pháp Tốt Nhất Để Lựa Chọn Giống Cây Khỏe Mạnh Có Chọn Lọc Đó Là Phương Pháp Ghép. Chúng Ta Hãy Lựa Chọn Những Cây Ghép Như Mít, Mật, Mít Rừng Có Đường Kính Gốc Ghép Từ 1 Đến 1,5 Cm Với Chiều Cao Từ 30 Đến 40Cm.. Lựa Chọn Cây Khỏe Mạnh, Không Sâu Bệnh, Bộ Rễ Phát Triển Mạnh Để Lấy Được Nhiều Chất Dinh Dưỡng Nuôi Cây, Dòng F1 Thuần Chủng Mới Cho Ta Được Sản Lượng Và Chất Lượng Như Mong Đợi. Khi Đã Lựa Chọn Được Cây Mẹ Chúng Ta Tiến Hành Cấy Ghép Có 2 Phương Pháp Cấy Ghép Mà Chúng Ta Có Thể Lựa Chọn Đó Là Ghép Áp Hoặc Ghép Mắt Theo Kiểu Cửa Sổ. Theo Kết Quả Thu Được Thì Tỉ Lệ Ghép Áp Thành Công Cao Hơn Thời Gian Hợp Lý Nhất Để Tiến Hành Chiết, Giâm, Ghép Cây Là Vụ Xuân Và Vụ Thu Khi Nhựa Cây Ổn Định, Tỷ Lệ Ra Hoa Kết Trái Đạt Đến Xác Suất Cao Nhất. Sau Khi Chiết Tầm 2 Đến 3 Ngày Nhựa Đã Khô Thì Tiến Hành Bó Bầu, Còn Giâm Và Ghép Cành Thì Cần Tiến Hành Ngay Sau Khi Cắt Để Cây Không Bị Khô Héo Và Nhiễm Khuẩn 1.2. Cách Làm Đất Để Trồng Mít Thái Trước Khi Trồng Mít Thái, Chúng Ta Hãy Đào Mương Rãnh Sâu Ít Nhất 30 Đến 40Cm Để Phòng Trừ Ngập Úng Vào Mùa Mưa. Làm Hốc Sâu 40 X 40 X 40Cm Và Đắp Mô Cao 40

Mít Thái hiện nay đã và đang được rất nhiều người yêu thích bởi hương vị nó mang lại. Loại mít này có vị ngọt đậm, ít xơ và xơ có thể ăn được.Chính vì vậy, mà mít thái trở thành một loại cây kinh tế của nhiều hộ gia đình. Bên cạnh đó, nếu bạn là một khu vườn nho nhỏ để trồng cây ăn quả cũng tại sao không nên thử trồng một cây mít thái trong khu vườn của mình nhỉ

Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây mít thái khá đơn giản, không cần nhiều thời gian và công sức chăm sóc, thời gian sinh trưởng ngắn và nhanh cho quả. Với những lý do trên nhiều bà con đã mua giống mít thái về trồng. Tuy nhiên, để cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi, cho quả đều đặn thì cần biết đến cách trồng và chăm sóc loại cây này.

1. Cách trồng cây mít Thái tại tại nhà

Cây mít Thái rất dễ trồng, dễ phát triển thời vụ ngắn, múi giòn ngọt và sinh trưởng tốt nhất với vùng đất đồi. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả cao nhất thì kỹ thuật trồng đóng vai trò quan trọng. Khi trồng mít thái chúng ta cần đáp ứng những kỹ thuật đơn giản sau

1.1. Chọn giống mít Thái

Phương pháp tốt nhất để lựa chọn giống cây khỏe mạnh có chọn lọc đó là phương pháp ghép. Chúng ta hãy lựa chọn những cây ghép như mít, mật, mít rừng có đường kính gốc ghép từ 1 đến 1,5 cm với chiều cao từ 30 đến 40cm.. Lựa chọn cây khỏe mạnh, không sâu bệnh, bộ rễ phát triển mạnh để lấy được nhiều chất dinh dưỡng nuôi cây, dòng f1 thuần chủng mới cho ta được sản lượng và chất lượng như mong đợi. Khi đã lựa chọn được cây mẹ chúng ta tiến hành cấy ghép

