【#1】Kỹ Thuật Trồng, Chăm Sóc Hoa Phong Lan Nở Đúng Dịp Tết

Ngày càng nhiều người chọn hoa phong lan để trang trí nhà dịp Tết Nguyên đán. Nhưng để hoa phong lan nở đúng những ngày này thì cần phải có quy trình các bước kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa phong lan khoa học. Dưới đây là một vài phương pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa phong lan cho những ai yêu thích trồng loài hoa này.

Nếu bạn trồng hoa phong lan để chơi trong những ngày Tết Nguyên đán hay giải trí nên trồng Dendrobium, Vũ nữ, Hồ điệp; đây là những loài dễ chăm sóc và ra hoa. Có thể nhân giống bằng nuôi cấy mô hay tách mầm.

Điều kiện môi trường nuôi cấy mô phong lan với nhiệt độ 22-27oC, cường độ ánh sáng thích hợp, pH từ 5-5,7. Khử trùng mô bằng Starner 20 WP cấy bằng Clorox hoặc Hipocloritcalci, bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng. Sau đó, bạn có thể tách mầm từ các chậu lan lớn, mỗi phần để 2-3 nhánh. Dùng dao sắc khử trùng bằng cồn, vết cắt cần gọn, sau cắt bôi vôi vào vết cắt cho nhanh lành sẹo.

Kỹ thuật trồng hoa phong lan

Khâu chọn chậu để trồng hoa phong lan là bước cực kỳ quan trọng. Bạn nên trồng vào các chậu đất nung sẽ giúp phong lan phát triển tốt hơn. Chọn chậu có nhiều lỗ thoáng. Trước khi trồng hoa, phải rửa sạch chậu. Nên cho đất to xuống đáy chậu và đất nhỏ trên bề mặt.

Bạn có thể dùng thân cây còn sống để trồng ghép, nhưng cần tỉa bớt tán nhánh. Chú ý là không phải vị trí nào của thân cây cũng có thể ghép được. Cây chỉ phát triển tốt khi chúng được ghép ở phía ánh sáng ban mai chiếu vào (hướng đông). Cách trồng này thích hợp cho hầu hết các giống lan, đặc biệt là lan rừng.

Nếu muốn ghép lan với các thân cây đã chết, phải cắt cây thành khúc ngắn để dễ treo. Nên chọn những cây mục và bóc vỏ đi vì vỏ sẽ là nơi trú ẩn của côn trùng phá hoại. Buộc một miếng xơ dừa vào thân cây để giữ ẩm rồi buộc chằng lên đó gốc lan. Nếu bạn trồng vào những ngày mưa hoặc thời tiết quá ẩm thì không cần phải buộc xơ dừa.

Còn khi bạn chọn xơ của những quả dừa già và khô rồi thì xé ra từng mảnh to bằng nửa bàn tay. Sắp các mảnh sát nhau thành băng dài trên giàn gỗ hoặc tre và giữ chặt chúng lại bằng 2 thanh nẹp tre. Để tránh úng nước, bạn có thể đục một lỗ nhỏ dưới miếng xơ dừa rồi mới trồng. Sau 2-3 năm, khi xơ dừa đã mục có thể thay băng khác.

Cách chăm sóc hoa phong lan

Vì phong lan là cây khó trồng, nên cần phải đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển. Các yếu tố quan trọng nhất đối với lan là ánh sáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng.

Mật độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng, phát triển và ra hoa của hoa phong lan. Thiếu nắng cây lan vươn cao nhưng nhỏ và ốm yếu, lá màu xanh tối, dễ bị sâu bệnh tấn công, cây ít nảy chồi, khó ra hoa, hoa nhỏ và ngắn màu sắc không tươi, hoa nhanh tàn.

Thừa nắng lan thấp cây, lá vàng có vết nhăn và khô, mép lá có xu hướng cụp vào, dễ ra hoa sớm khi cây còn nhỏ nên hoa ngắn, nhỏ, cây kém phát triển. Nếu nắng gắt quá lá sẽ bị cháy, khô dần rồi chết.

Nước là yếu tố quan trọng và không thể thiếu cũng không thể thừa khi trồng hoa phong lan. Nếu thiếu nước cây sẽ khô héo, giả hành teo lại, lá rụng nhưng không chết, nụ có thể trước khi nở hoa.

Thừa nước, cây dễ bị thối đọt nhất là với các giống lan có lá đứng mọc sít nhau. Quá nhiều nước rễ có rong rêu và nấm bệnh phát triển mạnh. Do đó, người trồng lan phải đặc biệt chú ý nước tưới cho lan không quá mặn, phèn và clor dưới ngưỡng cho phép, pH 5,6. Chỉ tưới nước đủ ẩm, nên tưới vào sáng sớm hay chiều mát, tránh tưới buổi trưa khi trời đang nắng nóng. Sau những trận mưa bất thường, nhất là mưa đầu mùa cần tưới lại ngay để rửa bớt các chất cặn đọng lại trên thân lá.

Cũng giống như các loài hoa khác, hoa phong lan là cây cũng dễ bị sâu bệnh, nhất là trong điều kiện chăm sóc kém, điều kiện môi trường không thuận lợi. Tùy theo từng loại sâu bệnh mà dùng các loại thuốc thích hợp. Liều lượng và nồng độ phun cần theo đúng hướng dẫn trên bao bì sản phẩm.

Trong trường hợp hoa phong lan bị nấm, bạn hãy dùng Benomeyl, Captan, Aliette. Nếu bị vi khuẩn xâm nhập, hãy dùng Kasimin, Physan 20, Nacossan. Còn khi bị côn trùng, rệp cắn thì có thể dùng lannate, Supracide, Mipcin…Nếu nhện làm tổ trên cây phong lan, hãy dùng Kelthane là tốt nhất. Nếu ốc sên gây hại cho cây, có thể dùng thuốc có Methaldehyde…

Thường thì cứ sau mỗi đợt ra lá, lan sẽ nghỉ ra lá một thời gian (khi đó, trên cây không còn lá non), nếu giai đoạn này xuất hiện sớm trước cuối tháng 9 đầu tháng 10 âm lịch (thời điểm xử lý phun phân “kích” cho cây lan ra bông) thì có thể kìm giữ cây lan luôn ở tình trạng không có lá non bằng cách dùng phân bón lá NPK loại 20-20-20 phun 6-7 ngày/lần, tới thời điểm xử lý thì thay bằng phân 10-30-20 như đã nói ở trên.

Cần lưu ý rằng phong lan là loài hoa thuộc về thiên nhiên, nên môi trường sống của cây khá đặc biệt và hoang dã. Chính vì thế, khi đem phong lan vào môi trường sống của con người thì sự phát triển của cây bị hạn chế, cây cũng dễ bị sâu bệnh hơn. Do vậy, bạn cần phải thường xuyên xịt thuốc để phòng trừ sâu bệnh hại cây.

Kỹ thuật chăm sóc cho hoa phong lan nở đúng dịp Tết Nguyên đán

Thời điểm hiện tại dù hơi muộn về thời gian nhưng bạn vẫn có thể chọn những cây lan trưởng thành, đã ra hết lá non đưa vào một khu vực riêng. Đây sẽ là những cây phong lan được dùng để trưng Tết. Sau đó, bạn dùng phân bón lá có tỷ lệ NPK là 10-30-20 để phun kích thích cho phong lan ra hoa. Cứ khoảng 1 tuần bạn lại phun 1 lần.

Sau 3-4 lần phun bằng NKP thì nhánh lan bắt đầu búng ra vòi hoa (kích cỡ bằng hạt lúa). Vài ngày sau vòi hoa sẽ dài ra khoảng 2-3 cm thì bạn thay bằng loại phân bón lá có tỷ lệ NPK 15-20-30 để bón cho cây.

Loại phân NPK trên thị trường rất đa dạng, thông thường NPK được trộn thêm các chất vi lượng cần thiết. Nếu không biết, bạn có thể hỏi mua tại các cửa hàng bán phân bón cây trồng và nhờ người bán tư vấn nồng độ cũng như khoảng cách giữa các lần tưới cây dựa trên loại phân đã chọn.

Cứ 1 tuần bạn phun 1 lần. Làm như vậy có tác dụng kích thích cho vòi hoa phát triển dài, màu sắc hoa đậm, sáng đẹp, rực rỡ và lâu tàn đồng thời giúp phòng trừ sâu bệnh, đặc biệt là bệnh thối hoa.

Sau khi thay đổi phân bón được khoảng 45-50 ngày (tức là đến khoảng đầu tháng 12 âm lịch) thì cành hoa phong lan đã đạt tiêu chuẩn “xuất vườn” (mỗi cành nở 1-2 hoa), sau đó những hoa phía trên tiếp tục nở và đến Tết Nguyên Đán thì cành hoa đã nở gần hết.

【#2】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Hoa Lan Hồ Điệp Trong Chậu Đẹp Nhất

Hoa lan hồ điêp là hoa lớn dễ dàng, nỏ hoa ở nhiều điều kiên khác nhau. Do vậy theo các nước ở Châu Âu lan hồ điệp luôn được coi là một món quà của tình yêu. Lan hồ điệp sẽ thể hiện tình yêu mạnh mẽ vượt qua mọi rào cản.

Lan hồ điệp tượng trưng cho sự sang trong sung túc.

Một chậu lan hồ điệp ngày tết

Lan hồ điệp với nhiều cốt cánh, dù trồng ở đâu khi nở hoa cũng thu hút mọi ánh nhìn, không rực rỡ, không nồng nàn nhưng nó có sự cuốn hút độc đáo bởi vẻ đep quý phái sang trọng của hoa. Theo phong thủy phương Đông lan hồ điệp mang đến sự may mắn sung túc cho gia đình, như Nhật Bản Lan Hồ điệp còn tượng trưng cho Hoàng Gia, được coi là biểu tượng của giàu có.

Do vậy khi đặt một chậu Lan Hồ Điệp trong nhà trong năm mới sẽ tượng trưng cho sự sung túc, giàu sang và phú quý trong năm tới.

Hoa Lan Hồ Điệp khi mang về trồng trong môi trường nhà ở nếu bị ánh nắng trực tiếp, nhất là nắng quá chiều sẽ gây lụi tàn nhanh chóng dù lan được cung cấp đầy đủ nước và khoáng hòa tan.Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây hoa lan hồ điệp trong chậu đẹp nhất

Lan Hồ Điệp là giống lan có hoa lâu tàn nhất. Hiện nay lan hồ điệp được người chơi cây cảnh rất ưa thích và trồng rộng rãi. Để cây ra hoa và hoa được tươi lâu người trồng cần chú ý tới kỹ thuật trồng và chăm sóc tương đối cầu kỳ của loài cây cảnh này.

Có nhiều loài thích hợp trồng như Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium, Vanda, Cattleya… Đây là những loài ra hoa khỏe, đẹp và bền cây, cho thu hoạch liên tục. Nếu trồng lan để chơi, giải trí nên chọn: Dendrobium, Vũ nữ, Hồ điệp

Chăm sóc như vậy khoảng 1 tháng thì có thể chiết cành cho vào giò. Giò lan nên làm bằng mùn cưa hay xơ dừa và không được nén chặt.Thi thoảng bạn nên đưa lan ra ngoài trời đêm. Khi trồng lan rừng bạn cần phải lưu ý một số đặc điểm quan trọng đó là: tránh để lan ở những nơi có ánh sáng gay gắt chiếu vào, không nên bón nhiều phân hóa học, chỉ cần bón đủ nước, điều kiện ánh sáng phù hợp là cây sẽ phát triển tốt.

Kỹ thuật điều khiển ra hoa Hồ Điệp hiện là bí quyết công nghệ của người Đài Loan. Chỉ với phương pháp điều khiển nhiệt độ, họ có thể kích thích Hồ Điệp tạo phát hoa với hiệu quả gần như tuyệt đối.

Các giai đoạn phát triển của lan Hồ Điệp trong nhà kính có thể chia thành các giai đoạn chính dựa trên nhiệt độ như sau:

Giai đoạn đầu tiên: ( Kéo dài 22-27 tuần) là giai đoạn phát triển từ cây trong ống nghiệm cho đến khi thành cây trung. Khoảng thời gian quan trọng nhất trong giai đoạn này là lúc ra cây con, cần tránh thay đổi điều kiện sống của cây một cách quá đột ngột.

Giai đoạn phát triển: (Kéo dài 22-27 tuần) Cây Hồ Điệp phát triển sinh dưỡng, nhiệt độ cho giai đoạn này nằm trong khoảng 28 đến 32o C. Nhiệt độ cao vừa phải làm gia tăng khả năng quan hợp của Hồ Điệp, đồng thời hạn chế sự ra hoa sớm không cần thiết trong giai đoạn dưỡng sức này. Theo K. Kataoka và cộng sự, giai đoạn trước khi cây ra hoa cần hàm lượng Carbohydrate rất lớn, điều này cũng có nghĩa là nếu sự ra hoa xảy ra khi cây không đủ sức, chất lượng hoa sẽ không cao hoặc làm tổn hại đến cây mẹ.

Giai đoạn thọ hàn: (Kéo dài 4-6 tuần) Cảm ứng ra hoa Hồ Điệp cần phản ứng stress nước nhẹ trong nhiệt độ thấp, từ 17 đến 25oC. Tại nhiệt độ này, hàm lượng Cytokinin nội sinh trong lá tăng lên, ngược lại với hàm lượng Acid Abscisic (Wen Yu Wang và cộng sự, 2002). Ngoài ra, cũng theo nghiên cứu của Wang năm 2003, số lượng cũng như hàm lượng protein trong mô lá tăng đáng kể trong giai đoạn này. Điều này cho thấy phản ứng ra hoa để đạt đến mức tối ưu cần được xảy ra trong điều kiện lạnh, nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác cũng đã nói lên điều này. Giai đoạn xử lý ra hoa kết thúc khi phần lớn các cây xử lý tạo phát hoa non khoảng 2-5cm.

Giai đoạn kết thúc: (Kéo dài 8 -15 tuần) Sau khi cây Hồ Điệp được 4 đến 6 lá và chiều rộng lá khoảng 25cm, cây được đưa vào giai đoạn xử lý phát hoa, nhiệt độ xử lý nằm trong khoảng 17-26oC. Trong giai đoạn này, mục tiêu của người trồng là kéo dài phát hoa, tăng số lượng hoa, điều khiển cho hoa nở đồng thời và hoa xoay đều theo trục phát hoa. Có thể chia giai đoạn này thành 3 giai đoạn nhỏ hơn. Trước tiên, phát hoa cần được kéo dài ở nhiệt độ cao (26oC) trong một khoảng thời gian ngắn, sau đó chuyển sang nhiệt độ thấp hơn (17-25oC) để cảm ứng chồi sinh sản, hạn chế tối đa số chồi sinh dưỡng. Ngay sau khi có một số nụ nhất định hình thành, để làm cho phát hoa nở đều, nhiệt độ được tiếp tục giảm xuống khoảng 19-20oC nhằm kéo dài thời gian bung cánh hoa của những hoa bên dưới, tạo điều kiện cho các hoa bên trên tiếp tục hình thành phát triển và bung cánh hoa trong cùng một khoảng thời gian ngắn.

Nhiệt độ trong suốt quá trình xử phát hoa nếu vượt quá 26oC có thể gây ảnh hưởng trực tiếp lên phát hoa, làm chột đỉnh hoặc giảm số lượng hoa.

Hoa lan hồ điệp có tại vườn, khách buôn vui lòng liên hệ trực tiếp

I.HƯỚNG DẨN KỸ THUẬT TRỒNG LAN HỒ ĐIỆP.

Nếu trồng để kinh doanh cần thiết kế khung giàn lan làm bằng sắt chắc chắn, đảm bảo bền, chống gió bão. Giàn che ánh sáng dùng lưới màu xám hay xanh đen. Giàn đặt chậu bằng sắt, giàn treo bằng tầm vông hay sắt ống nước. Hàng trồng nên thiết kế vuông góc với hướng đi của ánh nắng.

– Nếu trồng lan để chơi trên lan can, mái hiên, sân thượng cần đặt thêm các chậu cảnh khác như cau, mai chiếu thủy , nguyệt quế … để giảm bớt sự khô nóng do ảnh hưởng của kết cấu bê tông, mái tôn…xung quanh.

trong điều kiện nhân tạo, thời gian hoa tàn là 3 tháng. Một số loài khác và giống lai có thời gian tươi kéo dài hơn. Một số giống có thể ra hoa quanh năm. Mùa lan bắt đầu nở hoa từ tháng 12 đến cuối tháng 5.

Lan hồ điệp có nhiều hình dáng và kích cỡ. Người trồng có thể đặt cây vào chậu riêng hoặc bỏ nhiều cây chung vào một chậu. Chậu thông thường có thể chứa được nhiều cây và cây có thể ra hoa trong vòng hai năm nếu được chăm sóc hợp lý.

Hoa lan hồ điệp hoa đẹp mang đến không gian tết đẹp hơn

Thực chất, loài hoa hoang dã này có kỹ thuật trồng cây và chăm sóc không quá khó như nhiều người vẫn nghĩ. Lan hồ điệp (tên khoa học là Phalaenopsis) thuộc họ lớn nhất trong vương quốc các loài cây, họ lan Orchid Orchidaceae, có nguồn gốc từ Đông Nam Á, Philippines và Australia. Những loài cây này thường bám chặt vào cây ở trong rừng sâu hoặc bám vào đá. Chúng có lá to, rộng, mọng nước và cuống hoa uốn cong mang nhiều hoa. Thông thường, một câysẽ có từ 5 đến 10 lá và nhiều rễ màu trắng.

– Trồng lan có thể nhân giống bằng nuôi cấy mô hay tách mầm, chọn tách mầm từ các chậu lan lớn, mỗi phần để 2-3 nhánh. Dùng dao sắc khử trùng bằng cồn, vết cắt cần gọn, sau cắt bôi vôi vào vết cắt cho nhanh lành sẹo.

Lan hồ điệp cần ánh sáng để phát triển tốt. Trong nhà, loài cây này nên đặt ở vị trí gần cửa sổ có ánh sáng nhưng nên tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp. Người chơi hoa có thể cho đèn chiếu sáng nhân tạo. Các đèn chiếu sáng nên đặt ở phía trên của cây và nên chiếu ít nhất 12 đến 16 giờ hàng ngày. Trường hợp ở trong nhà kính, cây nên được che bằng tấm vải, nhất là trong mùa hè.

Loài lan này cần nhiệt độ ban ngày là 18-29 độ C và nhiệt độ ban đêm là 13-18 độC. Trong suốt mùa thu, nhiệt độ nên duy trì dưới 16 độ C liên tục trong 3 tuần khi cụm hoa bắt đầu xuất hiện. Thông thường, sự thay đổi bất thường về nhiệt độ và độ ẩm có thể là nguyên nhân làm rụng nụ.

Lan hồ điệp cần độ ẩm từ 50-80% . Nếu độ ở môi trường có độ ẩm thấp hơn, người trồng có thể dùng màn che để hạn chế cây thoát hơi nước. Một biện pháp đề phòng khác là giữ cây ở trong chậu có chứa sỏi hay đá cuội và nước.

Giá thể để trồng lan có thể dùng than gỗ, xơ dừa, vỏ đậu phộng.

+ Than gỗ nung chặt khúc, kích thước 1 x 2 x 3cm, đem ngâm, rửa sạch, phơi khô.

+ Xơ dừa xé tơi ngâm khoảng 1 tuần cho bớt tamin và mặn, phơi khô. Mụn dừa cần rửa sạch phơi khô. Vỏ dừa chặt khúc 1 x 2 x3cm xử lý nước vôi 5%.

+ Vỏ đậu phộng: Dùng vòi nước phun nhiều lần để lượt bỏ một số tạp chất, giảm nhiệt, chất dầu, sau đó cho vỏ đậu phộng vào chậu bằng nhựa hay khay đất nung, kích cở tùy loại và độ tuổi. Nếu trồng trên luống thì cho vỏ đậu phộng vào luống dày 20cm. Nếu trồng kinh doanh thì dùng giá thể là vỏ đậu phộng thì giá thành rẻ hơn. Ngoài ra vỏ đậu phộng hút nước ít, độ ẩm vừa phải, lan ít bị nấm hơn.

– Trồng trên luống: Làm luống rộng 80cm, dài tùy khổ đất, cho vỏ đậu phộng vào dày 20cm. Hai đầu luống có thể dùng cột bêtông hay cột sắt để căng dây cáp, mỗi luống cần 3 hàng dây cáp nhỏ trên thanh ngang để định vị cho cây lan. Có thể điều chỉnh độ cao của dây cáp theo sự phát triển của lan.

– Nếu dùng lan cấy mô thì khi lan mô đạt khoảng 4cm cần chuyển ra ngoài. Cây mô rửa sạch để trên miếng lưới hay rổ kê trên chậu nước để giữ mát cho cây con. Giai đoạn trồng chung trên giàn lấy xơ dừa bó xung quanh cây lan cấy mô, dùng dây thun cuốn lại rồi đặt lên giàn. Sau khi trồng trên giàn được 6 -7 tháng thì chuyển sang chậu nhỏ. Khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau mỗi lần chuyển chậu khoảng 1 tuần mới được bón phân. Thay chậu còn tùy kích cỡ của cây, mức độ thối, hư mục rêu bám…

Thay chậu

Lan hồ điệp có thời gian sống rất dài, vì vậy người chăm cây cần thay chậu cho cây. Có hai lý do mà cây cần được thay chậu, một là cây không sinh trưởng được trong chậu đang trồng, hai là giá thể bị phân hủy và không đủ không khí để duy trì cho rễ cây phát triển tốt. Việc thay chậu có thể thực hiện một lần trong một năm hoặc hai năm, mùa thích hợp nhất để thay chậu là mùa xuân.

Rễ cây phát triển lan ra sẽ phủ lên chậu và giá thể ở trong chậu làm bịt kín các khe hở giữa các rễ, không có khoảng trống giữa giá thể và rễ cây. Điểm bắt đầu của thân cây nên được giữ một đoạn ngắn ở dưới giá thể. Sau khi thay chậu, người chăm nên giữ cây trong bóng mát và tưới nước sau 3 ngày.

Hoa lan hồ điệp Việt Nam thường chơi được lâu Kích thích ra hoa

Hoa lan hồ điệp thường sẽ tàn sau khi nở 3 tháng. Sau khi hoa tàn, người trồng có thể điều khiển cho cây ra hoa lại bằng cách cắt bỏ toàn bộ cuống hoa, phương pháp này rất tốt nếu cuống hoa đã già và có màu nâu. Tuy nhiên, nếu cuống hoa còn màu xanh, người chơi hoa chỉ nên cắt một đốt trên cuống hoa. Đoạn cành được cắt bỏ nên có độ dài khoảng 10-12cm, điều này có thể giúp cây hình thành một cành mới trong vòng 2-3 tuần sau.

Chăm sóc:

Lan là cây trồng dễ chăm sóc, nếu chúng ta đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển. Các yếu tố quan trọng nhất cho lan là ánh sáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng.

– Ánh sáng: Lan không chịu ánh sáng mạnh, cần làm giàn lưới che bớt ánh sáng, khi mới trồng nên làm lưới che hai lớp. Ánh sáng khoảng 65 – 70% là tốt nhất. Sau khi trồng xong tưới nước luôn (tưới phun sương) và duy trì 2 lần/ngày. Sau trồng 3 ngày tưới vitamin B1, pha 1cc/lít để kích thích ra rễ. Sau 7 ngày tưới phân NPK 30 – 10 – 10, liều lượng 5 – 10g pha vào bình 8 lít để phun. Khi cây nảy chồi mới, cây ra rễ nhiều ta tăng lượng phân bón.

– Phân bón: Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao, vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là bằng cách phun qua lá. Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh cần đạm cao, lân và kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạm thấp trong khi lan nở hoa cần kali cao, lân và đạm thấp hơn. Phân bón thích hợp cho các thời kỳ này là Đầu Trâu 501, 701 và 901, đây là loại phân có đầy đủ và cân đối đa, trung, vi lượng và các chất điều hòa sinh trưởng. Nồng độ và liều lượng phun tùy thuộc tuổi và thời kỳ phát triển.

– Tưới nước: Lan rất cần nước cho quá trình sinh trưởng phát triển. Nếu thiếu nước cây sẽ khô héo, giả hành teo lại, lá rụng nhưng không chết. Thừa nước, cây dễ bị thối đọt nhất là với các giống lan có lá đứng mọc sít nhau. Quá nhiều nước rễ có rong rêu và nấm bệnh phát triển mạnh. Nước tưới cho lan không quá mặn, phèn và clor dưới ngưỡng cho phép, pH 5,6. Chỉ tưới nước đủ ẩm, nên tưới vào sáng sớm hay chiều mát, tránh tưới buổi trưa khi trời đang nắng nóng. Sau những trận mưa bất thường, nhất là mưa đầu mùa cần tưới lại ngay để rửa bớt các chất cặn đọng lại trên thân lá.

– Phòng trừ sâu bệnh: Nếu thấy rễ cây vẫn còn tươi xanh, thối ít thì ta cố gắng giữ nguyên cả bầu của cây, dùng kéo sạch cắt bỏ tất cả các rễ thối, để nguyên các rễ vẫn còn tươi xanh. Bôi vôi, hoặc sơn móng tay, hoặc thuốc làm liền da cây, hoặc keo 502 vào tất cả các vết cắt đặt nguyên bầu cây vào chậu, dùng dây cố định chặt gốc cây lan không cho lung lay. Đổ dớn cọng đã xử lý nấm vào xung quanh chậu vỗ nhẹ cho hơi chặt, không phủ kín lên gốc để quan sát sự phát triển của rễ cây.

III. CẮT BỎ RỂ HỎNG CỦA LAN HỒ ĐIỆP.

– Nếu rễ cây bị hỏng nhiều, gỡ bỏ toàn bộ phần rêu nước trong bầu cây để cắt rễ thối, cắt bỏ toàn bộ các rễ bị thối hoặc dập gãy. Bôi vôi, keo vào vết cắt, bỏ ít xốp vào đáy chậu.

Cây bị cắt gần như hết rễ nên rất khó đứng vững trong chậu. Dùng một thỏi xốp hình chữ nhật, đặt vào chính giữa gốc cây, cho cây lên cục xốp đó. Buộc dây vào gốc và buộc cố định chắc chắn sang hai bên không cho cây bị lung lay khi cầm chậu.

– Để cây vào chỗ mát, tránh mưa tuyệt đối, để khô khoảng ba ngày sau thì tưới đẫm toàn bộ chậu 1 lần.

– Pha phân bón B1 hoặc thuốc kích thích tăng trưởng như Atonic, K/H …thật loãng, tỉ lệ 1/2 thìa cà phê cho 20 lít nước phun sương ẩm hàng ngày.

– Khoảng 1-2 tuần sau, các rễ mới nhú ra, đợi khi rễ non cắm vào giá thể thì đổ thêm một lớp đất vào.

– Sau 1-2 tháng cây phát triển ổn định trở lại, bón phân, tưới nước bình thường.

Nếu lan bị các loại sâu hại thân lá có thể dùng các thuốc chứa hoạt chất : Fenitrothion, Trichlorfon như Ofatox 400EC, hoạt chất Cartap như Patox 95SP hay Captafon, Captan hoặc Actara 25WG. Lan bị rệp sáp, rệp trắng, rầy mềm dùng Supracid 40ED/ND, Suprathion 40EC, Bitox 40EC hay Ofatox 400EC. Lan bị nấm, vi khuẩn hay virus gây nên tình trạng cháy lá từng đám, vết cháy lan tròn dần, bệnh thối rễ dùng Zinep, Starner 20 WP hay Benomyl.

【#3】Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Phong Lan Để Lan Ra Hoa Đẹp Nhất

Nếu trồng lan kinh doanh cần thiết kế khung giàn lan làm bằng sắt chắc chắn, đảm bảo bền để chống gió bão. Giàn che ánh sáng dùng lưới màu xám hay xanh đen. Giàn đặt chậu làm bằng sắt, giàn treo làm bằng tầm vông hay sắt ống nước.

Xung quanh vườn cần dựng hàng rào chắn chắc chắn hay rào bằng lưới B40. Thiết kế hàng trồng theo hướng Bắc Nam để vuông góc với dường đi của ánh nắng. Các chậu lan cần chọn cùng cỡ kích thước, cùng giống, cùng độ tuổi, bố trí theo từng khu vực để dễ chăm sóc.

Nước tưới phải sạch, có rãnh nước dưới dàn lan để tạo khí hậu mát cho vườn lan. Nếu trồng lan để chơi trên lan can, mái hiên, sân thượng cần chú ý rằng tiểu khí hậu các nơi này thường bị khô nóng do ảnh hưởng của các kết cấu bê tông, mái tole… xung quanh. Cần đặt thêm các chậu cảnh khác như cau, mai chiếu thuỷ, nguyệt quế… để giảm bớt ảnh hưởng của các yếu tố này. Cần che bớt ánh sáng mặt trời, tránh ánh nắng chiếu toàn bộ, nhất là vào buổi chiều.

Loài thích hợp cho trồng lan kinh doanh là Dendrobium, Phalaenopsis, Oncidium, Vanda, Cattleya… đây là những loài ra hoa khỏe, đẹp và bền cây, cho thu hoạch liên tục. Nếu trồng lan để chơi, giải trí nên trồng Dendrobium, Vũ nữ, Hồ điệp; đây là những loài dễ chăm sóc và ra hoa.

Có thể nhân giống bằng nuôi cấy mô hay tách mầm. Điều kiện môi trường nuôi cấy mô phong lan với nhiệt độ 22-27oC, cường độ ánh sáng thích hợp, pH từ 5-5,7.

Khử trùng mô bằng Starner 20 WP cấy bằng Clorox hoặc Hipocloritcalci, bổ sung các chất điều hòa sinh trưởng. Có thể tách mầm từ các chậu lan lớn, mỗi phần để 2-3 nhánh. Dùng dao sắc khử trùng bằng cồn, vết cắt cần gọn, sau cắt bôi vôi vào vết cắt cho nhanh lành sẹo.

Có thể lấy than gỗ, xơ dừa, vỏ lạc làm giá để trồng lan. Than gỗ nung cần chặt khúc, kích thước 1 x 2 x 3cm, than phải ngâm, rửa sạch, phơi khô. Xơ dừa xé cho tơi ngâm khoảng 1 tuần cho bớt tanin và mặn, phơi khô. Mụn dừa cũng cần rửa sạch phơi khô. Vỏ dừa chặt khúc 1 x 2 x 3 cm xử lý bằng nước vôi 5%. Chậu trồng bằng nhựa hay đất nung, kích cỡ tuỳ loại và độ tuổi.

Nếu dùng lan cấy mô thì khi lan mô đạt khoảng 4cm cần chuyển ra ngoài. Cây mô rửa sạch để trên miếng lưới hay rổ kê trên chậu nước để giữ mát cho cây con. Giai đoạn trồng chung trên giàn lấy xơ dừa bó xung quanh cây lan cấy mô, dùng dây thun cuốn lại rồi đặt lên giàn. Sau khi trồng trên giàn được 6-7 tháng thì chuyển sang chậu nhỏ. Khoảng 6 tháng thì chuyển sang chậu lớn. Sau mỗi lần chuyển chậu khoảng một tuần mới được bón phân. Việc thay đổi chậu còn tùy kích cỡ của cây, mức độ thối, hư mục rêu bám… Nếu trồng lan để chơi, lan lâu ngày ra hoa ít cần dỡ lan ra khỏi chậu, cắt bớt các rễ già và quá dài, chuyển sang chậu mới, thay giá thể mới, lan sẽ sinh trưởng tốt và ra hoa trở lại.

Lan là cây trồng dễ chăm sóc nếu chúng ta đảm bảo được các điều kiện thuận lợi cho lan phát triển. Các yếu tố quan trọng nhất đối với lan là ánh sáng, nước tưới, độ ẩm, chậu hay giá thể và dinh dưỡng.

+ Chiếu sáng:

Mật độ chiếu sáng ảnh hưởng rất lớn tới quá trình sinh trưởng, phát triển và ra hoa của lan. Thiếu nắng cây lan vươn cao nhưng nhỏ và ốm yếu, lá màu xanh tối, dễ bị sâu bệnh tấn công, cây ít nảy chồi, khó ra hoa, hoa nhỏ và ngắn màu sắc không tươi, hoa nhanh tàn. Thừa nắng lan thấp cây, lá vàng có vết nhăn và khô, mép lá có xu hướng cụp vào, dễ ra hoa sớm khi cây còn nhỏ nên hoa ngắn, nhỏ, cây kém phát triển. Nếu nắng gắt quá lá sẽ bị cháy, khô dần rồi chết.

Lan có yêu cầu khác nhau về mức độ chiếu sáng tùy theo loài lan và tuổi cây. Lan Hồ điệp (Phalaenopsis) ít chịu nắng nhất, có thể chịu được 30% nắng, lan Cattleya chịu được 50% nắng, lan Dendrobium hay Vanda lá hẹp chịu được 70% nắng, trong khi lan Vanda lá dài và Bò cạp chịu được tới 100% nắng. Lan con từ 0-12 tháng đang trong giai đoạn tăng trưởng thân lá chỉ cần chiếu sáng 50%, lan nhỡ từ 12-18 tháng cần chiếu sáng tới 70% và thời điểm kích thích ra hoa có thể cho chiếu sáng nhiều hơn, thậm chí bỏ dàn che để chiếu sáng tự nhiên. Hướng chiếu sáng cũng rất quan trọng đối với lan. Lan đặt ở hướng Đông nhận ánh nắng buổi sáng sẽ tốt hơn nhiều so với lan đặt ở hướng Tây nhận ánh nắng buổi chiều. Chính vì vậy nếu trồng lan trên sân thượng hay ban công ở phía Tây lan kém phát triển và ít hoa. Khi trồng lan cần bố trí hàng theo hướng Bắc- Nam để cây nhận được ánh sáng phân bố đầy đủ nhất.

+ Phân bón:

Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng đối với lan. Khi lan đầy đủ dinh dưỡng cây tươi tốt, ra nhiều hoa, hoa to đẹp, bền trong khi thiếu dinh dưỡng lan còi cọc, kém phát triển, không hoặc ít có hoa. Lan cần 13 chất dinh dưỡng khoáng, thuộc các nhóm đa, trung và vi lượng: Dinh dưỡng đa lượng gồm Đạm (N), Lân (P) và Kali (K). Dinh dưỡng trung lượng gồm Lưu huỳnh (S), Magiê (Mg) và Canxi (Ca). Dinh dưỡng vi lượng gồm Sắt (Fe), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Mangan (Mn), Bo (B), Molypđen (Mo) và Clo (Cl).

Thiếu đạm, cây còi cọc, ít ra lá, ra chồi mới, lá dần chuyển vàng theo qui luật lá già trước, lá non sau, rễ mọc ra nhiều nhưng cằn cỗi, cây khó ra hoa.

Thừa đạm, thân lá xanh mướt nhưng mềm yếu, dễ đổ ngã và sâu bệnh, đầu rễ chuyển xám đen, cây khó ra hoa.

Thiếu lân, cây còi cọc, lá nhỏ, ngắn, chuyển xanh đậm, rễ không trắng sáng mà chuyển màu xám đen, không ra hoa.

Thừa lân cây thấp, lá dày, ra hoa sớm nhưng hoa ngắn, nhỏ và xấu, cây mất sức rất nhanh sau ra hoa và khó phục hồi. Thừa lân thường dẫn đến thiếu Kẽm, Sắt và Mangan.

Thiếu kali, cây kém phát triển, lá già vàng dần từ hai mép lá và chóp lá sau lan dần vào trong, lá đôi khi bị xoắn lại, cây mềm yếu dễ bị sâu bệnh tấn công, cây chậm ra hoa, hoa nhỏ, màu không sắc tươi và dễ bị dập nát.

Thừa kali, thân lá không mỡ màng, lá nhỏ. Thừa kali dễ dẫn đến thiếu magiê và can xi.

Thiếu lưu huỳnh, lá non chuyển vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát triển, sinh trưởng của chồi bị hạn chế, số hoa giảm

Thiếu magiê, thân lá èo uột, xuất hiện dải màu vàng ở phần thịt của các lá già trong khi hai bên gân chính vẫn còn xanh do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh và khó nở hoa.

Thiếu canxi, cây kém phát triển, rễ nhỏ và ngắn, thân mềm, lá nhỏ, cây yếu dễ bị đổ ngã và sâu bệnh tấn công

Thiếu kẽm, xuất hiện các đốm nhỏ rải rác hay các vệt s���c màu vàng nhạt chủ yếu trên các lá đã trưởng thành, các lá non trở nên ngắn, hẹp và mọc sít nhau, các đốt mắt ngọn ngắn lại, cây thấp, rất khó ra hoa.

Thiếu đồng, xuất hiện các đốm màu vàng và quăn phiến lá, đầu lá chuyển trắng, số hoa hình thành ít bị hạn chế, cây yếu dễ bị nấm tấn công.

Thiếu sắt, các lá non chuyển úa vàng sau trở nên trắng nhợt, cây còi cọc, ít hoa và dễ bị sâu bệnh tấn công.

Thiếu mangan, úa vàng giữa các gân của lá non, đặc trưng bởi sự xuất hiện các đốm vàng và hoại tử, các đốm này xuất hiện từ cuống lá non sau lan ra cả lá, cây còi cọc, chậm phát triển.

Thiếu bo, lá dày, đôi khi bị cong lên và dòn, cây còi cọc, dễ bị chết khô đỉnh sinh trưởng, rễ còi cọc số nụ ít, hoa dễ bị bị rụng, không thơm và nhanh tàn.

Thiếu molypden, xuất hiện đốm vàng ở giữa các gân của những lá dưới, nếu thiếu nặng, các đốm này lan rộng và khô, mép lá cũng khô dần, cây kém phát triển.

Thiếu clo, xuất hiện các vệt úa vàng trên các lá trưởng thành sau chuyển màu đồng thau, cây còi cọc, kém phát triển.

Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ dinh dưỡng cao, vì vậy bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất là bằng cách phun qua lá. Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng và phát triển của cây. Nguyên tắc chung là lan trong thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh cần đạm cao, lân và kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạm thấp trong khi lan nở hoa cần kali cao, lân và đạm thấp hơn.

Phân bón thích hợp cho các thời kỳ này là Đầu Trâu 501, 701 và 901, đây là loại phân có đầy đủ và cân đối đa, trung, vi lượng và các chất điều hòa sinh trưởng. Nồng độ và liều lượng phun tùy thuộc tuổi và thời kỳ phát triển như sau:

+ Lan mới trồng 0-6 tháng hoặc lan mới ra chồi non sau cắt hoa: Phun phân bón lá Đầu Trâu 501 (30-15-10) nồng độ 500 ppm (0,5 g/lít). Giai đoạn trước 3 tháng phun định kỳ 3 ngày/lần, từ 3-6 tháng định kỳ 7 ngày/lần.

+ Lan mới trồng 6-12 tháng hay lan cũ có chồi mới đang phát triển mạnh: Phun phân bón lá Đầu Trâu 501 (30-15-10) nồng độ 2.000 ppm (2g/lít), định kỳ 7 ngày/lần.

+ Lan mới trồng 12-18 tháng hay lan cũ có chồi đã thành thục chuẩn bị ra hoa: Phun phân bón lá Đầu Trâu 701 (10-30-20) nồng độ 3.000 ppm (3g/lít), định kỳ 7 ngày/lần. Giai đoạn này cần giảm nước tưới và bỏ bớt mật độ giàn che để năng mức độ chiếu sáng nhằm kích thích ra hoa.

+ Khi vòi hoa xuất hiện: Phun phân bón lá Đầu Trâu 901 (15-20-25) nồng độ 2.000 ppm (2g/lít) nhằm thúc hoa nở to, đẹp, giữ hoa lâu tàn.

+ Tưới nước: Lan rất cần nước cho quá trình sinh trưởng phát triển. Nếu thiếu nước cây sẽ khô héo, giả hành teo lại, lá rụng nhưng không chết, nụ có thể trước khi nở hoa. Thừa nước, cây dễ bị thối đọt nhất là với các giống lan có lá đứng mọc sít nhau. Quá nhiều nước rễ có rong rêu và nấm bệnh phát triển mạnh. Nước tưới cho lan không quá mặn, phèn và clor dưới ngưỡng cho phép, pH 5,6. Chỉ tưới nước đủ ẩm, nên tưới vào sáng sớm hay chiều mát, tránh tưới buổi trưa khi trời đang nắng nóng. Sau những trận mưa bất thường, nhất là mưa đầu mùa cần tưới lại ngay để rửa bớt các chất cặn đọng lại trên thân lá.

+ Phòng trừ sâu bệnh: Lan là cây cũng dễ bị sâu bệnh, nhất là trong điều kiện chăm sóc kém, điều kiện môi trường không thuận lợi. Tùy theo từng loại sâu bệnh mà dùng các loại thuốc thích hợp. Liều lượng và nồng độ phun cần theo đúng hướng dẫn trên bao bì sản phẩm. Nếu lan bị các loại sâu hại thân lá có thể dùng các thuốc chứa hoạt chất Fenitrothion, Trichlorfon như Ofatox 400EC, hoạt chất Cartap như Patox 95SP hay Captafon, Captan hoặc Actara 25WG. Lan bị rệp sáp, rệp trắng, rầy mềm dùng Supracid 40ED/ND, Suprathion 40EC, Bitox 40EC hay Ofatox 400EC. Lan bị nấm, vi khuẩn hay virus gây nên tình trạng cháy lá từng đám, vết cháy lan tròn dần, bệnh thối rễ dùng Zinep, Starner 20 WP hay Benomyl.

Hoa cắt cánh ngâm trong dung dịch khoảng 15 phút, giúp hoa lâu héo, sau đó bọc lại bằng giấy báo.

Kỹ thuật đơn giản trồng hoa lan rừng

Hoa lan rừng khi mang về trồng trong môi trường nhà ở nếu bị ánh nắng trực tiếp, nhất là nắng quá chiều sẽ gây lụi tàn nhanh chóng dù lan được cung cấp đầy đủ nước và khoáng hòa tan.

Khi người “chơi hoa” mua hoa lan về nuôi trồng trong môi trường nhà thường gặp nhiều khó khăn như cây không phát triển, héo rũ, không ra hoa. Độc giả Ô Kim Duy chia sẻ với VnExpss kinh nghiệm về kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan rừng để người yêu hoa có những giò lan phong cách tự nhiên, hoang dã và không gì khác là lan rừng.