Có 2 phương pháp cấy ghép mà chúng ta có thể lựa chọn đó là ghép áp hoặc ghép mắt theo kiểu cửa sổ. Theo kết quả thu được thì tỉ lệ ghép áp thành công cao hơn

Thời gian hợp lý nhất để tiến hành chiết, giâm, ghép cây là vụ Xuân và vụ Thu khi nhựa cây ổn định, tỷ lệ ra hoa kết trái đạt đến xác suất cao nhất. Sau khi chiết tầm 2 đến 3 ngày nhựa đã khô thì tiến hành bó bầu, còn giâm và ghép cành thì cần tiến hành ngay sau khi cắt để cây không bị khô héo và nhiễm khuẩn

Trước khi trồng mít Thái, chúng ta hãy đào mương rãnh sâu ít nhất 30 đến 40cm để phòng trừ ngập úng vào mùa mưa. Làm hốc sâu 40 x 40 x 40cm và đắp mô cao 40 – 70cm. Với khoảng đất trồng có độ dốc 5% chỉ cần làm hốc có kích thước 40x40x40cm. Còn đất có độ dốc 7% thì làm hốc có kích thước 40x40cm và sâu 60cm.

Sau đó, chúng ta tiến hành cải tạo đất trồng bằng cách trộn 0,5kg vôi bột với 1-3kg phân hữu cơ Better HG01 3-2-2 bỏ xuống mỗi hốc.

Đào hố để trồng cây mít Thái có kích thước 50cm x 50cm x 50cm, bón lót cho mỗi hố đã đào từ 10 đến 12 kg phân chuồng đã ủ hoai hoặc 1kg phân hữu cơ, 250g phân lân, trộn đều với đất vừa đào lên. Để tiêu tiêu các mầm mống gây bệnh cho cây, mối mọt, Kiến và tăng độ pH có thể trộn thêm 50 g Basudin 10H và 0,5 kg vôi

Mít Thái là giống cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn , cho trái quanh năm, không cần đến thuốc bảo vệ thực vật nên rất an toàn. Nếu chủ động được nguồn nước thì chúng ta có thể trồng quanh năm nhưng thời gian trồng tốt nhất vẫn là đầu tháng 5 đến tháng 7 dương lịch.

Khoảng cách trồng mít thái: Với đặc điểm sinh thái của cây mít Thái đó là cho trái sớm nên chúng ta có thể trồng với mật độ dày khoảng 5m x 6m. Sau khi đã thu hoạch mít được 5 đến 7 năm chúng ta có thể loại bỏ cây ở giữa để tạo điều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất, tránh trường hợp các cây tranh giành chất dinh dưỡng từ đất với nhau nên cần mật độ giữa các gốc mít thông thoáng, giúp cây đậu trái tốt hơn vào vụ tiếp

Đào một hố sâu, to hơn bầu cây sau đó dùng kéo cắt đáy bầu, loại bỏ rễ cọc bị xoắn lại, rễ con, rễ cái ăn ra khỏi bầu. Sau đó, đặt bầu vào hỗ đã đào sẵn và rút nhẹ túi đựng bầu ra, lấp đất lại, làm nhẹ nhàng, cẩn thận tránh làm vỡ bầu và đứt rễ cây.

Để cho gốc cây được cố định, không bị lung lay hay bật gốc khi có gió chúng ta dùng tay ấn chặt lớp đất xung quanh lại. Một lưu ý đặc biệt là khi đặt cây vào trong hố làm sao để cổ rễ ngang bằng với đất nền xung quanh, tránh trồng âm hoặc lấp phần thân cây.