“Theo kinh nghiệm dân gian, muốn cho lan sinh trưởng tốt, môi trường thuận lợi nhất cho lan bám vào cây tươi nơi thoáng gió, ít ánh sáng chói. Vì vậy, khi lan đưa vào trồng trong chậu cần chăm sóc từ từ cho cây quen dần, không bón thúc phân hóa học quá sớm. Lúc lấy lan rừng cần bóc cả vỏ gỗ mục (loại lan đang sống) bó lại để nơi thoáng mát, ngày tưới vài ba lần bằng cách phun sương đều cả lá thân rễ. Chăm sóc cho lan một tháng rồi chiết thành nhánh trồng vào giò. Chú ý lót giò bằng mùn cưa hay xơ dừa đều không được nén chặt. Tránh để ánh nắng gay gắt, thỉnh thoảng đưa lan ra ngoài trời đêm. Chơi lan không nên bón nhiều phân hóa học, chỉ cần đủ nước, ánh sáng và không gian phù hợp là cây phát triển tốt.

Khi muốn lan ra hoa bất thường, vào dịp tết chẳng hạn, thì bón phân qua lá dành riêng cho lan. Song cần rất hạn chế bón thúc cho hoa vì sau mỗi đợt bón như vậy cây sẽ yếu sức. Tốt nhất là cách hai tháng lại thay lót giò một lần bằng xơ dừa mạt cưa. Hoa tàn thì cắt ngay cuống lá để tập trung dinh dưỡng nuôi cây lại sức. Tưới nước nhẹ đều đặn ngày vài ba lần là cây sống khỏe không cần bón phân.

Chăm sóc

Một trong những đặc điểm sinh học của lan là loài cây khó tính ở chỗ lan có khả năng chịu cớm cao, ưa ẩm và bóng râm nhưng nếu thiếu ánh sáng cũng giảm năng suất và phẩm chất. Nếu lan bị ánh nắng trực tiếp nhất là nắng quá chiều sẽ gây lụi tàn nhanh chóng mặc dù vẫn được cung cấp đầy đủ nước và khoáng hòa tan. Để phòng ngừa tác hại của nắng hạn đối với lan, ta cần chủ động tiến hành một số biện pháp sau:

Đối với phong lan: Không để cho nắng trời trực tiếp chiếu vào giỏ, bụi lan và toàn bộ giá thể (lồng lan), đặc biệt “kỵ” với nắng quái chiều và gió Tây (gió Lào). Nếu trồng đại trà thì phải làm giàn bằng lưới nilon có lỗ để lan vẫn quang hợp được. Chú ý phun tưới (tốt nhất là phun sương mù nhân tạo) toàn bộ cây và giá thể theo kinh nghiệm “2 ướt 1 khô” trong ngày đó là vào các thời điểm trước bình minh và sau hoàng hôn. Lượng nước vừa đủ làm mát cây, ướt rễ và dự trữ.

Đối với địa lan: Chăm sóc như đối với phong lan, cần chú ý đảm bảo đất nền tơi xốp, nhiều mầu ở thể hữu cơ đang hoai mục là tốt nhất. Nên bổ sung từ 10-20% vụn gỗ mục (cả vỏ), 10-20% (theo khối lượng tổng thể) các mẩu than gỗ nhỏ luôn ẩm (nhưng không ướt sũng) để nhử rễ ăn ra mà ta quen gọi là hồ rễ. Tránh gió khô, gió lùa qua phần nổi của cây. Làm mát đất bằng phun tưới nước loang theo bóng tán. Cần loại bỏ ngay những lá già (úa vàng) ngăn chặn sâu bệnh bội nhiễm, tỉa các cành khô, rễ hết chức năng hấp thụ hơi nước và cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm nuôi cây.

Không nên dùng NPK- loại dùng cho cây hoa màu, cây lương thực bón cho lan. Để cây tươi lâu đẹp bền, hoa sai thắm màu, hương đậm có thể thúc cho lan (phun tưới toàn bộ giá thể) nước gạo mới vo, nước ngâm tro hoai và rắc xỉ than (nguồn phân vi lượng tổng hợp). Nếu có điều kiện lấy bông (hoặc vải bông cotton) nhúng vào dung dịch glicerin 10- 15% cuốn vào cổ rễ lan để giữ ẩm.

Cách trồng và chăm sóc cây phong lan

Phong lan là loài hoa nở lâu ngày và được nhiều người chọn để làm đẹp cho nhà mình. Tuy nhiên, đây là một loại hoa khó trồng, nếu không biết cách chăm sóc, nó rất dễ chết.

Phong lan trồng trong chậu

Nên trồng vào các chậu đất nung sẽ giúp phong lan phát triển tốt hơn. Chọn chậu có nhiều lỗ thoáng. Trước khi trồng hoa, phải rửa sạch chậu. Nên cho đất to xuống đáy chậu và đất nhỏ trên bề mặt.

Nếu muốn ghép lan với các thân cây đã chết, bạn phải cắt cây thành khúc ngắn để dễ treo. Nên chọn những cây mục và bóc vỏ đi vì vỏ sẽ là nơi trú ẩn của côn trùng phá hoại. Buộc một miếng xơ dừa vào thân cây để giữ ẩm rồi buộc chằng lên đó gốc lan. Nếu bạn trồng vào những ngày mưa hoặc thời tiết quá ẩm thì không cần phải buộc xơ dừa.

Trồng thành băng xơ dừa

Kỹ thuật chăm sóc lan hồ điệp

Hiện nay, Hoa lan đang trở thành loài hoa có nhu cầu lớn nhất và được sử dụng một cách rộng rãi mang tính chất trang trí và thương mại. Một quan niệm sai lầm phổ biến cho rằng hoa lan rất khó trồng ở nhà. Đây là một số lời khuyên cho việc trồng và chăm sóc lan hồ điệp tương đối ít cầu kỳ trong việc chăm sóc

Lan Hồ điệp có nguồn gốc từ Đông Nam Á, Philippines và Australia. Những loài cây này luôn bám chặt vào những cái cây ở trong rừng sâu hoặc bám vào đá. Chúng có những cái lá to, rộng mọng nước và cuống hoa uốn cong mang nhiều hoa. Thường một cây có 5 đến 10 lá và nhiều rễ màu trắng. Một số loài cuống hoa mang những hoa tròn to. Những loài có cuống hoa ngắn và hoa có màu sặc sỡ gồm màu trắng, hồng, vàng, hoặc cánh hoa có sự pha trộn các sọc, viền hay đốm. Ngoài những loài này, một số lớn giống lai có khả năng thích nghi trong điều kiện nhân tạo hơn so với môi trường tự nhiên. Một yếu tố quan trọng của lan hồ điệp là trong điều kiện nhân tạo thời gian hoa tàn là 3 tháng. Một số loài khác và giống lai thì thời gian hoa tàn có thể kéo dài hơn. Một số giống có thể ra hoa quanh năm. Mùa lan bắt đầu nở hoa từ tháng 12 đến cuối tháng 5.

Lan hồ điệp có nhiều hình dáng và kích cỡ. Bạn có thể đặt nó vào chậu riêng hoặc bỏ chung vào một chậu. Những cái chậu thông thường chứa được nhiều cây và cây có thể ra hoa trong vòng hai năm, nếu chúng được chăm sóc hợp lý.

Các cây con có sẵn trong phòng thí nghiệm sẽ được đưa ra ngoài và kích thước của cây phụ thuộc vào độ lớn cuả lá, mà độ rộng của lá được đo từ đỉnh lá đến điểmđối diện. Thông thường, một cây có chiều dài lá khoảng 20cm hoặc lớn hơn được xác định khi cây có hoa đầu tiên nở, tuy nhiên một số loài chiều dài lá chỉ đạt 10cm khi hoa vừa mới nở.

Lan hồ điệp cần ánh sáng để phát triển tốt. Trong nhà, lan hồ điệp ưa thích một vị trí gần cửa sổ có ánh sáng nhưng ánh sáng mặt trời trực tiếp thì không nên, đặc biệt hướng mặt trời chiếu vào lúc sáng sớm hoặc chiều muộn là lý tưởng. Bạn có thể cho đèn chiếu sáng nhân tạo. Các đèn chiếu sáng nên đặt ở phía trên của cây và nên chiếu ít nhất 12 đến 16 giờ hàng ngày. Trường hợp ở trong nhà kính, bạn nên che bằng tấm vải nhất là trong mùa hè.

Loài lan này cần nhiệt độ ban ngày là 18-29 0C và nhiệt độ ban đêm là 13-18 0C. Trong suốt mùa thu, nhiệt độ nên duy trì dưới 16 0 C liên tục trong 3 tuần khi cụm hoa bắt đầu xuất hiện. Thông thường sự thay đổi bất thường về nhiệt độ và độ ẩm có thể là nguyên nhân làm rụng nụ.

Lan hồ điệp cần 50-80% độ ẩm. Nếu độ ẩm thấp hơn bạn có thể dùng màn che, nhưng thỉnh thoảng việc làm này có thể gây ra nấm bệnh. Một biện pháp đề phòng khác là giữ cây ở trong một cái bát có chứa sỏi hay đá cuội và nước. Bạn phải đảm bảo cây phải ở trên sỏi, đá cuội và không chạm vào nước. Việc tưới nước cho những cây này là quan trọng và nên thực hiện một cách cẩn thận. Vào mùa hè, bạn có thể tưới nước cho cây khoảng 2-3 ngày một lần, ngược lại vào mùa đông, khoảng 10 ngày tưới một lần Thời gian tốt nhất để tưới nước là buổi trưa, vì lá sẽ khô cho tới tối. Nước dính lại có thể dẫn đến sự thối lá. Vì thế, cách tốt nhất là tưới nước cho cây phù hợp với từng mùa, đồng thời cũng xem xét nhu cầu nước và giá thể sử dụng (giá thể thường được sử dụng là vỏ cây, đá trân châu, vỏ cây dương xỉ, than củi).

Phân bón nên được sử dụng thường xuyên hơn vào mùa hè, khi cây đang trong giai đoạn tăng trưởng. Trong mùa đông, cây sẽ sử dụng ít hơn. Luôn tưới nước cho cây đầy đủ trước khi bón phân. Loại phân bón với công thức ổn định như là NPK 14-14-14 là tốt nhất cho cây. Cây đang ra hoa sử dụng công thức có hàm lượng photpho cao hơn. (10-30-20). Suốt những tháng mùa đông bạn có thể giảm lượng phân bón xuống và bón cho cây một lần trong một tháng.

Rất có lợi khi lặp lại việc bón phân cho cây trong suốt thời gian cây nở hoa. Lan hồ điệp đôi lúc cũng thu hút sâu hại giống như sâu đục nụ, nhện, rệp, ốc sên. Khi những con sâu hại bám vào lá sẽ được loại bỏ bằng nước xà phòng sau đó rửa sạch lại bằng một miếng vải mềm. Thậm chí bạn có thể sử dụng thuốc trừ sâu thương mại.

Hoa lan hồ điệp tàn sau khi nở 3 tháng. Sau khi hoa tàn, bạn có thể điều khiển cho cây ra hoa lại bằng cách cắt bỏ toàn bộ cuống hoa. Thỉnh thoảng việc làm này cũng có thể cho một cụm hoa mới, mà nó có thể xuất hiện trong vòng 9 tháng. Phương pháp này rất tốt nếu cuống hoa già và có màu nâu. Nhưng, nếu cuống hoa còn màu xanh, bạn có thể cắt một đốt trên cuống hoa. Đoạn cành cắt bỏ dài khoảng 10-12cm. Điều này có thể giúp hình thành một cành mới trong vòng 2-3 tuần.

Lan hồ điệp có thời gian sống rất dài. Điều đó có nghĩa là các bạn sẽ phải biết khi nào và làm như thế nào để thay chậu cho cây. Có hai lý do mà cây cần được thay chậu, hoặc là cây không sinh trưởng được trong chậu đang trồng hoặc giá thể bị phân hủy và không đủ không khí để duy trì cho rễ phát triển tốt

Việc thay chậu có thể thực hiện một lần trong một năm hoặc hai năm. Mùa thích hợp nhất để thay chậu là mùa xuân.

Rễ cây phát triển lan ra sẽ phủ lên chậu và giá thể ở trong chậu làm bịt kín các khe hở giữa các rễ, không có khoảng trống giữa giá thể và rễ cây. Điểm bắt đầu của thân cây nên được giữ một đoạn ngắn ở dưới giá thể. Sau khi thay chậu nên giữ cây trong bóng mát và tưới nước sau 3 ngày.

Trồng lan không khó hay cầu kỳ. Bạn có thể tự hào sở hữu những cây lan nhập nội với những bông hoa đầy màu sắc. Hãy tự tin, chọn lan hồ điệp để làm cho cuộc sống của bạn tràn đầy màu sắc và hương thơm.

Trước hết xin khuyên chị hãy lấy cây ra khỏi chậu, quan sát những gì trước mắt. Chẳng cần nhìn tận tận nơi cũng biết đám rêu trồng cây đã mục nát. Rễ lan thối gần hết chỉ còn chiếc vỏ mỏng nhũn nhùn.

Việc làm đầu tiên là lấy cây ra khỏi chậu. Dùng xà phòng rửa chén rửa cây cho sạch. Lấy dao hay kéo hơ lên trên bếp để khử trùng hay lưỡi dao cạo mới tinh cắt bỏ hết rễ thối, lá vàng và cành hoa. Đừng có tiếc giữ cành hoa lại vì cây không còn rễ tốt để nuôi cây và cành hoa.

Dùng bột quế, bột diêm sinh bất cứ thuốc diệt tùng, diệt nấm nào có, rắc lên trên các vết cắt và trên rễ. Sau đó cho vào bao nylon, bịt kín lại rồi treo vào chỗ ấm áp và rợp mát. Ba bốn tuần sau, cây bắt đầu mọc rễ. Khi rễ dài chừng 3-4 cm đem ra trồng với vỏ thông, than củi hay vỏ dừa loại trung bình. Đem ngâm vỏ cây tối thiểu 24 giờ trước khi trồng

Lấy một chiếc chậu mới bằng nhựa hay đất, miệng rộng khoảng 15 cm dưới đáy lót hột móp (peanut foam) chừng 2-3 cm. Để cây vào giữa chậu, bỏ vỏ cây hay vỏ dừa vào chung quanh, rồi dùng ngón tay ấn chặt quanh miệng chậu cho cây khỏi lung lay. Ngưng tưới nước 2-3 tuần lễ và chỉ phun xương.

Sau đó tưới nước và bón phân như sau: mỗi tuần lễ tưới 1 lần. Mang cây ra chỗ rửa chén hay phòng tắm tưới đi tưới lại cho thật sũng nước và bón phân 15-15-15 pha ½ thìa cà phê với 4 lit nước rồi mang cây để gần cửa sổ. Phía dưới chậu nên có một khay nước đựng nước, trên gác 2-3 chiếc đũa rổi để chậu lan lên trên cho có độ ẩm. Khi cây mọc mạnh, lá cứng cát sẽ ra hoa trở lại.

NHỮNG SỰ SAI LẦM

1. Không nên trồng lan với rêu vì rêu chóng mục, giữ chất muối ở trong nước và phân bón cho nên mỗi năm phải thay một lần. Các vườn lan trồng lan với rêu vì , độ ẩm cao, nhiệt độ, ánh sáng cũng như phân bón đã được nghiên cứu kỹ càng, hơn nữa nước tưới của họ rất tốt cho nên họ chỉ cần tưới khoảng 2 tuần lễ một lần. Chúng ta không đủ phương tiện làm theo được.

2. Khi tưới, đợi vỏ cây trên mặt chậu thật khô rồi mới tưới và nên tưới cho thật đẫm để nước có thể ngấm vào trong lõi vỏ cây. Tưới mỗi lần một chút,vỏ cây chóng khô và có thêm nhiều cặn muối không tốt cho cây.

3. Không nên bỏ nước đá vào trong chậu vì nước đá làm rễ bị lạnh không hút được nước. Hơn nữa cây lan không ưa bị lạnh như vậy. Nếu nhiệt độ trong nhà hơi lạnh hoa sẽ lâu tàn hơn, nhưng nếu nhiệt độ thay đổi quá mau chỉ làm cho hoa chóng tàn và thui nụ.

4. Bón phân như vậy quá mạnh và không có hiệu quả. Nên nhớ chỉ bón phân khi cây mọc mạnh và ra rễ. Rễ cây bị thối làm sao hút dược nước và phân bón. Mỗi lần chỉ bón ½ hay ¼ thìa cà phê mà là thìa gạt chứ không phải là thìa đầy. Bón phân quá mạnh sẽ làm cháy đầu rễ.

5. Không nên để lan ở gần bếp vì lan rất nhậy cảm với mùi gas và mùi dầu mỡ có thể làm hoa chóng tàn và thui nụ. Hơn nữa mỗi khi đốt bếp nhiệt độ sẽ tăng lên, khi tắt bếp nhiệt độ giảm xuống. Lan Hồ điệp không thích nhiệt độ thay đổi đột nhột như vậy.

【#4】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Lan Cattleya

Cattleya là giống đa thân, cây mang nhiều giả hành dự trữ nhiều chất dinh dưỡng và nước. Rễ nhỏ và dài, mọc từ căn hành bám chặt vào giá thể. Cây phát triển theo chiều ngang, với điều kiện chăm sóc bình thường, trung bình một cây một năm sẽ cho ra 2 đến 3 giả hành mới.

Hướng dẫn kỹ thuật trồng lan Cattleya

Nếu đầy đủ dưỡng liệu và phân bón, cây sẽ phát triển tốt hơn nữa và có thể đạt đến 5 – 6 giả hành.

Cấu tạo giá thể:

Cấu tạo giá thể là điểu kiện quyết định sự phát triển của lan Cattleya, vì thế việc cấu tạo giá thể thay đổi tùy theo vùng và tùy theo mùa trong năm. Phương pháp trồng trên thân cây sống và thân cây chết thì giá thể chính là lớp vỏ của thân cây được trồng. Phương pháp trồng chậu thì giá thể phải thật thoáng. Một giá thể quá bít kín giúp người trồng ít tưới nước, nhưng cây rất dễ bị chết vì thối rễ nhất là trong mùa mưa. Một giá thể với phần đáy thật thoáng tránh được sự úng nước và phần bề mặt hơi khít kín rất tốt cho sự phát triển của Cattleya. Đối với vùng lạnh, cấu tạo giá thể quá thông thoáng sẽ bất lợi cho sự sinh trưởng, vì nhiệt độ lạnh ban đêm sẽ làm các đầu rễ thui chột đi và bộ rễ teo dần, cây phát triển èo uột.

Ánh sáng:

ở rừng Cattleya thường dùng ánh sáng khuếch tán, chúng không thích ánh sáng trực tiếp vào giữa trưa. Với ánh sáng chói chúng sẽ phát triển các cuống giả hành. Các giả hành cứng này là nơi để Cattleya giữ nước lại, rất quan trọng cho sự phát triển và chu trình sống của chúng, cũng từ các giả hành này hoa sẽ mọc lên ngay trên đỉnh.

Cattleya và những loài họ hàng với nó đều đòi hỏi lượng ánh sáng tốt. Chúng chịu ánh sáng chiếu đến vào buổi sáng nhưng phải có bóng râm vào buổi trưa từ 11 giờ đến 3 giờ chiều. Lá cây phải có màu xanh nhạt, nếu lá màu xanh đậm nghĩa là cây bị thiếu nắng.

So với một số giống lan thương mại khác, sự che sáng đối với các loài lan thuộc giống Cattleya thay đổi khác nhau tùy loài. Tuy nhiên ở mức độ che sáng 50% cường độ ánh sáng khoảng 12.000 – 20.000 1m/m có thể áp dụng cho nhiều loài. Một giàn che bằng tôn nhựa xanh rất tốt cho việc trồng lan Cattleya. Nếu lan Cattleya được trồng trên sân thượng nhà ở, độ che sáng tốt nhất là 60% tức ánh sáng sử dụng 40%. Trong giàn lan, không nên treo các chậu sát vào nhau, phải có một khoảng cách từ 15 – 20cm khoảng trống giữa những chậu sẽ cho cây nhận đủ ánh sáng và thoáng khí. Ngoài ra, đó cũng là phương cách ngăn chặn ốc sên có hiệu quả. Tuy nhiên nếu lan được trồng treo cao thì các cây phải được treo sát vào nhau để ngăn chặn bớt gió.

Nếu không có giàn che, lan Cattleya cũng có thể trồng trực tiếp ngoài sáng với điều kiện là các cây được trồng từ nhỏ ở các chậu, phải đặt sát vào nhau và tiểu khí hậu nơi đó phải mát và ẩm.

Biểu hiện của một cây lan thừa ánh sáng là lá có thể bị cháy hoặc có màu vàng, cây lùn thấp. Ngược lại một cây thiếu ánh sáng; màu xanh lá cây đậm, dáng cây yếu đuối dễ ngã. Một cây lan Cattleya màu xanh nhạt ánh màu vàng hay tím là cây được trồng ở nơi vừa đủ ánh sáng.

Nếu cây lan được trồng ở điều kiện ánh sáng tối ưu, sẽ cho hoa có màu rất thắm, cánh hoa dày cứng không có khuynh hướng lắc leo, hoa thật to. Còn ngược lại, nếu được trồng ở ánh sáng yếu, cây rất chậm ra hoa và khi ra hoa, hoa thường hay gục xuống, màu nhạt. Quá nắng, cây sẽ còi cọc, ra hoa bé thường hay bị hấp nắng hoặc có khuyết tật.

Nhiệt độ:

Ở rừng tại các cao độ khác nhau, nhiệt độ cũng rất khác nhau. Vào mùa đông nơi vĩ độ cao cây trở nên thích ứng với nhiệt độ thấp đến 10 – 13°c và chịu được nhiệt độ cao đến 27 – 32°c vào mùa hè. Khi chăm sóc Cattleya, ta cũng nên tạo vài sự thay đổi nhiệt độ để chúng phát triển và ra hoa. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm tối thiểu 10°c là lý tưởng nhất.

Nhiệt độ lý tưởng vào ban ngày là: 24 – 29,5°c và ban đêm từ 15,5 – 18,5°c. Thỉnh thoảng nhiệt độ có cao quá hay thấp quá cây vẫn có thể chịu được nếu thời gian kéo dài không quá lâu.

Tưới nước:

Tưới nước là cần thiết để tăng độ ẩm của vườn lan. Tuy nhiên bạn phải nhớ rằng Cattleya là một giống lan có giả hành mập, vì thế khả năng dự trữ nước của nó rất lớn. Do đó tưới nước thường xuyên sẽ làm cây không phát triển và đôi khi làm chết cây do thối rễ. Tưới nước bằng cách nhỏ giọt thường xuyên vào chậu cũng không cho kết quả khả quan, Ở thành phố Hồ Chí Minh, đối với giống lan Cattleya tưới nước là cần thiết, tuy nhiên với độ nhẹ sáng 50% tưới nước nhiều sẽ tạo ra một nhiệt độ thấp dưới 25°c làm cây khó ra rễ. Vì thế đối với giống Cattleya, giữa các lần tưới phải có thời gian khô ráo để kích thích sự mọc rễ của cây.

Cách tưới nước thay đổi tùy vùng, ở thành phố Hồ Chí Minh vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 lan Cattleya được tưới một ngày một lần vào khoảng 10 giờ sáng. Từ tháng 11 đến tháng 3 lan được tưới mỗi ngày 2 lần: một lần vào 9 giò sáng, một lần vào 3 giờ chiều, sở

dĩ ta tăng số lần tưới trong thời gian này, vì đây là mùa khô, độ ẩm không khí giảm đi rõ rệt. Vào tháng 3 đến tháng 4 ta giảm số lần tưới còn 1 lần/ngày để tạo mùa nghỉ cho lan.

Ở Đà lạt, vì có sương mù thường xuyên nên độ ẩm cao, do đó chỉ tưới 1 tuần/lần trong mùa nắng và hoàn toàn không tưới trong mùa mưa.

Các tỉnh phía Bắc, có mùa khô ngắn, các tỉnh miền trung có mùa khô quá dài thì việc tưới nước phải được vận dụng một cách cụ thể cho từng vùng.

Độ ẩm rất cần thiết với giống lan Cattleya. Chúng ta hiểu được điều này vì Cattleya sống ở rừng mưa nhiệt đới. Rễ cây không thể chìm trong nước quá lâu vì chúng sẽ bị thối. Nước phải thông khí (đầy đủ oxi).

Nói chung, tưới nước rất quan trọng trong việc chăm sóc Cattleyạ, vì vậy cần tưới 2lần/tuần suốt thời kỳ tăng trưởng và 1 lần/tuần trong thời kỳ nghỉ của chúng.

Cattleya là loài lan chịu được khô giữa các lần tưới nước sau khi trổ hoa.

Điều này giúp cho sự phát triển giả hành tốt thêm. Phải chắc chắn là chậu cây phải thoát nước tốt và kịp thời. Khi tưới, ta có thể thể tưới ngay lên cây và nước phải thoát nhanh khỏi chậu. Ta có thể để nước chảy vào cây khoảng 30 giây, giả hành sẽ hấp thu đủ nước và dự trữ lại.

Nếu cây ra hoa vào mùa đông hay mùa xuân điều này có nghĩa là cây đã nghỉ ngơi đầy đủ (khoảng 6 – 8

tuần). Suốt thời kỳ này chỉ cần tưới nước 1 lần/tuần và giữ ánh sáng đều đặn như nhau. Nhưng nếu cây nở hoa vào mùa hè nghĩa là cây không cần phải nghỉ nữa.

Nói chung Cattleya phát triển tốt nhất khi giá thể trong chậu khô đi giữa hai lần tưới, tương tự như chúng sống trong tự nhiên (mọc trên đỉnh của các cây) cây thường khô ráo giữa hai trận mưa.

Bón phân:

Các loài lan thuộc giống Cattleya có thể ra hoa bất kỳ mùa nào trong năm với điều kiện các bộ phận sinh dưỡng đủ khả năng phát triển thành một giả hành mới. Chính vì thế, việc bón phân cho lan ngoài mục đích duy trì sự sinh trưởng và phát triển của cây lan, còn nhằm điều khiển sự ra hoa các loài của giống này (ngoại trừ một số loài rất ít ra hoa theo mùa).

Phải luôn luôn nhớ rằng lan Cattleya là một loài thực vật phụ sinh, do đó lá của chúng giữ vai trò quan trọng trong việc hấp thụ dưỡng liệu, vì thế tưới phân bón bằng phương pháp phun sương lên toàn bộ cây sẽ tốt hơn rất nhiều so với cách tưới thẳng vào các giá thể trong chậu.

Phân có thể phun sương bằng hệ thống béc phun tự động hay bằng bình xịt thuốc sát trùng. Nếu số lượng lan ít thì phương pháp nhúng phân ngập là rất tốt. Phân được bón là các loại phân vô cơ, có công thức 30-10-10 được tưới một hoặc 2 lần/tuần, với nồng độ 1 muỗng cà phê pha trong 4 lít nước. Khi các giả hành

chớm nụ hoa, ta bón các loại phân 10-20-20 vối nồng độ và chu kỳ như trên, để đảm bảo một sự đậu hoa chắc chắn, với những hoa to và đẹp.

Nếu cây lan của bạn đã đủ sức khỏe và bắt đầu mọc chồi mới, bạn muốn có một loại hoa Cattleya nở trong vòng 3 tháng tới, bạn sẽ thỏa mãn yêu cầu dễ dàng bằng cách dùng phân 6-30-30 với cách tưới như trên. Phải nhớ rằng, luôn luôn có sự mâu thuẫn giữa sinh trưởng và phát dục. Một điều kiện bất lợi về sinh trưởng cũng làm cho cây trổ hoa. Do đó khi cây ra hoa nhiều nó sẽ kiệt sức.

Một cây đến tuổi trưởng thành có đủ sức khỏe, tất nhiên sẽ phát dục. Vì thế nếu cây yếu, ta không nên thúc cây ra hoa, cây sẽ bị mất sức. Sự thực cây ra hoa chỉ được dùng khi cây mạnh khỏe hoặc trong vài trường hợp đặc biệt có thể dùng phân vô cơ và hữu cơ hỗn hợp loãng sẽ cho kết quả tốt trong sự tăng trưởng. Vitamin Bl tưới với nồng độ loãng hàng ngày sẽ giúp cây phát triển rất nhanh chóng.

Trước mùa ngừng tăng trưởng một tháng, trong suốt tháng 3, bạn bón cho lan loại phân 10-20-30 để tạo một sự cứng cáp cho cây trước khi cây vào mùa nghỉ trong tháng 4, vào mùa này ta sẽ ngưng tưới phân hoàn toàn.

Dùng loại phân có hàm lượng Nitrogen cao suốt năm theo liều: 1 muỗng cà phê/51ít nước phun 1 lần /tháng. Việc công thức, liều lượng phân bón sử dụng cho

Cattleya cũng tương tự như các loại lan khác: Phaleanopsis, Dendrobium, Oncidium, …

Thay chậu:

Lan Cattleya trồng và phát triển trong chậu dù cẩn thận thế nào đi nữa cùng có một số rễ bị thối. Ngoài ra lan Cattleya phát triển rất nhanh, do đó việc thay chậu phải được thực hiện sau một thòi gian trồng khoảng 2 năm. Việc thay chậu nên tiến hành đồng thời với việc nhân giống. Khi quan sát thấy giả hành bắt đầu mọc ra khỏi mép chậu thì ta nghĩ đến việc thay chậu. Vì Cattleya có giả hành nên khi thay chậu rất dễ bị “sốc”. Việc thay chậu, tốt nhất nên thực hiện vào đầu mùa mưa cây sẽ phát triển rất mạnh. Tuy nhiên Cattleya có thể thay chậu vào bất kỳ thời gian nào vẫn đảm bảo cây sống với tỷ lệ cao.

Chậu lan Cattleya với 10 giả hành, có thể cắt trước đó thành 3 đoạn, 4 tháng trước mùa nghỉ, và để nguyên tại chỗ. Trét sơn vào vết cắt rồi phun hỗn hợp Benzyl Adenin lppm (phần triệu) và Bl… Khi đến mùa nghỉ mỗi đoạn sẽ có một giả hành mới vừa đủ trưởng thành để chịu đựng trong mùa nghỉ, khi mùa mưa đến, ta tách mỗi đoạn ra và đem trồng vào một chậu mới.

Tách thiết kế hợp với thay chậu vào đầu mùa mưa sẽ đảm bảo cho chậu lan đủ khả năng trổ hoa ngay trong năm đó. Muốn thay chậu Cattleya, ta ngâm chậu vào một chậu nước có pha thuốc ngừa rêu, trong thời gian nửa giò đến một giò, các rễ sẽ tróc ra. Dùng kéo nhọn đã khử trùng cắt bỏ những rễ thối và những rễ quá dài thì chừa lại một đoạn 10cm. Cuối cùng buộc chặt cây lan vào chậu mới và đặt chậu vào chỗ ẩm mát đến khi ra rễ. Lúc ấy, mới bắt đầu cho giá thể vào chậu và đưa chậu trở về vị trí cũ.

Sau khi thay chậu, cây được phun dung dịch BI sau đó cây để khô không tưới nước một tuần khi mới thay chậu và lần tưới nước đầu tiên trở lại là dung dịch ANA lppm. Lưu ý không bao giờ đặt giá thể vào chậu trước khi ra rễ. Nếu bạn sợ giả hành nhăn nheo vì mất nước thì có thể để tạm vài cục than có kích thước to ở đây là đủ.

Không nên thay chậu trừ phi cây mọc ra ngoài chậu (cứ mỗi 2 – 3 năm) hay khi giá thể bị xấu đi, hoặc bị chua, không thoát nước nhanh và mùi mốc lan khắp chậu hoặc trên mặt giá thể bám đầy rêu mốc xanh.

Giá thể thô như vỏ cây linh sam, vỏ cây tương tự linh sam sẽ tốt cho Cattleya hơn (thường sử dụng than, dớn hoặc trộn chung lại).

Cắt bỏ các vòi hoa đã chết:

Khi bông hoa cuối cùng tàn bạn hãy cắt bỏ tất cả các vòi hoa. Sau đó dùng bột quế hay sáp đèn cầy tan chảy để bịt vết cắt lại. Tiếp tục chăm sóc cây và chờ mùa hoa sau.

Mùa nghỉ của lan Cattleya:

Cattleya là một giống lan có mùa nghỉ, ở điều kiện khí hậu và thời tiết Việt Nam, ta nên cho cây Cattleya nghỉ mỗi năm một tháng. Mùa nghỉ của lan Cattleya bắt đầu ở các tĩnh phía Nam trong suốt tháng 4, các tỉnh phía Bắc trong tháng 1. Các tỉnh từ Bình Thuận đến Thừa Thiên Huế mùa nghỉ bắt đầu trong tháng 8. Trong mùa nghỉ, cây không đòi hỏi dinh dưỡng và nước tưới (vì thế trong mùa này nên để cây vào chỗ khô và mát) chỉ duy trì lượng nước tưới một lần/ngày. Tăng độ che sáng 10% để giảm nhiệt độ, nhiệt độ thích hợp trong mùa nghỉ của Cattleya càng thấp càng tốt, khoảng 10°c cho vùng lạnh và 25°c cho vùng nóng.

Sâu bệnh và các vấn đề khác:

Đối với các loài thuộc giống Cattleya, thường xuất hiện các loài rệp son ánh màu nâu, các loài này thường bám vào lá, giả hành và cả căn hành để hút nhựa. Nhưng nguy hiểm hơn cả là loài rệp này sẽ bám vào các mắt ngủ: hút nhựa lâu ngày sẽ làm các mắt ấy chết đi. Vật thể màu nâu hình tròn mà ta thấy chỉ là một lớp vỏ che chở cơ thể rệp, nếu ta làm lệch vị trí của vỏ sẽ gây tử vong cho rệp. Lớp vỏ bao bọc này có thể chông đỡ được tác dụng của thuốc sát trùng ở nồng độ thấp. Dùng đầu que hay chính bằng ngón tay kéo lệch vị trí của vỏ sẽ gây chết cho loại rệp này.

Tuy nhiên, nếu không phòng ngừa thường xuyên, loại rệp này sinh sản rất nhanh sẽ gây tác hại cho các nhà vườn không ít.

Loại dán cánh và bọ trĩ cũng thường hay cắn phá rễ và chỉ xuất hiện trong các giá thể cấu tạo bằng xơ dừa, vỏ cây mục, dớn vụn hoặc sử dụng quá nhiều các loại phân hữu cơ dưới dạng xác như bánh dầu, phân bò. Có thể diệt trừ chúng dễ dàng bằng các loại thuốc sát trùng như Bassa với nồng độ 1/100. Tốt hơn hết là ngừa chúng theo chu kỳ 2 tháng/lần, bằng các loại thuốc nói trên. Ở nơi quá ẩm, các loài ốc sên xuất hiện trong các chậu lan không những ăn hết các rễ non mà còn tiết ra những chất làm thối các chồi mối mọc. Loại trừ các loài này bằng các mồi có trộn Metandehit hay cải xà lách đặt trong rổ để ở các góc vườn, các loài ốc sẽ ra ăn xà lách ban đêm, ta dùng đèn bắt chúng.

Bệnh thối đọt ở Cattleya hoặc thối lá, có thể bắt đầu bằng sự cháy nắng, sau có các mầm bệnh và virus lan truyền rất nhanh chóng. Nhiễm bệnh có thể ở lá, giả hành hay căn hành. Phần nhiễm bệnh mềm đi có màu nâu sẫm và lan truyền. Tốt nhất là cắt bỏ những phần bị xâm nhiễm và bôi vết cắt bằng Vadơlin + Benlate cho đến khi không có một dấu hiệu mềm thối nơi nhát cắt ấy. Phần bị bệnh nên hủy bỏ ở nơi thật xa bằng lửa. Tốt nhất nên ngừa thường xuyên bằng các loại thuốc ngừa nấm như Zineb, Top sil, Benomyl, 1 tuần/1 lần.

【#5】Giáng Hương Đuôi Cáo: Nhận Biết Và Cách Trồng Đơn Giản Như Ăn Kẹo

Giáng hương đuôi cáo là loài lan đơn thân cho hoa rất đẹp. Với những chùm hoa dài thướt tha đúng như tên gọi đuôi cáo, đây là loài lan mà nhiều người rất ưa chuộng. Vậy cách phân biệt lan đuôi cáo như thế nào, lan đuôi cáo khác với những loại giáng hương khác ra sao, cách trồng lan đuôi cáo thế nào cho phát triển tốt nhất?

Giáng hương đuôi cáo trong khoa học

Aerides Rosea là tên khoa học của lan đuôi cáo, trong đó Aerides chính là loài giáng hương. Nhiều bạn rất hay nhầm lẫn giáng hương là một loại lan nhưng thực tế không phải. Chúng ta cần phân biệt giáng hương với đuôi cáo. Đuôi cáo chỉ là một loại lan nằm trong chi giáng hương mà thôi, ngoài đuôi cáo còn rất nhiều loại lan khác trong chi giáng hương như quế trắng, tam bảo sắc, bạch nhạn, hoàng nhạn, quế tím, sóc lào…

Có nhiều người hay nhầm lẫn tên gọi của lan đuôi cáo với nhiều loại lan khác, đặc biệt là đuôi chồn (sóc ta), sóc lào, đai châu (nghinh xuân),… chính vì vậy bạn nên phân biệt kĩ lan đuôi cáo qua những hình ảnh dưới đây nhé!

Lan đuôi cáo nhận biết như thế nào?

Nhận biết lan đuôi cáo không hề khó khăn chút nào nếu như bạn nhìn những tấm hình dưới đây. Lan đuôi cáo có hoa chùm màu trắng tím và dài. Mỗi ngồng hoa đuôi cáo thường dài từ 20cm đến 40cm, chùm hoa thả thòng xuống nhìn cực kì đẹp. Hiện nay, nhiều gia đình sở hữu những cây đuôi cáo có ngồng hoa phân nhánh, cực kì sai hoa, đẹp, hiếm và có giá trị cao.

Bông hoa đuôi cáo có phần lưỡi bẹt và xòe rộng, dọc lưỡi có một vết chấm màu tím là điểm đặc trưng để nhận biết! Đây là đặc điểm dễ nhận biết cho bạn phân biệt đuôi cáo với chồn và sóc lào.

Đuôi cáo thường cho hoa từ tháng 5 đến tháng 8 dương lịch với mùi thơm đặc trưng.

Giáng hương đuôi cáo có bản lá phẳng, mỏng chứ không dày, tuy nhiên lá khá dai. Nếu bạn mua lan về không chắc có phải cáo không thì cứ bẻ thứ mép lá chân của cây, cực dễ bẻ nhưng còn lâu bạn mới bẻ gãy được, lá đuôi cáo mỏng nhưng rất nhiều xơ. Lan đuôi cáo khi lấy từ rừng về thì rất ít cây phát triển theo hướng thẳng đứng mà thường lá sẽ hướng hết về một bên như thế này:

Lan đuôi cáo thuộc chi giáng hương, chính vì thế đặc điểm rễ gió là rất đặc trưng. Nếu bạn trồng lan đuôi cáo lâu năm, bộ rễ gió cực kì phát triển:

Lan đuôi cáo khi mua về bạn sẽ phải xử lý trước khi trồng. Giáng hương đuôi cáo hiện nay nhìn thấy lá chúng ta dễ bị nhầm nhất là với lan ngô đồng. Bạn lưu ý lan ngô đồng, khoảng cách giữa 2 lá cách xa rất nhau, lá cực dày và cứng. Còn đuôi cáo có lá xếp rất sát nhau, lá mỏng hơn và ngắn hơn.

Đặc tính của lan đuôi cáo

Để biết cách trồng và chăm sóc một loài lan cho đúng khoa học, trước hết bạn phải tìm hiểu đặc tính của loài lan đó như thế nào.

Phong lan đuôi cáo thuộc chi giáng hương, chính vì thế nó có đầy đủ đặc điểm của một loài lan đơn thân ưa ẩm, mát, thích đung đưa trong gió. Lan đuôi cáo có một bộ rễ dài và cực kì phát triển. Những chiếc rễ này thả trong gió hút lấy nước và các chất dinh dưỡng để nuôi cây.

Lan đuôi cáo rất ưa ẩm mát, chỉ ẩm mát thôi chứ đừng để gốc cây lan lúc nào cũng ướt nhé. Mặc dù đa số phong lan thích ẩm nhưng không có cây nào thích ướt cả. Rễ cây ngoài việc hút nước và chất dinh dưỡng thì nó còn hô hấp nên cần phải đảm bảo độ thoáng khí. Đây cũng chính là cái khó hay khiến người chơi lan nản lòng chứ không riêng gì mỗi lan đuôi cáo. Có nhiều người muốn cây phát triển nhanh chóng mà tưới thật nhiều nước, bón phật nhiều phân, phun thật nhiều thuốc kích rễ, kích lá,… phun đến nỗi cây lan ngộ độc phân bón mà vàng lá, héo ủ rũ mà chết, mặc dù… vẫn tưới nước mỗi ngày.

Bí quyết trồng lan đuôi cáo nhanh ra rễ mà không bị nhăn

Hiện nay có rất nhiều người thắc mắc với tôi rằng trồng lan đuôi cáo cực kì khó mà họ chinh phục cả năm trời vẫn không có tiến triển gì cả. Tuy nhiên, bản thân tôi lại thấy lan đuôi cáo rất rễ trồng và chăm sóc đó chứ. Cách trồng lan đuôi cáo không quá khó như mọi người vẫn nghĩ, tuy nhiên nó đòi hỏi một số mẹo không phải ai cũng biết.

Không biết tôi đã nhắc đến những quy tắc trồng lan bao nhiêu lần rồi, tuy nhiên hôm nay với loài lan đuôi cáo có phần khác với các loài lan đơn thân khác, tôi sẽ nói một cách chi tiết hơn.

Bạn hãy xem qua bài viết về cách trồng lan đơn thân nhanh ra rễ trước khi đọc bài này nhé, link chi tiết

, hãy hạn chế không cần dùng nhiều thuốc kích thích quá đâu. Có khi xử lý lan tôi chỉ ngâm mỗi nước lã, cẩn thận hơn thì một vài giọt Thứ nhấtHùng Nguyễn hoặc physan 20SL kết hợp vitamin B1 và Vitamin B12. Các bạn rất máy móc trong việc lựa chọn thuốc kích rễ cho phong lan khi mới trồng. Chú ý không nên sử dụng thuốc kích rễ atonik, loại này quá liều rất dễ gây thối cây!

Nhiều người cho rằng chúng ta bắt buộc sử dụng thuốc kích thích rễ thì cây mới nhanh khỏe. Điều này cũng không hẳn. Khi cây lan được trồng đúng chỗ phù hợp thì nó sẽ bắn rễ và hồi phục nhanh chóng thôi. Đối với cây lan khỏe, nhiều khi chẳng cần thuốc kích rễ mà cũng bắn rễ rất nhanh.