Sau khi trồng cây mít Thái xong, nếu thấy đất khô chúng ta tiến hành tưới nước cho cây , có thể dùng rơm, rạ… đắp xung quanh bầu để giữ ẩm. Có thể, cắm một cái cọc cố định xuống bên cạnh cây rồi buộc thân cây vào cọc để cây không bị ngã khi mưa gió đến

Nếu đất khô phải tưới cho cây ngay, dùng rơm, rạ, cỏ rác… đậy xung quanh bầu để giữ ẩm. Nếu cây cao, ốm yếu dùng cọc cắm cố định cho cây khỏi ngã đổ.

2. Cách chăm sóc cây mít Thái cho quả đều đặn hàng năm

Sau khi đã hoàn thành quá trình trồng cây mít Thái, chúng ta bắt đầu tiến hành giai đoạn chăm sóc để cây luôn khỏe mạnh, cho trái đều hàng năm với những phương pháp sau:

Mít Thái không tốn nhiều công chăm sóc của người trồng, chúng ta có thể chăm sóc định kỳ cho chúng. Trong giai đoạn đầu, chúng ta phủ xung quanh gốc một lớp rơm rạ để phòng trừ cỏ dại, chống xói mòn vào mùa mưa và giữa ẩm cho đất vào mùa khô

Mít Thái là loại cây cần nhiều nước trong quá trình phát triển cho nên vào mùa khô cần chú ý cung cấp đủ lượng nước cần thiết cho cây. Nếu đất khô quá thì tưới 2 đến 3 lần/ngày.

Bên cạnh đó, để tránh tình trạng ngập úng gây thối gốc cây vào mùa mưa nên làm kênh rãnh để thoát nước và có biện pháp chống ứ đọng nước.

Sau các trận mưa, thì nên tích cực làm cỏ dại, thường xuyên làm cỏ quanh gốc cây để tạo độ thông thoáng cho cây phát triển ổn định. Khi thu hoach xong thì nên xới sạch toàn bộ diện tích, xới gốc 2 đến 3 lần mỗi năm

2.2. Cách bón phân và liệu lượng cho cây mít Thái

Bón phân cho cây là biện pháp tốt nhất giúp cây phát triển toàn diện, mang lại năng suất và chất lượng tốt nhất. Trong quá trình trồng và chăm sóc cây mít Thái, tùy vào từng giai đoạn phát triển của cây để bón loại phân và liều lượng thích hợp

Sau khi trồng được một tháng chúng ta tiến hành bón phân cho cây. Mỗi tháng bón một lần bằng phân chuồng đã ủ hoai theo tỷ lệ 1 phần phân với 3 phần nước. Sau đó, tưới đạm urê 1% để cung cấp cho các các dưỡng chất và nguyên tố vi lượng giúp bộ rễ phát triển bám sâu xuống đất

Đây là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh và bắt đầu cho trái nên cần rất nhiều chất dinh dưỡng, khoáng chất. Nên chúng ta tiếp tục cung cấp cho cây các chất cần thiết.

Mỗi cây bón 1,5-2,0 kg phân NPK theo tỷ lệ 2:1:2. Trộn hỗn hợp các loại 1,5 kg vôi bột, 30 đến 50 kg phân chuồng ủ hoai, 0,5 kg urê; 0,5 – 1kg lân; 0,3 – 0,5 kg kali. Chia nhỏ ra bón trong các giai đoạn: Sau khi thu hoạch, bắt đầu ra hóa. sau khi đậu trái 01 tháng và sau khi đậu trái 2,5 tháng

Lúc này chúng ta tăng lượng phân từ 0,5 – 1,0 kg/cây so với năm trước. Khi trái đã trưởng thành, cho trọng lượng tối đa thực hiện bón gốc với Kali sulphate (K2SO4), bón mỗi gốc 400-500 g để trái chín đồng đều, mùi vị giòn ngon và múi vàng hơn

Tạo rãnh nhỏ xung quanh theo đường kính tán cây, rải phân lấp đất lại và tưới ẩm. Để cây luôn sai quả, trái ngọt nên sử dụng phân chuồng đã ủ hoai để bón, vừa an toàn lại vừa chất lượng

Trong quá chăm sóc cây mít Thái để tăng năng suất tối đa cho cây chúng ta tiến hành tỉa cành. Tỉa những cành sâu bệnh để tránh lây lan khắp cả cây. Khi cây đã đạt chiều cao từ 1m trở lên mới tiến hành tỉa cành tạo tán cho cây.