Đừng cho rằng cứ càng nhiều thuốc kích rễ càng tốt nhé. Một lượng vừa đủ là được, nhiều quá cây ngộ độc sẽ gây phản tác dụng. Tôi không khuyến khích các bạn bỏ thuốc kích rễ, bản thân tôi cũng vẫn dùng nhưng hạn chế thôi. Đối với những cây lan khỏe có khi tôi chỉ cho một chút hoặc đôi khi còn chẳng thèm cho, vậy mà cứ ghép lan được 10-15 ngày là chúng bắt đầu nhú rễ rồi.

Hiện nay phương pháp sử dụng được rất nhiều người sử dụng và cho hiệu quả rất tốt. Thay vì sử dụng thuốc kích rễ, bạn có thể dùng phương pháp này rất tốt, an toàn cho cả cây lan và người sử dụng.

Thứ hai, không vội gì mà ghép lan luôn, không vội gì mà tưới lan luôn khi trồng.

À, một suy nghĩ của người mới chơi lan, cứ mua được lan là rửa chậu, rửa kéo cắt rễ ngâm luôn. Ồ, sai lầm, một sai lầm rất lớn mà đa số người mới chơi lan đều mắc phải.

Bất cứ loài lan nào khi vận chuyển từ nơi này sang nơi khác cần phải thích nghi với môi trường mới. Cũng không khác loài người là mấy, khi đi xe ô tô từ Hà Nội vào Inkndrinkmarkers.com bạn cũng cần phải nghỉ ngơi để lấy lại sức, quen với môi trường mới chứ không thể nào ăn uống một cách tưng bừng ngay được.

Vậy cần phải làm gì khi mua lan về ( đa số là mua lan online)?

Hãy tháo dỡ hết ra và làm một đoạn dây treo ngược lên nhé. Đa số lan đuôi cáo khai thác từ rừng về đều có dạng thân cong hình chữ L hay chữ U nên không quá khó để treo ngược chúng lên đâu. Buộc đó treo ngược lên tầm 1 ngày chỗ thoáng mát, tránh nắng nóng, mưa trực tiếp nhé.

Tôi thường treo ở ban công hoặc dưới tán cây nhãn, cây xoài, thi thoảng làm cái bình phun sương xịt qua cho chúng đỡ mất nước. Ok sau 2 ngày bạn sẽ thấy lá của nó bắt đầu có hiện tượng nhăn, lá vàng vàng, một số lá rụng. Không sao cả, bạn hãy tháo xuống cắt hết những lá, rễ hỏng rồi bôi keo liền sẹo vào, treo ngược lên cho thật khô rồi tiến hành ngâm thuốc từ nấm bệnh và thuốc kích rễ.

Sau đó, bạn cần xử lý 2 việc: xử lý nấm bệnh và ngâm thuốc kích rễ.

Bước 1: Ngâm toàn bộ cây lan vào dung dịch Physan 20SL trong 10-15 phút nhằm khử trùng mầm bệnh và treo lên cho khô.

Bước 2: Sau đó ngâm ngập cây vào dung dịch thuốc kích rễ B1 và B12 để giúp cây hồi sức và nhanh ra rễ trong khoảng 20 phút.

( Lưu ý: Bạn có thể thay thế hoàn toàn 2 bước này bằng cách sử dụng chế phẩm Hùng Nguyễn, ngâm 1 lần 20 phút rồi vớt ra. )

Sau đó lại vớt ra và treo ngược cho khô ở chỗ tránh mưa nắng trực tiếp. 1 ngày 3-4 lần xịt phun sương nước cho cây hút căng nước khoảng 2 ngày. Sau đó để cây khô và chúng ta có thể sẵn sàng ghép cây.

Nhiều người cứ treo ngược vậy đến khi cây lan đuôi cao nhú rễ r mới ghép. Tuy nhiên tôi thấy cách này đa số khi ghép đều chạm vào đầu rễ khiến cây chột lại. Tốt nhất khi xử lý xong thì bạn nên ghép cây luôn trong vòng 1 tuần.

OK, câu hỏi rất hay và cực kì phổ biến trong các group chơi lan. Ngày trước đây, ai cũng bảo ghép cây lan phải cho ngọn quay lên để tiếp nhận được nguồn ánh sáng mặt trời. Trong thiên nhiên cũng vậy, cây nào thì ngọn cũng hướng lên trên cả, chính vì thế ghép lan quay ngọn lên trên là điều tất yếu.

Tuy nhiên, ngày nay những người chơi lan lâu năm lại cho rằng ghép lan quay ngược xuống cũng được. Và tôi cũng thấy rằng ghép lan đuôi cáo quay ngược xuống khá ổn và không có vấn đề gì. Sở dĩ người ta muốn ghép lan đuôi cáo ngược và phổ biến nhất vì đuôi cáo khá lì ra rễ, ưa ẩm nhưng lại ướt quá thì rất dễ bị thối ngọn.

Có một vấn đề như thế này: Lan đuôi cáo hay có dạng thân dài hình chữ U hay chữ L, nếu ghép quay lên trên thì phần gốc này là nhô ra bên ngoài và không sát với phần giá thể gỗ. Thay vì ghép xuôi lên trên, bạn có thể ghép ngược. Nói là ghép ngược cũng không đúng, mà là ghép ngang.

Bạn hãy dùng dây buộc sao cho ngọn cây lan nằm ngang ra. Với tư thế này, cây lan của bạn hoàn toàn có thể đón lấy ánh sáng mặt trời mà vẫn không bị úng nước khi tưới. Ghép lan đuôi cáo như thế này thì bạn tha hồ tưới ẩm, rất tốt để chúng bật rễ mà không lo sợ đọng nước trên ngọn dễ dẫn đến thối ngọn.

Cả 2 đều ổn, trồng lan đuôi cáo vào chậu giữ ẩm tốt, ghép được nhiều, tương đối dễ ghép nhưng nhiều người mới chơi lan quen tưới quá tay lúc ban đầu nên tỉ lệ chết tương đối cao do đọng nước ở ngọn cây. Về lâu dài thì bạn nên ghép lan đuôi cáo vào chậu đất nung hoặc chậu gốc thật chắc, hạn chế ghép vào chậu nhựa, trừ khi hàng giống bạn ươm tạm.

Ghép lan đuôi cáo vào gỗ cũng không quá khó, thậm chí là dễ, tính thẩm mĩ cao, dễ kiểm tra tình trạng cây nhưng lại có nhược điểm là khó giữ được ẩm.

Như vậy, bạn có thể trồng vào loại nào cũng được, với tôi trồng cả 2 rất ổn mà bạn không cần phải phân vân.

Trước hết, bạn nên chuẩn bị sẵn giá thể. Tôi thường dùng gỗ nhãn hay gỗ vải cắt thành từng khúc nhỏ từ 2 đến 3 đầu ngón tay, xử lý sạch sẽ và một chút dớn chile ( loại dớn hay dùng để trồng hồ điệp công nghiệp). Ngoài ra bạn cũng có thể sử dụng than củi, vỏ thông mang lại hiệu quả cũng rất ok.

Chậu trồng đuôi cáo loại nào cũng được, nhưng tối ưu nhất là loại chậu gỗ nan thưa. Ngoài ra có nhiều người sử dụng chậu nhựa đen hoặc chậu nhựa giả gỗ. Tuy nhiên chậu nhựa này là từ nhựa tái chế, không được bền, đặc biệt với lan đơn thân phát triển rất lâu. Nhiều người trồng lan đuôi cáo vào đĩa dớn cũng phát triển rất ok.

Dùng một ít dây thít nhựa, ghép lan đuôi cáo dựa vào thành của chậu. Ghép cách này cây lan được cố định cực chắc chắn mà không sợ lay gốc, chính vì thế mà rễ cũng bắn ra rất nhanh. Bên dưới bạn rải các cục gỗ sao cho chạm hoặc ngập gốc cây lan một chút. Nhớ là để hở gốc cây ra nhé, đừng như trồng khoai. Sau đó dùng dớn chile rải một lớp mỏng lên mặt chậu, tập chung nhiều ở phía giữa.

Như vậy là xong rồi đó, sau khi ghép bạn cắt nước 1 ngày nữa rồi hôm sau tưới thật đậm, những ngày tiếp theo phun sương định kì là được. Nếu nhanh thì 5 – 7 ngày cây lan sẽ ra rễ. Tôi thấy cách này hiệu quả rất nhanh, dớn để ở mặt chậu có ướt sũng vẫn không sợ cây lan bị úng. Hơi nước bốc lên tạo môi trường cực ẩm cho cây nhanh ra rễ nhất. Có thể ban đầu cây bị héo lá, thậm chí khô vào nhưng lá vẫn xanh, bạn đừng cắt tỉa đi mà cứ để đó, 1-2 tháng cây bám rễ là nó căng lại, đẹp ngay.

Như trên tôi đã nói, ghép ngược cũng được, xuôi cũng được. Tôi thường ghép cây lan đuôi cáo hàng giống, hàng to nhưng thân thẳng đứng hướng lên trên, những cây thân hình chữ U hay chữ L thì ghép ngang.

Ghép lan đuôi cáo cũng nên tận dụng dớn chile để giữ ẩm cho cây nhé. Có nhiều người thích sử dụng xơ dừa để giữ ẩm cũng rất hiệu quả. Tuy nhiên xơ dừa các bạn hay dùng loại tươi, loại dừa uống nước xé ra ghép vào luôn.

Vấn đề là xơ dừa ban đầu chưa mục thì khả năng giữ nước không được tốt, đồng thời chưa xử lý nên khá chát và không tốt cho lan. Nếu xơ dừa để mục thì giữ nước cực kì tốt và dễ gây thối rễ. Nhiều người ghép 1 năm bùi nhùi xơ dừa ốp vào gốc cây lan, cực ẩm nhưng rất mất thẩm mỹ mà lại không hề tốt cho lan một chút nào cả, bí gốc rất dễ khiến cây lan hy sinh đó.

Cứ ghép và thêm một chút dớn chile lót vào giữ phần gốc cây và phần gỗ là được, một chút mỏng thôi nhé, vừa đẹp vừa khỏe.

Sau khi ghép lan xong, bạn treo vào nơi thoáng gió, tránh mưa nắng trực tiếp, không treo trong nhà, trong mái tôn. Thích hợp nhất bạn treo ngoài ban công hoặc dưới tán cây lớn. Tôi thường treo dưới tán cây lớn, mưa nhỏ một chút cũng không sao, mưa to cất đi tránh mưa rồi lại cho ra.

Đừng để giò lan quay tít trong gió, chúng không định hướng cố định nên khó ra rễ hơn nhiều. Thay vì dùng dây vải treo, bạn nên dùng dây thép treo để chắc chắn hơn là ổn.

Hằng ngày cứ phun sương giữ ẩm, nước gạo cũng được, B1 thi thoảng xịt cũng được, nước lã cũng được nhưng đừng phun vào ngọn cây là được.

Lan đuôi cáo khi mới trồng có đặc điểm là lá nhăn, đừng lo lắng nhé, sau đó tầm 1-2 tháng cây hồi sức là lá căng trở lại rất đẹp. Đồng thời, bạn cũng có thể tăng độ ẩm và giảm cường độ ánh sáng xuống một chút là là cây lại căng lại nhanh chóng.

Thực ra lan đơn thân ghép vào thời gian nào cũng được, tuy nhiên bạn nên chọn mùa xuân hoặc đầu hè mà ghép để cây được thích nghi và có khí hậu thuận lợi nhất để phát triển tại vườn nhà.

Trên đây là một số chia sẻ kinh nghiệm của bản thân về cách trồng lan đuôi cáo, các bác có kinh nghiệm gì thì bình luận phía dưới để mọi người cùng tham khảo nhé. Chúc các bác thành công với những giò lan yêu quý của mình.

【#6】Lan Trúc Mành Là Lan Gì? Cách Trồng Và Chăm Sóc Trúc Mành Nở Hoa Đẹp

là 1 loại Lan Trúc Mànhhoa phong lan quý có vẻ đẹp rực rỡ và mùi hương thu hút. Đây là 1 giống lan khá quý hiếm, ưa độ ẩm, thường mọc ở các vùng có khí hậu ẩm mát ở Đông Nam Á. Đặc biệt hay mọc ở vùng Tây Nguyên ở Việt Nam như Kontum. Với đặc điểm khó thuần như vậy thì đâu là cách để chăm sóc loài hoa này tốt nhất? Hãy tham khảo bài viết dưới đây của chúng tôi để có câu trả lời nhé.

Lan Trúc Mành là lan gì? Cách trồng và chăm sóc Trúc Mành nở hoa đẹp

hay còn được gọi là Hoàng Thảo Trúc Mành, có tên tiếng anh là Dendrobium falconeri. Chúng thuộc họ Lan Trúc Mànhlan Hoàng Thảo có hoa và thân rất đặc biệt. Đây là loại lan có hình dáng thân khá dài, chia các mắt và tạo vân lên như vân cây trúc. Hơn nữa dòng lan này đặc biệt nổi bật với mùi hương dịu nhẹ đặc trưng.

Rễ của loài lan Trúc Mành này rất nhỏ, thường sống bám và ưa thích các chùm rêu. Chúng không chịu được nhiệt độ cao, phù hợp nhất với khí hậu ẩm mát và thoáng gió.

Loài hoa này có tông màu chủ đạo là màu tím nhẹ, sắc độ màu hoa phụ thuộc vào điều kiện môi trường và ánh sáng. Hoa thường nở vào mùa Đông – Xuân, từ các mấu ở cành sẽ cho ra từ 1 đến 3 bông. Thời gian khoe sắc của Trúc Mành trong vòng 2 tuần là sẽ bắt đầu tàn đi.

Với đặc điểm ưa ẩm mát, không chịu được nóng nên việc trồng Lan Trúc Mành cần được chăm sóc khá kỹ lưỡng để có 1 giò lan đẹp và chất lượng.

2.1. Chọn giống Trúc Mành

Lan trúc Mành có thường sống ở nơi ẩm, rễ bám nơi có rêu. Vì vậy người chơi cần đặc biệt lưu ý những đặc điểm sau để chọn được giống tốt nhất:

– Chọn cây lan có lá xanh tươi, không héo úa hoặc nấm bệnh.

– Do bộ rễ của lan Trúc Mành nhỏ và thân mảnh nên chú ý chọn cây có bộ rễ tốt, không bị đứt đoạn hoặc nấm mốc.

– Cành hoa khỏe có các đốt đều nhau, không dập nát hay to nhỏ không đều.

– Tìm hoa chơi vào tết nên lấy từ các cá thể giống đã có hoa nở để chọn được màu sắc ưng ý nhất.

2.2. Giá thể trồng lan Trúc Mành

Tùy thuộc vào đặc tính sống của mỗi loại lan mà chúng ta nên chọn các giá thể phù hợp, giúp lan phát triển tốt. Lan Trúc Mành là loại hoa phong lan ưa ẩm nên cần đặt nơi thoáng gió. Chúng ta có thể lựa chọn giá thể phù hợp nhất đó là bảng Dớn. Hãy gắn thêm chút rêu để phù hợp với sở thích của chúng.

Dớn là dạng sợi của thân và rễ dương xỉ. Có 2 loại dớn sợi và dớn vụn. Dớn sợi phù hợp khí hậu thành phố còn dớn vụn phù hợp với những nơi có không khí lạnh.

Trong họ thảo hoàng, có lẽ lan Trúc Ngọc được đánh giá là loại lan đẹp nhất. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết về loài lan này nhé!

2.3. Các bước trồng lan Trúc Mành

Cũng giống như việc gieo trồng các loại cây khác. Để cây lan Trúc Mành có thể phát triển tốt và toàn diện nhất người trồng lan nên tuân thủ các bước thực hiện cơ bản như sau

Bước 1: Sơ chế giống, chọn lọc phần giống tốt nhất, loại bỏ những đoạn già xấu không đảm bảo chất lượng

Bước 2: Vệ sinh giá thể trồng lan chống mầm bệnh cho lan ngay từ đầu. Chuẩn bị nguyên liệu trồng lan.

Bước 3: Ghép lan đã chọn vào dớn. Tưới nước và đưa về nơi có thoáng gió có ánh sáng nhẹ

Bước 4: Chăm sóc tưới xịt nước và bón phân theo dõi hàng ngày. Bón phân cao lân NPK tỷ lệ 30 – 10 – 10 sau đó khi cây đã ổn định thay đổi thành 15 – 15 – 15 pha rất loãng. Thời điểm cây rụng lá ngừng bón phân. Mùa đông ngưng bón phân hoặc có thể phun rất ít tại thời điểm lan sắp trổ hoa.

Lan Trúc Mành là một loài phong lan rất thích hợp với khí hậu và nhiệt độ ở nước ta. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu cách chăm sóc lan Trúc Mành sinh trưởng và phát triển tốt nhé.

3.1. Chế độ chăm sóc lan Trúc Mành

– Ánh sáng: Lan Trúc Mành là loài không chịu được nóng. Vì vậy không nên để ánh nắng trực tiếp chiếu lên khiến thân của chúng bị khô. Người chơi nên chọn nơi để cây có ánh sáng vừa phải. Ánh nắng buổi sáng sớm là phù hợp nhất cho cây.

– Nhiệt độ: Nhiệt độ từ 15.6 – 26.7 độ C lạnh cho tới 10-21 độ C .

– Độ ẩm: Độ ẩm thích hợp cho cây là 60-70%. Đây là giống lan ưa ẩm nên chúng ta có thể dùng phương pháp tưới xịt vào thân, lá và rễ cây. Như vậy sẽ giúp giữ được độ ẩm, tránh cho cây không bị khô héo. Tưới nước mỗi ngày và giảm dần về mùa thu. Mỗi ngày 1 lần vào mùa hè, 3 lần 1 tuần vào mùa đông, giữ giá thể ẩm quanh năm.

Chú ý: Không cần tưới nước cho lan vào mùa mưa. Có thể dùng nước vo gạo thay cho nước thường để tưới phun cho cây.

3.2. Phòng trị sâu bệnh cho lan

– Hoàng thảo Trúc Mành có thân mảnh dẻ và bộ rễ khá nhỏ. Quá trình chăm sóc cần chú ý kiểm tra thân, rễ và lá của cây thường xuyên để phát hiện sâu bệnh kịp thời.

– Các loại sâu bệnh phổ biến thường xuất hiện là sâu ăn lá, rệp và nấm.

– Nên xử lý các giá thể kỹ trước khi trồng lan, ngăn ngừa nấm bệnh trước khi bệnh xuất hiện.

– Đối với việc trị sâu bệnh thì phương pháp chủ yếu vẫn là phát hiện sớm và sử dụng thuốc phun xịt để tiêu diệt sâu, rệp tránh sâu rệp lan tới các nhánh lan khác.

– Một tháng nên phun xịt nano bạc cho cây để hạn chế nấm bệnh.

Nhắc đến loài hầu hết ai cũng không khỏi ngạc nhiên bởi cái tên. Tuy nhiên, nó lại mang một vẻ đẹp rực rỡ và hương thơm khá cuốn hút. Hãy cùng tìm hiểu chi tiết về loài lan này nhé!

Lan Trúc Mành là loại lan khá khó thuần. Nhưng với vẻ đẹp và mùi hương đặc biệt nên chúng luôn được những người chơi lan săn đón. Và để có được một chậu hoa nở vào đúng dịp tết cũng không phải là điều dễ dàng, người chơi cũng cần áp dụng những kỹ thuật riêng.

Ngắm lan Trúc Mành nở hoa đẹp

– Việc đầu tiên mà bạn nên làm là chọn cá thể lan trưởng thành để chăm sóc tách biệt đảm bảo lựa chọn được màu hoa ưng ý

– Cần có thời gian để lan chuẩn bị trổ hoa trước thời điểm tết ít nhất 2 tháng, hoa nở thơm trong 2 tuần đủ để chơi lan vào tết. Thời gian phù hợp vào tháng 11 âm lịch.

– Đánh thức nụ hoa bằng cách tưới nước vào buổi trưa trong vòng 2 tuần. Sau khi kích mắt nụ hoa bắt đầu giảm nước và ánh nắng để giữ nụ hoa lâu tàn. Ngoài việc đặt lan nơi nhiều độ ẩm và thoáng thì cũng nên để tránh ánh sáng trực tiếp nhưng không làm thiếu đi lượng ánh sáng cần thiết của cây trong ngày. Có thể treo lan nơi có ánh sáng nhẹ vào buổi sáng tầm 3-4 tiếng khi nhiệt độ chưa quá cao.

– Thời điểm cây ra hoa căn chỉnh bón phân 1 lần 1 tuần. Đồng thời xịt phân lên thân rễ với một lượng rất loãng để tăng dưỡng chất giúp hoa nở đẹp và giữ độ tươi sắc lâu nhất. Chú ý mùa đông cây không nên tưới nhiều nước và phân tránh tình trạng chết hoặc úng nước.

Lan Trúc Mành là một trong những loại lan quý được lựa chọn rất nhiều trong dịp lễ Tết để trưng bày. Mong rằng những chia sẻ thông tin ở trên sẽ giúp các bạn có thêm hiểu biết để có một giò lan đẹp ưng ý nhé. Cảm ơn các bạn đã tham khảo bài viết này của chúng tôi. Chúc các bạn thành công!

【#7】Trồng Lan Trong Nhà Kính, Những Điều Nên Biết

Kỹ thuật trồng lan trong nhà kính

Để đem đến cho lan môi trường tốt nhất, bạn hãy trồng lan trong nhà kính. Vì nhà kính là nơi chỉ dành để trồng lan nên bạn có thể tập trung thiết lập điều kiện thích hợp cho chúng.

Có nhiều kiểu trồng lan trong nhà kính để bạn chọn lựa; hãv chọn bất kỳ mẫu nào phù hợp với vị trí và thẩm mỹ của nhà bạn. Phải chọn lựa vị trí thật kỹ.

Nếu xây nhà kính dưới những câv rụng lá thì mùa hè cây sẽ cho bóng mát cần thiết, nhưng nếu là những cây xanh quanh năm thì chúng sẽ che hết cả ánh nắng vào những tháng âm u trong năm, khi mà lan đang rất cần ánh sáng.

Nhà kính phải được bố trí nơi thoáng rộng để dễ kiểm soát cường độ ánh sáng, vì khi cần bạn có thể đậy hoặc mở lưới che ra.

Dùng lưới che gắn trên mái giàn hoặc quét sơn lên mái, hoặc áp dụng cả hai. Nhưng cũng nên nhớ rằng nếu nhà kính nằm ở nơi trống trải thì sẽ bị gió nhiều, có thể gây thiệt hại trên diện rộng.

Nhà kính bằng gỗ thường thoát ẩm chậm hơn nhà kính kim loại; bạn phải nhớ rõ điều này. Trước đây, tất cả các nhà kính đều được lợp mái bằng các tấm kính; hiện nay, cách này vẫn là cách rẻ nhất để tạo mái giàn cứng cáp, nhưng kính thì có thể bị vỡ, nhất là trong mùa gió nhiều.

Lợp bằng các tấm polycarbonat tuy ban đầu có đắt nhưng lại là phương pháp cực kỳ kinh tê và có thể lợp được dưới nhiều dạng khác nhau.

Hai hay ba lớp polycarbonat được ghép với nhau bằng các vách mỏng ở giữa, tạo thành những túi khí để cách nhiệt hiệu quả.

Tấm lợp có thể được sơn màu để che bóng cố định. Nếu nhà kính của bạn được lợp kính, bạn phải lót những tấm plastic bong bóng để tạo lớp cách nhiệt.

Cách này còn giúp ngăn tình trạng khô hạn. Phải thường xuyên kiểm tra để kịp phát hiện và lấp những lỗ hổng giữa các ô kính.

Sự thông gió

Cho dù là một nhà kính mới được xây lên để trồng lan hay một nhà kính có sẵn được sửa đổi lại đôi chút cho phù hợp với việc trồng lan, thì những yêu cầu cơ bản vẫn như nhau.

Ánh sáng và độ cách nhiệt thì đã được đề cập đến, nhưng còn một yếu tố rất quan trọng nữa là độ thông gió.

Trong những ngày ấm áp, dù đã được che chắn, nhiệt độ nhà kính vẫn có thể nhanh chóng tăng lên rất cao nếu không được thông gió.

Những hệ thống thông gió hoạt động bằng bộ ổn nhiệt sẽ tự động mở các lỗ thông gió khi nhiệt độ đạt đến một mức nào đó.

Tuy nhiên ở một số nhà kính, các lỗ thông gió lại được đóng mở thủ công, và như thế sẽ dễ gặp rắc rối nếu bạn vắng mặt một thời gian dài vào lúc thời tiết thay đổi thất thường.

Lan có thể bị hầm chín nếu trong thời tiết nóng mà nhà kính không được thông gió. Cả trên mái và hai bên vách nhà kính đều phải có lỗ thông gió.

Bạn cũng có thể mở cửa nhà kính nếu bạn ở đó cả ngày, để không khí được lưu thông nhiều hơn.  

Bố trí cây

Giàn giá chắc chắn và có thể dời chuyển được là rất cần thiết cho vườn lan, để bạn có thể bố trí lan ở bất kỳ tầm cao nào phù hợp với lan và với bạn, chẳng hạn: những cây to thì có thể đặt thấp, còn những cây nhỏ thì đặt cao.

Giá phải được làm bằng gỗ giát thưa hoặc lưới thưa để nước từ đáy chậu có thể thoát hết ra ngoài. Để tăng không gian cho vườn lan, bạn hãy lưu ý cả ba chiều.

Tận dụng không gian phía bên trên để treo những dò Lan hoặc những chậu treo. Với những cây ưa nắng, bạn hãy đặt chúng lên cao hơn, chúng sẽ che mát thêm cho những cầỵ bên dưới.

Nhưng lưu ý đừng bố trí vườn quá dầy đặc kẻo ánh nắng sẽ không đến được cây, khiến chúng không phát triển hoặc không ra hoa tốt.

Để tận dụng không gian hai bên vách nhà kính, bạn hãy bó lan vào những đoạn vỏ cây, rồi treo lơ lửng trên các mắt lưới ở hai bên vách, nơi chúng được phun sương thường xuvên để giữ ẩm.

“Những cây bầu bạn”

Không gian bên dưới giá đặt lan có thể hơi tối, không thích hợp để trồng lan, nhưng lại lý tưởng cho những cây bầu bạn với chúng mà thích bóng tối và độ ẩm, như dương xỉ, dứa, hồng môn, và các loại cây lá khác.

Trồng chúng trong chậu hoặc trồng trực tiếp xuống khoảng đất bên dưới các dãy giá đặt lan. Phải kiểm tra chúng thường xuyên, vì chúng có thể chứa sâu bệnh và lây sang cho những cây lan của bạn.

Những cây bầu bạn này còn giúp tăng độ ẩm cho nhà kính. Thực vật ở rừng mưa nhiệt đới không sống đơn độc và sẽ phát triển tốt hơn nếu được bầu bạn với nhiều cây khác.

Độ ẩm

Bạn có thể tạo độ ẩm khi trồng lan trong nhà kính bằng cách mỗi buổi sáng bạn đều tưới nước xuống nền để làm ẩm nền, đặc biệt là trong thời tiết nóng.

Khi trời mát hơn hoặc âm u, bạn không cần phải tưới nhiều kẻo làm hỏng hoa, thậm chí còn ảnh hưởng đến chính cây lan nếu nước tưới đọng lâu trên lá.

Bạn cũng có thể phun sương trên lá lan, phun cả mặt dưới lá. Ngoài việc giúp tăng độ ẩm, phun sương như vậy còn giúp làm sạch bụi và xua sâu hại.

Một số giống lan như vanda (những giống có thể phát triển mà không cần bón phân) cần được phun sương thường xuyên để tránh bị mất nước.

Tưới nước

Bạn có thể phun sương mỗi ngày, nhưng như thế cũng không cung cấp đủ nước cho nhiều loài lan.

Chúng cũng cần được tưới rễ, và trong nhà kính thì việc tưới rễ không khó.

Để tưới hiệu quả hơn, bạn hãy nối một ống phun nước dài vào vòi nước, đủ dài để bạn có thể dẫn nước từ vòi đến tất cả các cây; như thế bạn không phải châm nước nhiều lần vào bình tưới rồi xách đi đến từng cây một.

Vòi tưới có thể được gắn với nhiều loại đầu hoa sen và đầu phun sương để tưới tùy theo nhu cầu.

Nếu bạn không thể bố trí một hệ thống cung cấp nước chính cho nhà kính, bạn có thể xây một hồ chứa bên trong nó và thường xuyên cho đầy nước vào hồ.

Như thế, vào mùa đông nước sẽ được ấm hơn. Cố gắng sử dụng nước mưa để tưới cây.

Sưởi

Nếu trồng những loại lan đòi hỏi nhiệt độ ấm hơn thì tất nhiên bạn phải sưởi nhà kính thường xuyên, vì vậy bạn phải có phương pháp sưởi hiệu quẳ nhất.

Nếu dùng hệ thống sưởi bằng gas thì nhà kính phải có thật nhiều lỗ thông gió, nếu không hơi gas sẽ tích tụ, gây hại cho lan và cho cả người trồng.

Nếu không dùng hệ thống gas thì sưởi bằng dầu lửa cũng tốt.

Máy sưởi bằng quạt điện thì có ưu điểm là giúp lưu chuyển hơi ấm đi khắp nhà kính, nhưng lại làm cho không khí hơi khô, vì vậy bạn phải phun nước thường xuyên để duy trì độ ẩm.

Sưởi bằng dầu thì không kinh tế, nhưng cũng có thể dùng phương pháp này để dự phòng cho trường hợp khẩn cấp.

Huyền Bùi mong rằng bạn đã có những kinh nghiệm hay trồng lan trong nhà kính.

【#8】Phương Pháp Biệt Dưỡng 14 Ngày Dành Cho Gà Chọi

1. Thức ăn trong giai đoạn biệt dưỡng

Để tôi tiết lộ điều mà một số sư kê gọi là “bí mật” trong biệt dưỡng gà chọi để đá trường. Bắt đầu, hãy nói về thức ăn.

Một số sư kê nói rằng bí mật trong biệt dưỡng gà chọi là thức ăn. Không thể chối cãi rằng thức ăn đóng một vai trò rất quan trọng trong việc biệt dưỡng, nhưng cũng xin lưu ý rằng nó phải tương quan với những yếu tố khác mà một sư kê phải theo dõi trong khi sửa soạn chiến kê đá trường. Bằng tất cả lòng trân trọng đối với những sư kê khác, tôi xin lưu ý rằng những gì tôi viết ở đây thực sự là những điều mà chính tôi áp dụng.

Trước khi áp dụng “Phương pháp biệt dưỡng 14 ngày”, chúng ta phải chọn các ứng viên. Nếu bạn tham gia giải derby 5-chiến kê, thì số lượng ứng viên cần chọn đơn giản nhiều gấp 3 lần (15 con). Giả sử rằng những chiến kê này trải qua giai đoạn tiền biệt dưỡng một cách mạnh khỏe, đầy đặn và tươi tốt nhưng không tích mỡ tức “sapola”. Trọng lượng trong giai đoạn tiền biệt dưỡng tốt nhất nên cao hơn trọng lượng đá trường khoảng 200 gram. Tốt nhất nên giảm cân trong quá trình biệt dưỡng hơn là tăng cân, điều vốn mất thời gian, công sức mà lại không hiệu quả. Nên nhớ rằng, chúng ta đang thực hiện phương pháp biệt dưỡng 14 ngày, không phải là 21 hay 30 ngày.

Còn bây giờ, bạn có thể sẽ hỏi “vậy đâu là trọng lượng đúng?”. Trọng lượng đá trường tối ưu là trọng lượng mà gà của bạn xổ hay nhất trong khi tiền biệt dưỡng. Trong giai đoạn này, hãy ghi nhận trọng lượng của từng con trước khi xổ. Chấm điểm theo cách nhìn của bạn. Chiến kê có thể đá tốt, rất tốt, xuất sắc hay bình thường ở công đoạn này. Sau tối thiểu 5 lần xổ, bạn phải có khả năng nhận biết đâu là trọng lượng tối ưu. Coi trọng lượng mà nó đá hay nhất như là trọng lượng đá trường.

Hãy cho gà ăn bánh mì nhúng sữa như là thức ăn nhẹ vào ngày tuyển chọn chiến kê. Xổ lải theo cách thông thường, và diệt rận bằng cách xịt thuốc lên lông. Đừng nhúng hẳn gà vào nước thuốc. Bây giờ chúng được xem là sạch sẽ, từ trong ra ngoài.

Để phòng bệnh và lây nhiễm trong quá trình biệt dưỡng, tôi tiêm Combiotic (chỉ 1cc. mỗi con) vào ngực gà ở ngày đầu tiên.

Về thức ăn, tôi cố gắng duy trì mức 16% đạm thô (crude protein) từ ngày 1 cho đến ngày 11. Để thực hiện, hãy trộn nhiều loại theo công thức sau:

50% – bắp thô

20% – lúa mì đỏ

10% – yến mạch nguyên hay chà vỏ (hiệu Jockey)

10% – hiệu thức ăn Royal Pigeon Feed

10% – thức ăn viên 16% đạm (16% C.P.)

Bắp là khẩu phần chủ lực của gà chọi, cung cấp rất nhiều carbohydrate và một số đạm. Tôi sử dụng lúa mì đỏ thay vì trắng bởi vì nó dễ tiêu và giàu đạm hơn. Nếu bạn không thể mua hiệu thức ăn Royal Pigeon Feed, bạn có thể thay bằng 5% đậu hà lan tươi (green pea) và 5% đậu hà lan khô (yellow pea). Những thứ này cung cấp hầu hết lượng đạm mà gà cần đến. Thức ăn viên có thể là hiệu Holding Ration Pellet hay đơn giản là Pigeon Pellet. Chỉ cần đảm bảo viên mà bạn dùng chứa 16% đạm thô. Hãy đọc thông tin trên bao bì. Tỷ lệ ở trên được tính theo trọng lượng khô.

Tất cả hạt được ngâm vào nước trong ít nhất 9 giờ. Ngay sau mỗi bữa ăn, hãy ngâm hạt cho bữa sau. Ngâm làm mềm hạt và kích thích nảy mầm. Hạt nảy mầm tạo ra nhiều đạm. Các loại đậu, như đậu hà lan và đậu nành, phải được nấu chín hay mọc mầm để chuyển hoá đạm. Bằng không gà không thể tiêu thụ lượng đạm trong hạt. Chỉ trộn hạt với viên ngay trước bữa ăn. Bây giờ bạn đã có khẩu phần căn bản.

Ngoài khẩu phần căn bản này, bạn có thể bổ sung thêm lòng trắng trứng luộc. Băm nhỏ một lòng trắng trứng luộc cho mỗi bốn đến năm con gà. Thức ăn này giúp duy trì độ ẩm bên trong cơ thể gà. Lòng trắng trứng luộc được cung cấp cho gà trong toàn bộ quá trình biệt dưỡng (từ ngày 1 đến 14).

Bên cạnh lòng trắng trứng, bổ sung thêm chất xơ, vitamin và khoáng chất vào thức ăn bằng cà chua, cải bắp hay xà lách băm nhỏ. Những loại rau này nên chiếm đến 20% lượng thức ăn trộn, trong khi 80% còn lại là khẩu phần căn bản cùng với lòng trắng trứng. Bây giờ chúng ta hãy tính theo tỷ lệ thay vì lượng thức ăn thực. Nếu chúng ta coi 1 muỗng trà tương đương với 20%, thì cần trộn 1 muỗng rau với 4 muỗng khẩu phần căn bản để có 100%. Đây là khẩu phần sau cùng mà bạn áp dụng từ ngày 1 đến 11.

Cung cấp sạn từ ngày 1 đến 9 trong quá trình biệt dưỡng. Sạn giúp gà tiêu hoá thức ăn và luyện mề. Chúng nằm trong mề cả tuần. Do đó, sạn cần được rút khỏi bữa ăn trước khi xuất trường 5 ngày để làm trống mề, cả thức ăn lẫn sạn.

Cho gà ăn đều đặn. Luôn cho ăn đúng giờ mỗi ngày. Tôi cho gà ăn vào 7 giờ sáng và 4 giờ chiều. Cho mỗi con gà ăn 2 muỗng thức ăn trộn như mô tả ở trên. Lượng này tương đương với 30 đến 40 gram thức ăn mỗi con. Vào ban ngày, gà phải tiêu hoá hết thức ăn trong bầu diều vào lúc 2-3 giờ trưa thì mới chứng tỏ hệ thống tiêu hoá hoạt động tốt. Nó chỉ cần từ 6 đến 7 giờ để tiêu hoá hết thức ăn. Nếu con nào mà bầu diều vẫn còn căng trước bữa ăn chiều thì hãy loại bỏ khỏi chương trình biệt dưỡng.

Tôi thích gà ăn ngấu nghiến và tiêu hóa nhanh. Điều này chứng tỏ hệ thống tiêu hoá của chúng thực sự tốt. Gà kén ăn hay bỏ mứa nhất định đang có vấn đề. Chúng cần được theo dõi và điều trị bệnh, và trả về chế độ tiền biệt dưỡng. Hãy theo dõi gà trong quá trình biệt dưỡng vào trước, trong và sau bữa ăn. Nếu có điều kiện, hãy theo dõi chúng cả ngày, mỗi ngày và thậm chí cả khi chúng ngủ.

Với chế độ ăn như thế này, chúng ta hy vọng gà sẽ giảm được 200 gram trọng lượng thừa tính từ khi bắt đầu biệt dưỡng. Gà sẽ giảm cân từ 10 đến 20 gram mỗi ngày và đạt trọng lượng tối ưu vào ngày thứ 11 của quá trình biệt dưỡng hay vào 3 ngày cuối cùng trước trận đấu. Nếu có con sút đến hơn 50 gram trong vòng 24 giờ thì nó nhất định bị bệnh hay quá căng thẳng trong giai đoạn này. Hãy đưa nó về giai đoạn tiền biệt dưỡng. Trong ba ngày trước trận đấu, chúng ta sẽ áp dụng kỹ thuật nạp carbohydrate (carbo-loading).

2. Kỹ thuật nạp carbohydrate

Carbohydrate là nguồn năng lượng chính của gà trong quá trình luyện tập. Tương tự như vận động viên điền kinh chuẩn bị thi đấu, gà chọi phải tích trữ đủ năng lượng để tranh hùng. Những ngày quan trọng nhất trong quá trình biệt dưỡng là ba ngày sau cùng trước khi xuất trường, gà chọi cần được nạp càng nhiều năng lượng càng tốt. Kỹ thuật này gọi là nạp carbohydrate (carbo-loading).

Nói một cách đơn giản, kỹ thuật này gia tăng hay “nạp” carbohydrate vào khẩu phần của gà chọi trong ba ngày sau cùng của quá trình biệt dưỡng như là một phần của công đoạn “ốp”.

Mục đích nhằm gia tăng năng lượng trao đổi (metabolizable energy, M.E.) ở gà chọi mà nó sẽ được sử dụng khi lâm trận. Điều này được thực hiện bằng cách gia tăng hàm lượng calo trong thức ăn của gà. Dựa trên tỷ lệ 16% đạm thô của khẩu phần căn bản mà chúng ta cung cấp từ ngày 1 đến ngày 11, chúng ta tăng dần tỷ lệ cacbohydrate lên 75 hay 80% vào ba ngày cuối. Tăng dần để hệ thống tiêu hoá của gà làm quen.

Với mỗi 100 gram khẩu phần căn bản, tăng thêm 10 gram bắp hay thức ăn tương đương vào ngày thứ 12, 20 gram vào ngày thứ 13 và 30 gram vào ngày thứ 14, như vậy vào ngày cuối cùng, tổng lượng bắp lên đến 80%. Do vậy, tỷ lệ đạm sẽ giảm trong khi tỷ lệ carbohydrate tăng lên. Thông thường, gà được cho hai muỗng thức ăn vào buổi sáng và buổi chiều.

Tại sao lại sử dụng bắp? Trước hết, khẩu phần bắp giúp chiến kê đá có “lực” hơn. Hãy so sánh gà được nuôi bằng bắp với gà không nuôi. Gà được ăn bắp sẽ linh động và cơ bắp hơn dẫu nặng ký hơn một chút, trong khi gà không được ăn bắp khi vô tay sẽ thấy gầy ốm hơn.

Bắp là lựa chọn của tôi khi nạp carbohydrate bởi bắp có hàm lượng carbohydrate (tức năng lượng trao đổi) cao hơn so với các loại thức ăn khác. Bảng dưới đây thể hiện thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn thông thường dùng để biệt dưỡng gà. Chúng ta có thể thấy hạt yến mạch (chà vỏ) có hàm lượng năng lượng trao đổi cao nhất 3400 kcal (kilo calo), kế đó là bắp 3366 kcal. Tuy nhiên, yến mạch chà vỏ cũng có hàm lượng chất béo cao. Điều này sẽ khiến gà tích mỡ hay “sapola”. Kinh nghiệm cũng cho thấy rằng gà ăn yến mạch chà vỏ sẽ ra phân rất xanh và nạp thiếu “lực”. Do vậy, tôi chuộng bắp vốn cũng có hàm lượng năng lượng trao đổi cao nhưng hàm lượng chất béo lại thấp. Năng lượng trao đổi này được tích trữ trong cơ thể gà trong ít nhất hai ngày trước khi chuyển hoá thành mỡ nếu không được dùng tới.

Trong ba ngày cuối trước trận đấu, vẫn ngâm hạt như bình thường. Độ ẩm của gà bị chi phối bởi nhiều yếu tố, cả tự thân lẫn môi trường. Bởi vậy, lượng nước uống được kiểm soát trong ba ngày cuối cùng của quá trình biệt dưỡng.

Dữ liệu được lấy từ: The Merck Veterinary Manual, Seventh Edition

3. Kiểm soát nước uống và độ ẩm

Thân thể chiến kê chứa tối thiểu 65% nước. Chỉ riêng điều này, chúng ta có thể thấy rằng nước thực sự là một yếu tố quan trọng trong quá trình biệt dưỡng gà chọi. Hãy tìm hiểu sâu hơn. Tại sao chúng ta phải quan tâm đến nước uống và độ ẩm trước tiên? Để biệt dưỡng đúng cách, chúng ta phải đạt được cái gọi là “đỉnh”, nghĩa là gà ở trạng thái “tới độ” hay theo thuật ngữ chuyên môn, gà có trọng lượng thấp nhất có thể, nhưng lại mạnh hay xung nhất. Chúng ta có thể tác động đến trạng thái này thông qua việc kiểm soát nước uống và độ ẩm một cách đúng đắn.