Tỉa những cành sâu bệnh để cây thông thoáng nhằm tăng năng suất và mang tính thẩm mỹ. Tiến hành tỉa cành khi cây cao khoảng 1m trở lên, cây còn nhỏ thì cứ 2 đến 3 năm tạo tán. Còn các cây đã lâu năm thì sau khi thu hoạch thì tiến hành tỉa cành tạo tán với kỹ thuật sau:

  • Cát bỏ các cành gần sát mặt đất tình từ 40cm trỏ xuống
  • Tỉa bớt các cành tược, cành nhỏ, cành sâu bệnh, mọc không đúng hướng choc ây vừa đẹp vừa thông thoáng
  • Giữ lại các cành cấp 1 cách gốc khoảng 40cm trở lên, chọn các cành mọc theo các hướng khác nhau, cành trên cách cành dưới khoảng 40 – 50 cm, tạo thành tầng không quá 5 cành cấp 1.

Trên một cây thì có trái to, trái nhỏ, trái sâu, trái khỏe mạnh chính vì vậy để tạo điều kiện cho trái to, khỏe mạnh phát triển tối đa chúng ta nên loại bỏ bớt đi trái mã xấu, trái nhỏ, sâu bệnh

Tùy vào từng độ tuổi cây để chúng ta có phương pháp lựa chọn giữa trai trên cây phù hợp với mật độ và tình trạng phát triển của cây.

  • Khi cây 1 năm tuổi: nên tỉa bỏ chỉ chừa một trái/lứa.
  • Năm thứ hai: để 2 trái/lứa, thu hoạch được 4 trái/năm.
  • Năm thứ ba: để 3 trái/lứa, một năm 2 lứa, sẽ được 6 trái và như thế tăng số trái/cây theo từng năm tuổi.

3. Cách phòng trừ sâu bệnh cho cây mít Thái

Trong quá trình trồng cây, chúng không tránh khỏi tình trạng cây bị sâu bệnh phá hoại. Trong trường hợp này, chúng cần bình tĩnh xem xét đó là loại sâu bệnh nào để đưa ra phương án giải quyết kịp thời

Trong giai đoạn cây con, thường hay bị bệnh thối nhũn. Nguyên nhân chủ yếu là do người trồng để đất quá ẩm ướt dễ sinh bệnh rồi lây lan sang các cây khác. Bệnh có thể do nấm Rhizoctonia solani, Sclerotium, Pythium gây nên

Dấu hiệu: Trên thân gốc và bề mặt xuất hiện nhiều hạch nấm tròn to, nhỏ dày đặc. Bệnh nặng nếu không xử lý kịp thời sẽ làm teo gốc, phần non chết.

Cách điều trị: Để phòng bệnh thối nhũn bà con nên đảm bảo độ ẩm gốc cây vừa phải, trồng thưa để tạo sự thông thoáng, khô ráo và thoát nước tốt cho cây. Xử lý nguyên vật liệu trong vườn ươm bằng các loại thuốc như Kitazin, Rovral, Ridomil. Khi đã bị bệnh có thể dùng thuốc BVTV trừ bệnh có chứa hoạt chất: Viben C 50BTN, Bonanza 100 DD, Score 250 EC, Tilt 250ND.