Nước uống thực sự tác động đến việc tập luyện gà chọi theo hai nghĩa: 1) duy trì những chức năng thông thường của cơ thể, và 2) điều hoà thân nhiệt. Về tiêu hoá, nước đóng vai trò dung môi đối với các hạt và viên, và trợ giúp việc lên men. Thực phẩm mà gà ăn vào được chứa ở diều, nơi nó lên men. Tại đây, acid, đạm và carbohydrate được tăng cường hơn nữa trước khi chúng được chuyển sang mề để tiêu hoá. Do vậy, mỗi khi gà bị ké diều, chúng ta phải tìm mọi cách để làm sạch bầu diều vốn chứa đầy thức ăn lên men, bằng không gà có thể bị chết vì ngộ độc. Nếu không được cung cấp đủ nước, việc tiêu hoá và lên men thức ăn sẽ không thuận lợi và có thể đe doạ đến tính mạng chiến kê yêu quý của bạn. Bởi vậy, hãy theo dõi chế độ ăn và uống của gà, đặc biệt là thời gian mà chúng đang tập luyện.

Từ ngày 1 đến 11 của quá trình biệt dưỡng, nước uống luôn được cung cấp cho gà ngay sau bữa ăn. Độ ẩm cũng được đảm bảo bằng cách ngâm hạt qua đêm. Tuy nhiên, vào ngày thứ 12, trong vai trò sư kê bạn phải cảm nhận được điều mà tôi gọi là “dấu hiệu bệnh lý” và thật cẩn trọng trọng việc đánh giá tình trạng của mỗi chiến kê. Mỗi khi quan sát, bạn hãy tự đặt những câu hỏi sau đây: Lượng nước mà gà uống vào ban ngày? Có một cách để biết là hãy cung cấp một lượng nước nhất định vào buổi sáng kể từ ngày đầu tiên. Vào ban đêm, lấy lượng nước còn lại trong máng đem đo bằng lọ chia vạch. Đến ngày thứ 10, bạn có thể ít nhiều đoán được lượng nước mà gà sẽ uống trong ngày. Vào ngày thứ 12 của quá trình biệt dưỡng, theo dõi lượng nước mà gà uống. Gà có ăn hết lượng thức ăn bình thường? Nó phản ứng với việc nạp carbohydrate như thế nào?

Vào ngày thứ 12, chúng ta bắt đầu điều chỉnh lượng carbohydrate trong thức ăn, nhớ không? Nếu vào thời điểm này gà có độ ẩm thích hợp, nó sẽ ăn lượng thức ăn tương tự như trước đây. Phân gà như thế nào? Nó lỏng, khô hay ẩm?

Chúng ta đánh giá độ ẩm trong cơ thể gà thông qua phân. Nghĩa là, với phân ẩm, phân không bét mà có hình dạng thích hợp. Thử đạp nhẹ lên và nó sẽ dính vào giày của bạn, và đấy là độ ẩm thích hợp. Cũng quan sát gà khi chúng ỉa. Nếu ỉa khó khăn, gà quá khô. Nếu gà quá khô thì sẽ không chém tốt. Nếu gà quá ướt thì nó sẽ chậm và chém không chính xác. Còn thời tiết như thế nào? Trời râm, có nắng, ấm áp, có mưa hay nóng nực?

Vào những tháng mùa hè, gà chắc chắn sẽ uống nhiều hơn để bù mất nước và đồng thời điều hoà thân nhiệt. Một con gà bị sốt sẽ uống nước thường xuyên hơn so với con gà có nhiệt độ cơ thể thích hợp. Bởi vậy nên phân của nó sẽ rất lỏng (watery).

Gió cũng làm khô gà. Dù ở nhiệt độ bình thường nhưng mất nước qua da và lông bị tác động mạnh bởi gió hay luồng khí. Bạn có thể chưa phát hiện ra nhưng gà có thể bị quá khô, nên để yên chúng trong chuồng một khi gió quá lạnh.

Trong những tháng mùa mưa, gà thường nhiễm bệnh. Những bệnh như CRD và Coryza khiến gà bị sốt. Ban đầu, gà có thể chưa thể hiện dấu hiệu bệnh lý nhưng bạn sẽ thấy chúng uống nước thường xuyên hơn không chỉ để bù mất nước mà còn để điều hoà thân nhiệt. Chúng bị sốt. Hãy loại chúng khỏi chương trình biệt dưỡng.

Tầm thân nhiệt của gà trong giai đoạn biệt dưỡng từ 38.5 đến 39.5 độ C. Đây là thân nhiệt bình thường của gà. Hãy dùng nhiệt kế (loại nhét hậu môn) để đo thân nhiệt gà. Sau cùng, cảm giác khi bồng gà như thế nào? Đây là điều mà không phương tiện khoa học hay y học nào có thể đo lường được. Bạn phải có cảm nhận về một con gà được biệt dưỡng thích hợp. Các sư kê Mỹ gọi điều này là “kê cảm” (corky), có lẽ ám chỉ đến cảm nhận phảng phất khi bạn bồng gà trong tay.

Khi bồng, một số con đầy đặn, nặng, và cơ bắp căng cứng. Một số con mảnh mai, nhẹ và lỏng, trong khi có con lại mảnh mai, nặng và căng cứng. Chúng ta tìm kiếm những con đầy đặn nhưng nhẹ và hơi lỏng. Nếu cảm thấy cứng, gà có lẽ bị căng cơ. Chúng ta không muốn điều này xảy ra vào ngày xuất trường. Gà căng cơ có lẽ do cơ bắp vẫn còn mệt mỏi. Một khi nói “lỏng” chúng ta ám chỉ cơ bắp thả lỏng. Cơ bắp đúng độ phải vừa căng vừa lỏng. Luôn kiểm tra trọng lượng qua sổ tay. Gà của bạn phải có trọng lượng tối ưu. Vào ngày thứ 12, chúng ta phải thấy cơ bắp gà thả lỏng bởi vì trong hai ngày kế tiếp chúng ta sẽ ốp để gà căng và khô hơn.

Nếu chiến kê của bạn được biệt dưỡng một cách thích hợp, chúng sẽ uống ít nước trong thời gian còn lại. Trường hợp vào ngày thứ 12, bạn phát hiện gà đi phân lỏng hay quá khô, thì bạn vẫn còn ngày thứ 13 và 14 để điều chỉnh.

4. Ốp và xử lý sự cố

Ngày xuất trường là ngày quan trọng nhất. Vào ngày này, chiến kê phải tới độ trước khi lâm trận vài giờ. Chúng ta thực hiện điều này thông qua một quá trình gọi là ốp.

Ốp là quá trình mà chiến kê đạt trọng lượng thấp nhất, nhưng thể lực vẫn tốt nhất. Gà đạt đến trạng thái này được gọi là “tới độ” hay “đủ pin”. Chiến kê đạt đến điểm này phải có lông mướt, mặt đỏ au, phân ẩm, mắt long lanh, cảnh giác và thư thái, và nhiệt độ cơ thể bình thường.

Nhưng trước khi ốp gà, tôi nghĩ cần giải thích một chút về cách thức tham gia một giải derby. Giải thường được tổ chức từ tối cho đến sáng sớm hôm sau. Trong các giải lớn, trọng lượng đăng ký được thực hiện trước đó một ngày và lịch đá được thông báo vào buổi chiều. Trong các giải nhỏ, trọng lượng đăng ký được thông báo vào buổi sáng của ngày thi đấu.

Buổi sáng, trước khi đăng ký trọng lượng, trước cả khi cho ăn, dưỡng gà trong lồng kẽm và quan sát phân của chúng. Đợi cho đến khi gà thải hết phân rồi mới đem cân. Từ trọng lượng của mỗi con, trừ đi từ 30-50 gram và đăng ký với trường gà như trọng lượng thi đấu. Nếu trọng lượng bằng hay vượt quá trọng lượng đăng ký 40 gram thì sẽ bị phạt. Gà sẽ sút ký trong quá trình ốp và 30 gram ít nhiều là giới hạn an toàn. Chẳng hạn, nếu trọng lượng gà là 2.1 kg, trừ di 30 g, thì trọng lượng đăng ký là 2.070 kg, trọng lượng phạt là 2.110 kg trở lên. Vào thời điểm thi đấu, gà của bạn nhất định sẽ nhẹ hơn 2.1 kg nhờ ốp. Thậm chí nếu gà của bạn không sút cân trong quá trình ốp, thì trọng lượng vẫn nằm trong giới hạn cho phép. Nhớ điều chỉnh cân của bạn giống như cân của trường gà, nơi bạn thi đấu.

Thời điểm thi đấu cũng quan trọng. Gà tiêu thụ khẩu phần ăn bình thường trong vòng từ 6-8 giờ và hấp thu dưỡng chất trong từ 4-6 giờ nữa. Vì vậy, hãy cố nắm lịch đấu để lên sẵn lịch trình cho gà ăn. Nếu bạn đấu vào 6 giờ tối, đếm ngược từ 6-8 giờ (khoảng 12 giờ trưa) và cho gà ăn 1/2 khẩu phần ốp bình thường. Vào 6 giờ tối, gà phải sạch bụng và “tới độ”.

Khi ốp, tốt nhất nên cho ăn hơi thiếu còn hơn là hơi thừa. Kiểm tra bầu diều và không thấy còn thức ăn bên trong. Nếu phát hiện thấy còn chút thức ăn, hãy cho ăn ít hơn 1/2 khẩu phần bình thường. Diều trống không có nghĩa là mề và ruột cũng trống. Để chắc chắn không còn chút thức ăn nào trong bụng gà, hãy cho ăn ít hơn.

Bây giờ nói về phần tinh tuý của ốp, độ ẩm. Khi vừa đến trường gà, để gà nghỉ ngơi trong tối thiểu 30 phút trước khi cho uống từ 3-5 ngụm nước. Điều này sẽ kích thích nhu động ruột. Như đã giải thích ở trên, độ ẩm có thể được đo lường bằng cách quan sát phân gà. Có bốn trạng thái hay chu kỳ biến đổi của phân khi chúng ta tiến hành công đoạn ốp. Trước hết là dạng phân ẩm và chắc mà bạn thấy vào buổi sáng ngay trước khi cân gà và sau bữa ăn cuối. Sau đó, khi gà thải hết chất xơ và những thành phần khác trong thức ăn, bạn sẽ thấy cái gọi là “phân nâu” (cecal dropping). Đây là loại phân bốc mùi, màu nâu mà gà luôn thải ra trong quá trình biệt dưỡng. Nhưng lúc này, phân nâu là dấu hiệu cho thấy ruột trống. Bạn cũng sẽ thấy một số phân xanh lỏng với chóp trắng tiếp tục ra nhưng ngày càng nhỏ hơn. Khi gà hoàn toàn trống (từ diều cho đến ruột) thì loại phân mà tôi gọi là “phân sáp” (moisture dropping) sẽ xuất hiện. Chúng giống như nhớt trắng đường kính khoảng 5 cm. Chúng càng nhỏ đi khi gần tới độ. Gà được coi là tới độ khi kích thước phân sáp nhỏ như đồng 25 xu và hơi dính.

Một hiện tượng khác thường mà tôi thấy ở chiến kê tới độ là hội chứng mà tôi gọi là “lắc mặt”. Khi tới độ, gà bắt đầu lắc mặt (giống như hiện tượng co giật cơ mặt ở người). Hiện tượng này phải xuất hiện trong khi dưỡng gà trước giờ lâm trận. Rất khó mô tả hiện tượng này bằng lời, nhưng một khi bạn thấy, thì đó là dấu hiệu chiến kê đã tới độ. Một dấu hiệu khác nữa là con ngươi bắt đầu nở to. Nhưng đôi khi, dấu hiệu này không đáng tin cậy.

Đấy là những dấu hiệu cho thấy gà đang ở trạng thái tới độ. Cẩn thận đừng để gà “qua độ” khiến chúng bị “xuống”.

Hiện tượng “xuống độ” đến ngay sau đó. Điều này có nghĩa gà đã xài hết năng lượng và dưỡng chất trong cơ thể, và bắt đầu thấy đói. Một số sư kê quả quyết rằng “xuống độ” là vì chơi thuốc quá liều, táo bón hay chùng cơ. Gà chơi thuốc quá liều thường bị đờ đẫn. Gà táo bón lại không xung bởi nhu động ruột kém và gà chùng cơ (nhốt tủ quá lâu) thường chậm và lơ đễnh. Nhưng tôi nghĩ, nguyên nhân chủ yếu của triệu chứng “xuống độ” là đói. Bạn có thể nói rằng việc làm cho gà đói là điều mà chúng ta thực hiện khi ốp. Vâng, phần nào là vậy bởi vì chúng ta rút bớt thức ăn, nhưng nên nhớ rằng cơ thể vẫn tiếp tục hấp thu dưỡng chất thậm chí cả sau khi hạt và những thứ khác đã được tiêu hoá hết. Một khi dưỡng chất được tiêu thụ hết, cơn đói xuất hiện vì thiếu năng lượng và dưỡng chất cần thiết khiến tình thế trở nên rất nghiêm trọng và tai hại. Trong ốp gà, chúng ta muốn gà trống rỗng nhưng lại không bị đói. Do vậy, khi dưỡng gà trước trận đấu, một con gà bồn chồn, kích động, thèm ăn, là con đã “xuống độ”. Tâm trí nó chỉ tập trung vào thức ăn, chứ không phải là trận đấu.

Để kéo dài thời gian “tới độ”, bạn chỉ cần cho gà ăn vài hạt hay vụn bắp hoặc 1/4 muỗng trà thực phẩm ốp vài giờ trước khi dưỡng. Để thúc gà mau tới độ, cho ăn ít đi vào bữa cuối. Không thể duy trì mãi tình trạng tới độ một khi đã sắp đặt. Nó tiến triển, bởi vậy hãy sắp đặt để trận đấu diễn ra trong vòng từ 4-6 giờ trùng với chu kỳ tới độ.

Để tránh hiện tượng “xuống độ”, phải biết dùng một lượng thuốc đúng và chính xác. Tránh táo bón và chùng cơ bằng cách thả dưỡng gà thường xuyên và kiểm tra nhiệt độ phòng xem có quá lạnh không. Kiểm tra gà xem có dấu hiệu sốt không. Đây là dấu hiệu chắc chắn gà bị bệnh và xuống độ. Nếu kiểm tra phân thấy quá ẩm, hãy cho ăn một ít viên hoặc bắp vụn để hút bớt chất ẩm trong cơ thể. Tuy nhiên, gà sút cân 70 gram hay hơn trong ngày xuất trường không được phép đá. Chắc chắn nó bị bệnh. Nếu nó phục hồi cân nặng khi ốp (điều tôi nghĩ chẳng bao giờ xảy ra) thì còn chấp nhận được một khi bụng trống.

5. Luyện tập trong giai đoạn biệt dưỡng – Phương pháp xoay tua

Có cả ngàn lẻ một cách luyện gà. Mỗi sư kê đều có phương pháp và quy trình huấn luyện khác nhau. Thời còn đá gà, tôi học hỏi những thầy gà nổi danh ở trong và ngoài nước, những người mà tôi gặp gỡ và có quan hệ. Việc gặp gỡ những người như James Pope và Buddy Mann là vô cùng hữu ích cho việc luyện gà của tôi. Với James Pope, xổ là lối luyện tập tốt nhất đối với chiến kê; với Buddy Mann, đó là sự kết hợp những bài tập tự nhiên với bàn tập. Từ kinh nghiệm của họ và cá nhân tôi, tôi xin chia sẻ những điều mà tôi biết về cách luyện gà trong quá trình biệt dưỡng.

Kể từ lần xổ gà đầu tiên, tôi nhận thấy mỗi lần thi đấu, gà thở gấp; chúng đặc biệt thở gấp hơn trong những tháng mùa hè; chúng cũng thở gấp khi độ ẩm cơ thể quá cao. Do đó, mối quan tâm chính của các sư kê trong quá trình biệt dưỡng là phát triển cơ chế chịu đựng (coping mechanism) nhằm hạn chế thở gấp. Thở gấp là dấu hiệu cho thấy cơ thể bị áp lực vì phải gia tăng nhịp tim để cung cấp thêm ô-xy cho các cơ quan. Hô hấp là phản ứng tự nhiên. Luyện tập giúp cải thiện hơn nữa cơ chế chịu đựng.

Trước hết, tôi xin nói rõ rằng việc huấn luyện gà chọi thực sự bắt đầu từ khi mới nở. Chế độ dinh dưỡng và chăm sóc thích hợp, hầu như là nền tảng của việc tập luyện. Bạn không thể làm được gì nhiều trong 14 hay 21 ngày biệt dưỡng, ngoài việc giữ cho gà tập trung, gia tăng độ bền và săn (tone) của cơ bắp. Năng lực bắt nguồn từ bổn bang, và cơ bắp được phát triển trong giai đoạn chăm sóc và tiền biệt dưỡng. Tập luyện sẽ giúp cải thiện sự dẻo dai, sức mạnh, độ săn, hình dáng và sức chịu đựng của hệ tim mạch. Không gì có thể cải thiện thể chất, khả năng tuần hoàn và hô hấp của một gà bệnh. Vì vậy, hãy bắt đầu từ khi chúng còn non và chăm sóc đúng cách trong quá trình tăng trưởng.

Trong quá trình biệt dưỡng, sư kê nhắm đến việc giữ cho chiến kê luôn tập trung bởi vì đây chính xác là điều mà chúng cần đến khi lâm trận. Sự linh hoạt, dẻo dai và phản ứng nhanh nhẹn là vốn liếng trong những trận đấu, đôi khi chỉ kéo dài vài giây. Bạn phải tránh cái gọi là “hội chứng sức ỳ” khi gà ủ rũ, trở nên đờ đẫn và buồn chán.

Mục đích khác của việc luyện tập trong quá trình biệt dưỡng là luyện cơ bắp chắc khoẻ. Luyện cơ bắp khác với phát triển cơ bắp bởi điều sau có được trong quá trình tăng trưởng và tiền biệt dưỡng, trong khi luyện cơ bắp chỉ đơn giản là làm việc trên những thứ đã có sẵn. Với cơ bắp được tập luyện, chiến kê thư thái, không căng cơ và không bao giờ chùng cơ (coop-stale).

Có vô số quan điểm liên quan đến vấn đề luyện gà. Hầu hết các sư kê kỳ cựu trước đây, làm theo “hướng dẫn” hay bài bản luyện tập, nghĩa là sư kê theo dõi và thực hiện việc luyện gà. Điều này đòi hỏi hàng loạt những bài tập, chẳng hạn như xổ kéo (tailing), bay, bật, xoay… Những người khác lại làm theo cách “tự nhiên” tức con người không can thiệp nhiều đến việc luyện tập của chiến kê. Đây là phương pháp xoay tua và áp dụng lồng bay và lồng bới vào bài tập của gà. Cả hai phương pháp đều có những ưu và nhược điểm riêng và tôi thấy việc kết hợp cả hai là cần thiết trong khi luyện gà.

Phương pháp xoay tua (rotation method). Xoay tua ở đây đơn giản là chuyển gà từ dây cột vào lồng bay, qua lồng bới, vào tủ dưỡng (resting coop), rồi trở về dây cột hay tee-pee. Với phương pháp này, sư kê phải có lồng bay dài 4 m, rộng 1m2 và cao 4 m. Lồng rộng hơn thì tốt hơn. Phải có chạc điều chỉnh với độ cao 1m2, 1m5 và 1m7 so với mặt đất. Nền là hỗn hợp phân ngựa, cát sông và đất vườn. Nền phải xốp để gà bay nhảy và kích thích chúng đào bới.

Lồng bới (scratch box). Mặt khác, lồng bới được làm bằng tre với kích thước dài 1 m, rộng 1 m và cao 1 m. Lồng phải đủ cao để khi vỗ cánh, cánh gà không chạm lồng. Lồng phải có sàn gỗ để gà có thể vươn chân và cánh hết cỡ về phía sau khi bới. Chất liệu để gà bới có thể là lõi bắp vụn, lá chuối, hay cỏ khô. Lồng dùng vào mục đích cào bới chứ không phải tắm cát, vì vậy không bỏ đất cát vào đó.

Tee-pee. Tee-pee hay chỗ cột dây là nơi ăn ngủ của gà, nơi chúng phơi sương và tắm nắng vào sáng sớm. Vị trí của tee-pee phải về hướng đông nơi hứng nắng sáng.

Tủ dưỡng (coop). Loại tủ đặc biệt dùng khi xoay tua. Đây là tủ nhỏ, rộng 6 tấc, dài 6 tấc và cao 6 tấc. Gà được cho nghỉ ở đây vào ban ngày – một loại phòng nghỉ trưa.

Việc xoay tua được thực hiện bằng cách chuyển gà từ lồng này sang lồng kia sau một thời gian. Khi chuyển lồng, luôn rửa mặt và chân gà trước khi thả vào lồng mới. Sử dụng bình xịt với thuốc Vet Rx. Điều này giúp nở phổi và tăng cường hô hấp. Trong lồng bới, khuyến khích việc cào bới bằng cách đổ vào 1/2 muỗng trà yến mạch chà vỏ mỗi lồng. Vào ngày đầu tiên, bố trí vật liệu bới và để gà cào trong vòng 5 phút. Lần thứ hai, hãy tăng vật liệu và thời gian bới lên 10 phút. Gia tăng vật liệu và thời gian bới cho đến ngày thứ 7, khi lớp vật liệu dày đến 15 cm và thời gian bới lên đến 30 phút. Từ ngày thứ 8, giảm dần lượng vật liệu và thời gian bới cho đến khi đạt mức zero vào ngày thứ 12 của quá trình biệt dưỡng.