Loại bệnh này thường xảy ra trên các vườn mít ẩm ướt, xuất hiện nhiều loại sâu chích hút nhựa cây tạo ra những vết thương hở tạo điều kiện cho nấm Phytophthora xâm nhập

Dấu hiệu: Trên gốc cây có nhiều vết loét, dịch nhựa trong cây chảy ra, vỏ vùng gốc bị thối, lá vàng rụng, lớp gỗ ẩm ướt và thâm đen. Nếu không chữa trị kịp thời cây sẽ chết

Cách phòng trừ: Để phòng trừ loại bệnh này nên trồng mít ở những vùng đất cao ráo, thoát nước tốt. Có phương án bảo vệ các thiên địch để hạn chế mật độ sâu rầy gây hại. Khi cần thiết dùng các loại thuốc hóa học có tính chọn lọc để phun như Ridomil, Aliette.

Hay còn gọi là Margronia, nguyên nhân là do thành trùng đẻ trứng trên lá non, trái non rồi đục sâu vào thân cây. Biện pháp phòng trừ loại sâu bệnh này là Xịt thuốc trừ sâu vào giai đoạn ra lá, trái non như Cyperan 5 EC, 10 EC, Decis 2,5EC, Chlorantraniliprole + Thiamethoxam (Virtako 40WG); Abamectin (Nouvo 3.6 EC).

Loại sâu bệnh này xuất hiện do loài dacus sp, đẻ trứng vào quả già, gây thối nhũn quả. Nên dùng chất dẫn dụ sinh học để diệt ruồi đực. Bên cạnh đó, chúng ta có thể bao bọc trái hay xịt thuốc có các hoạt chất diệt ruồi như Etofenprox (Trebon 10 ND), Deltamethrin (Decis 2.5 EC),…

Loại sâu bệnh này gây hại nghiêm trọng đến sản lượng cũng như chất lượng quả mít. Những trái bị sâu đục phá hoại có thể bị hư hỏng thậm chí là rụng xuống. Sâu đục trái thường xuất hiện tại các điểm tiếp giáp giữa các trái với nhau hoặc giữa trái tiếp giáp với thân cây.

Trong giai đoạn đã hình thành quả không nên dùng thuốc hóa học để xử lý vì sẽ gây hại đến sức khỏe cho người sử dụng mà chúng ta nên áp dụng những biện pháp sinh học để phòng trừ sự gây hại hay bao quả vào cuối giai đoạn quả rụng sinh lý

Loài sâu hại này rất đa dạng về chủng loại, chúng thường xuyên chích hút nhựa đọt non, lá non làm cho trái bị dị dạng, mã xấu, lá quăn queo, cây còi cọc, làm suy giảm khả năng quang hợp của cây do bị lớp nấm đốm bồ hóng tấn công

Khi trồng ở nơi đất cao, Rầy rệp thường tấn công ở vùng gốc rễ, có thể dùng các loại thuốc hóa học khi mật độ rầy rệp cao như Basudin 50EC, Supracide 40 EC, Bassa 50 EC…

Một loại bệnh thường gặp ở cây mít Thái đó là da không bóng, trái xù xì, tối đen người tá gọi chung bị xơ đen. Nguyên nhân có thể là do mùa mưa , canxi trong đất thiếu hụt không đủ cung cấp cho cây. Chính vì vậy, trong giai đoạn trước và trong khi cây ra hoa chúng ta hãy bổ sung canxi cho cây mít.

Chọn canxi lỏng, phun lá và tưới gốc giai đoạn mít ra nụ và cứ định kỳ 2 tháng phun lại 1 lần đến khi thu hoạch

My Garde n chuyên cung cấp các dịch vụ trồng rau tại nhà với các dịch vụ trọn gói: Thiết kế vườn rau, hệ thống tưới nước, dịch vụ chăm sóc rau, cung cấp hạt giống, phân bón, thuốc BVTV, dụng cụ trồng rau…chất lượng với giá cả phải chăng. Moi thông tin về các dịch vụ cũng như báo giá sản phẩm hãy liên hệ với chúng tôi theo Hotline để được giải đáp.