Có những loại vật liệu bới khác nhau tuỳ theo bài tập nặng hay nhẹ. Tôi dùng lá chuối cho bài tập nhẹ, chỉ áp dụng trong những tháng hè, và sử dụng lõi bắp vụn hay lá mía cho bài tập nặng trong những tháng lạnh. Chính bạn là người quyết định cho gà tập nhẹ hay nặng và điều chỉnh khi cần.

Thực hiện bài tập bới khi gà đói bằng không bạn sẽ không đạt được kết quả như ý. Tôi thả gà vào lồng bới khoảng 4 giờ sáng khi chúng bắt đầu thấy đói. Sau khi bới, tôi bồng gà, rửa mặt và chân, rồi trả về tee-pee để phơi sương và tắm nắng.

Vào 7 giờ sáng, tôi cho gà ăn theo khẩu phần biệt dưỡng. Bạn có thể tham khảo khẩu phần thức ăn ở phần 1.

Vào 9 giờ sáng, bắt gà, rửa mặt và chân, rồi thả vào lồng bay cho đến trưa.

Vào 12 giờ trưa, bắt gà thả vào tủ dưỡng. Thời gian nghỉ dưỡng không quá 2 giờ để tránh chùng cơ.

Vào 2 giờ chiều, bắt một cặp gà đem xổ kéo (salida) hay tập kéo (kahig) và cho phép chúng nạp vài cú trong khi vẫn nắm đuôi. Sau khi xổ kéo, đưa về chỗ cột dây trong khi chờ bữa ăn. Vào ban đêm, chúng tôi luyện gà trên bàn tập (table workout).

Ghi chú:

Bổ sung một số lưu ý của tác giả về quá trình biệt dưỡng:

* Hạt ngũ cốc chứa những dòng vi khuẩn nhất định, tùy thuộc vào cách chúng được lưu trữ, sấy hay xử lý. Độ ẩm của từng loại hạt cũng phụ thuộc vào nguồn gốc xuất xứ của chúng… khí hậu… và cách thức xử lý (sấy khô). Nếu bạn mua hạt vào những thời điểm khác nhau trong quá trình biệt dưỡng thì chất lượng hạt sẽ không đồng đều. Điều này sẽ ảnh hưởng đến hệ thống tiêu hóa của chiến kê và tiếp theo là khả năng đá của chúng. Với những sư kê cực kỳ cẩn trọng, điều tôi muốn nói là bạn không nên thay đổi chủng loại vi khuẩn trong hạt ngay trong quá trình biệt dưỡng, đặc biệt vào giai đoạn ốp. Chẳng hạn, bạn đang biệt dưỡng đến ngày thứ 18, rồi bạn lại đưa lượng bắp mới vào khẩu phần, thì hệ thống tiêu hóa sẽ bị áp lực bởi vì dòng vi khuẩn mới sẽ gây xáo trộn quần thể vi sinh vật trong ruột. Bắp mới sẽ khiến phân có màu xanh (chân đá thiếu lực), điều mà bạn không muốn xảy ra vào ngày thi đấu. Tóm lại, nên chuẩn bị đầy đủ thức ăn trước khi bắt đầu biệt dưỡng.

* Bắp vụn hay bắp giã (cracked corn) dùng trong công đoạn ốp thực chất cũng là loại bắp dùng trong quá trình biệt dưỡng. Bởi vậy thành phần vi khuẩn và độ ẩm không có gì thay đổi.

*Hạt càng trữ lâu và cũ thì khả năng mất chất càng cao.

* Hệ thống tiêu hóa của chiến kê không thích nghi với thức ăn có chất xơ. Nếu bạn cho ăn yến mạch khô, có khả năng bạn sẽ phát hiện thấy những phần chưa tiêu hóa hết trong phân. Cách tốt nhất là ngâm yến mạch trước khi cho ăn. Trên thực tế, bạn phải ngâm cho đến khi chúng hơi chua (trong khoảng 3 ngày) để dễ tiêu hóa. Tuy nhiên, nếu để quá đến 4 ngày thì chúng sẽ bị ôi và bốc mùi khó chịu. Để tránh điều này, hãy ngâm một lượng vừa ăn và trữ trong tủ lạnh, thêm một muỗng canh mật ong. Điều này sẽ giúp làm chậm quá trình kên men. Lưu ý là không ngâm quá 3 ngày. Ngâm quá lâu sẽ khiến hạt lên men, gà ăn vào sẽ bị tiêu chảy.

【#9】Kỹ Thuật Trồng Bắp Cải Tại Nhà Hiệu Quả

Ảnh: Ruộng bắp cải sắp thu hoạch (nguồn: thiennhien.net)

———————

1. Thời vụ trồng:

———————

  Cải bắp là cây ôn đới nên có thể trồng vào 3 vụ trong năm:

– Vụ sớm: gieo cuối tháng tháng 7 đến đầu tháng 8

– Vụ chính: gieo cuối tháng 9 đến đầu tháng 10

– Vụ muộn: gieo tháng 11 đến giữa tháng 12

——————————-

2. Gieo hạt, ươm cây con:

——————————-

– Làm đất kỹ, bón lót 3-5kg phân chuồng hoai mục + 1kg lân cho 1 thùng xốp 40 lít.

– Hạt giống nên ngâm vào nước 2 sôi 3 lạnh (khoảng 40 độ C) trong 3 giờ.

– Vớt hạt ra, rửa sạch, để ráo nước.

– Cho hạt vào miếng vải cotton nhúng nước, vắt kiệt rồi gói lại.

– Cho miếng vải bọc hạt vào túi nilon, buộc kín rồi cất vào tủ lạnh, ngăn mát (khoảng 15-23 độ C).

– Sau 2-7 ngày, hạt nẩy mầm, dem gieo.

– Gieo xong, phủ lên một lớp rạ dày 1-2cm, sau đó dùng ô doa tưới đẫm nước.

– Độ sâu gieo hạt thích hợp: 2 -3 cm.

– Trong 3-5 ngày sau gieo, tưới 1-2 lần/1 ngày, khi hạt nhô lên khỏi mặt đất, ngừng tưới 1-2 ngày, sau đó cứ 2 ngày tưới 1 lần.

– Nhổ tỉa cây bệnh, cây không đúng giống, để mật độ 3-4cm cây cứng cáp. Sau mỗi lần nhổ tỉa kết hợp tưới thúc bằng phân chuồng + nước tiểu ngâm ủ sẵn, pha loãng. Không tưới phân đạm ure.

– Tiêu chuẩn cây giống tốt: Phiến lá tròn, đốt sít, mập, lùn. Cây có từ 4-6 lá thật thì nhổ trồng là tốt nhất.

————–

3. Làm đất:

————–

– Cải là cây ưa đất thịt nhẹ, mùn, độ phì cao nên trước khi trồng nên chuẩn bị đất thịt nhẹ hoặc đất phù sa có độ pH ổn định, trong khoảng 5,6 – 6,5, hàm lượng hữu cơ khoảng 1,5%

– Làm đất kỹ: trộn vôi bột với đất, rồi phơi ải đất ít nhất từ 5 – 7 ngày trước khi trồng.

– Nếu trồng vào thùng xốp thì trộn khoảng 1 vốc tay vôi bột. Nếu trồng ở vườn, thì lên liếp rộng 1-1,2m cao 20-30 cm, vét đất ở rãnh cho lên liếp. Vào mùa mưa (vụ sớm) thì cần lên liếp dạng mai rùa, vụ chính và vụ muộn chỉ cần lên liếp bằng phẳng là được.

– Mật độ trồng:

+ Trồng 2 cây/thùng xốp 40 – 60lít.

+ Nếu trồng trong vườn, ruộng thì mật độ nên là: cây cách cây 30-40cm, hàng cách hàng 50cm (vụ sớm), vụ chính: cây cách cây 50 cm, hàng cách hàng 50 cm để đạt hiệu quả cao nhất.

– Nên sử dụng màng phủ nông nghiệp (polietylen) để phủ đất hạn chế tối đa cỏ dại. Dùng đất chèn mép luống và đục lỗ trồng.

—————-

4. Chăm sóc:

4.1. Bón phân:

——————

– Chỉ sử dụng phân chuồng ủ mục, tuyệt đối không dùng phân tươi. Lượng phân chuồng cho 1 thùng xốp là từ 3-6kg; 800 – 1000kg/sào Bắc Bộ, dùng bón lót.

– Sử dụng phân vô cơ để bón thúc theo liều lượng sau:1: ½ : ¼ (lân:kali:đạm).

+ Nếu trồng trong thùng xốp thì cứ 1 thùng xốp, sử dụng 1 chén uống nước lân trộn với ½ chén kali trộn tiếp với ¼ chén đạm (ure) thành hỗn hợp A. Pha hỗn hợp này với bình 10-15 lít, tưới cho cây vào buổi chiều mát.

+ Nếu trồng trong vườn, có thể sử dụng lượng phân bón cho 1 sào Bắc Bộ: 40-50 kgN; nếu sử dụng lân hữu cơ vi sinh thì lượng bón cần thiết là: 20 kg P2O5 (100 kg supe lân); lượng kali cần thiết là: 30-50 kg/sào Bắc Bộ.

———————————-

(*) Bón thúc làm 3 thời kỳ:

———————————-

– Thời kỳ cây hồi xanh: bón nốt lượng kali còn lại +1/3 lượng đạm còn lại.

Cách bón: bón gốc cây kết hợp xới vun

Số đạm còn lại chia đôi, hoà với nước tưới gốc vào 2 thời kỳ :

– Thời kỳ trải lá bàng : 30-35 ngày sau khi trồng

– Thời kỳ cuốn bắp : 45-50 ngày sau trồng.

– Ngoài biện pháp bón vào đất, có thể phun qua lá các dung dịch dinh dưỡng đa lượng, trung lượng, vi lượng theo hướng dẫn sử dụng của hãng sản xuất.

——————-

4.2. Tưới nước:

——————-

– Tuyệt đối không được dùng nguồn nước thải, nước ao tù chưa được xử lý để tưới. Có thể dùng nước giếng khoan, đã được xử lý, tốt nhất là dùng nước thuỷ cục (n

ước sạch nhà máy).

– Sau khi trồng phải tưới nước ngay, ngày tưới 2 lần vào sáng sớm và chiều mát cho đến khi cây hồi xanh, sau đó 2-3 ngày tưới 1 lần;

– Các đợt bón thúc đều phải kết hợp làm cỏ, xới xáo, vun gốc, tưới nước;

– Khi cây trải lá bàng có thể tưới ngập rãnh, sau đó phải tháo nước ngay tránh ngập úng.

—————————–

5. Phòng trừ sâu, bệnh:

—————————–

– Nếu trồng diện tích hạn hẹp, dùng cho gia đình thì không nên dùng thuốc bảo vệ thực vật hoặc nếu bắt buộc dùng do sâu quá nhiều thì chỉ nên dùng các thuốc có thành phần thảo mộc, thuốc sinh học như dầu khoáng đầu trâu Biohopper hoặc SK enspray 99 EC. Nếu các thuốc trên vẫnkhông có tác dụng thì buộc phải dùng thuốc hoá học nhưng nên lưu ý các hướng dẫn sử dụng ở vỏ bao bì, đặc biệt là nồng độ và thời gian cách ly. Áp dụng nguyên tắc 4 đúng trong việc sử dụng thuốc trừ sâu hoá học: đúng thuốc, đúng nồng độ và liều lượng, đúng cách và đúng lúc.

————–

5.1. Sâu hại:

————–

– Cải bắp thuộc họ rau thập tự nên tất cả các loại sâu hại có trên rau họ thập tự đều có ảnh hưởng đến cải bắp, trong đó có các loại sâu hại chính:

+ Sâu tơ (tên khoa học: Plutella xylostella) là sâu gây hại nguy hiểm nhất. Chúng phát sinh và gây hại liên tục từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau, đặc biệt từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Sâu rất nhanh quen thuốc nên khả năng kháng thuốc cao.

+ Các loại sâu khác như: Sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), sâu khoang (Spodoptera liture), rệp (Aphis sp.) thường phòng trừ kết hợp với sâu tơ. Nếu chỉ riêng có rệp hại nặng, thì dùng thuốc Sherpa 20EC, Sumicidin 10EC, Trebon 10EC, Suprathion và Pegasus.

————————————————–

(*) Biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM):

————————————————–

– Phải xử lý cây giống trước khi trồng bằng cách nhúng từng cây con vào dung dịch thuốc Sherpa 20EC nồng độ 0,1% hoặc Regent 800 WG pha nồng độ 1g/10 lít nước, trong 5-10 giây rồi vớt ra để khô nước mới đem trồng;

– Khi cây lớn phải sử dụng luân phiên giữa các nhóm thuốc: Thuốc sinh học (BT, Delfin WP (32 BIU), Dipel 3,2WP, Aztron 700 DMBU, Xentary 35 WDG,…), thuốc hóa học (Sherpa 20EC, Atabron 5 EC, Regent 800WG, Pegasus 500 SC,…) và thảo mộc (HCĐ 95 BTN, Rotenone, Neembon A-EC Nimbecidin 0,03EC,…). Nồng độ và lượng nước phải pha theo hướng dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.

– Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch ít nhất 10 ngày. Trong thời gian này, nếu sâu còn gây hại nặng, thì chỉ dùng nhóm thuốc sinh học hoặc thảo mộc.

– Trồng luân canh giữa rau cải bắp với các họ rau khác: đậu, cà. Trên cùng một chân đất, có thể trồng xen canh rau họ thập tự với cà chua để hạn chế gây hại của sâu tơ (Cà chua có mùi mà sâu không ưa). Cứ 2 luống cải bắp lại trồng 1 luống cà chua.

—————–

5.2. Bệnh hại: 

—————–

– Một số bệnh thường gặp:

+ Bệnh thối nhũn do vi khuẩn (Erwinia carotovora sp.)

+ Bệnh thối do nấm (Sclerotinia sclerotium)

+ Bệnh đốm lá (Cereospora sp.).

– Để phòng trừ, cần tránh ruộng quá ẩm, úng kéo dài, thường xuyên làm vệ sinh, làm cỏ, thu gom các lá già,… làm cho ruộng sạch, thông thoáng.

– Khi cần có thể dùng các thuốc:

+ Trừ bệnh thối nhũn: Zineb Bul 80WP, Macozeb 80WP, Ridomil MZ 72 WP, Anvil 5SC, Aliette 80WP, Curzate MB 72WP;

+ Trừ bệnh đốm lá, dùng thuốc: Score 250EC, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Antracol 70WP.

+ Khi sử dụng phải theo đúng hướng dẫn bao bì của từng loại thuốc, thời gian cách ly không dưới 10 ngày.

—————–

6. Thu hoạch:

—————–

– Thu hoạch khi bắp cải cuộn chặt, loại bỏ lá gốc, lá bị bệnh, không ngâm nước, không làm giập nát.

————————————————————————————

(*) Đọc thêm về quy tắc 4 đúng trong sử dụng thuốc bảo vệ thực vật:

————————————————————————————

   Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) để bảo vệ cây trồng, bảo vệ mùa màng là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong hệ thống các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp cho cây trồng. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất của người dân, hiện tượng lợi bất cập hại vẫn còn thường xuyên xẩy ra, gây ảnh hưởng xấu đến năng suất, sản lượng, thu nhập, bản thân, xã hội, môi trường…Vì vậy để nâng cao hiệu quả của công tác sử dụng thuốc BVTV để phòng và trị sâu bệnh cho cây trồng, chúng tôi xin giới thiệu cùng bà con về nguyên tắc 4 đúng như sau:

Trong hướng dẫn sử dụng thuốc BVTV ngành BVTV thường hướng dẫn tuyên truyền nông dân phải áp dụng nguyên tắc 4 đúng gồm : Đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ liều lượng và đúng cách.

1. Nguyên tắc sử dụng đúng thuốc:

   Khi quyết định sử dụng thuốc BVTV cần phải biết rõ loài dịch hại cần tham khảo cán bộ chuyên môn BVTV hoặc ban nông nghiệp tại địa phương. Ưu tiên lựa chọn sử dụng các loại thuốc có tác động chọn lọc, có hiệu lực cao, thời gian cách ly ngắn và ít độc đối với sinh vật có ích, động vật máu nóng. Cần tìm hiểu kỹ xem loại thuốc định mua có an toàn với cây trồng sẽ được phun hay không đặc biệt chú ý khi mua và sử dụng thuốc trừ cỏ

   Thay đổi loại thuốc trong quá trình sử dụng, không nên sử dụng một loại thuốc trong thời gian dài hoặc từ năm này qua năm khác để ngăn ngừa hiện thượng quen thuốc, kháng thuốc của dịch hại .

2- Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng lúc

   Phun thuốc vào thời điểm dịch hại dễ bị tiêu diệt, phun ở giai đoạn tuổi nhỏ đối với sâu và ở giai đoạn đầu đối với bệnh . Phun vào lúc trời má, không có gió to để thuốc tiếp xúc bám dính tốt hơn trên bề mặt lá. Hạn chế phun lúc cây đang ra hoa, không phun thuốc khi trời nắng nóng sẽ làm giảm hiệu lực của thuốc hoặc trời sắp mưa có thể làm rửa trôi thuốc. Không phun thuốc vào thời điểm quá gần ngày thu hoạch (tuỳ thuộc vào thời gian cách ly của từng loại thuốc để xác định thời gian ngừng phun thuốc trước thu hoạch). Phun khi mật độ sâu, tỷ lệ bậnh đạt đến ngưỡng gây hại kinh tế (điều này cần có cán bộ kỹ thuật hướng dẫn xác định đối với từng loại sâu, bệnh ở từng thời kỳ và mức độ sinh trưởng phát triển của cây trồng).

3. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng nồng độ, liều lượng.

   Đúng nồng độ liều lượng ở đây bao gồm lượng thuốc và lượng nước trên đơn vị diện tích theo hướng dẫn của nhà sản xuất hoặc khuyến cáo của cán bộ kỹ thuật. Không được tuỳ ý tăng nồng độ của thuốc cao sẽ gây hại cho người sử dụng, cây trồng, môi trường và làm tăng chi phí, hoặc phun ở nồng độ quá thấp sẽ làm cho dịch hại quen thuốc, kháng thuốc tạo nguy cơ bùng phát dịch.

4. Nguyên tắc sử dụng thuốc đúng cách .

   Về nguyên tắc này trước hết phải kể từ khâu pha thuốc. Khi quyết định sử dụng thuốc phải tính toán kỹ lượng thuốc và lượng nước cần sử dụng. Khi pha thuốc nên cho vào bình 1/3 – 1/2 lượng nước rồi cho nước vào rồi khuấy đều, sau đó tiếp tục cho đủ lượng nước còn lại vào khuấy kỹ để thuốc phân tán đều trong nước. Không tự ý hỗn hợp hay nhiều loại thuốc BVTV với nhau bởi khi hỗn hợp có trường hợp làm gia tăng hiệu lực thuốc song có nhiều trường hợp hỗn hợp sẽ giảm hiệu lực thuốc, hoặc dễ gây cháy nổ, độc hại cho cây trồng và cho người sử dụng. Do đó chỉ thực hiện hỗn hợp thuốc nếu có hướng dẫn trên nhãn thuốc hay hướng dẫn của cán bộ kỹ thuật và sau khi hỗn hợp phải sử dụng ngay.

(*) Lưu ý: 

    Thông thường chỉ nên phối trộn hai loại thuốc trong cùng một lần phun sẽ cho hiệu quả cao, đồng thời kiểm soát được tác hại ngược lại do quá trình phối trộn. Tuy nhiên, đa số bà con nông dân chưa hiểu rõ nguyên tắc phối trộn và tuỳ tiện phối trộn thuốc BVTV nên hiệu lực phòng trừ dịch hại thấp, ngoài ra còn gây ngộ độc cho cây trồng. Để giúp bà con sử dụng thuốc BVTV hiệu quả và an toàn đối với cây trồng chúng tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:

   Những nhóm thuốc bà con có thể pha trộn:

– Chỉ nên phối hợp các loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc các nhóm gốc khác nhau thì hiệu quả mới cao như: thuốc nhóm lân phối hợp với nhóm các ba mát, lân + cúc, các ba mát + cúc, các ba mát + điều hòa sinh trưởng, thuốc vi sinh phối hợp với gốc lân

hoặc cúc.

– Chỉ nên phối hợp thuốc có các tác dụng khác nhau như (tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp, lưu dẫn.

– Chỉ nên phối hợp thuốc trừ sâu với thuốc trừ bệnh, thuốc trừ sâu với thuốc trừ cỏ, trừ cỏ với phân bón.

– Không nên phối hợp thuốc trừ bệnh với phân bón qua lá hoặc chất điều hòa sinh trưởng,

– Không phối hợp thuốc trừ sâu vi sinh với thuốc trừ bệnh có nguồn gốc chất kháng sinh….

– Không phối hợp thuốc trừ sâu, trừ bệnh với các loại thuốc gốc đồng như Coc 85, Coper B. Vì thuốc gốc đồng thường có tính kiềm cao, trong khi đó thuốc trừ sâu, trừ bệnh lại có tính axit. Khi pha trộn với nhau chúng sẽ trung hòa làm giảm hiệu lực thuốc.

   Để biết chắc chắn hơn bà con nên lấy một ít thuốc nguyên chất pha với lượng tương đương thuốc loại kia trong một cốc sành, sứ, thủy tinh, nhựa, dùng que khuấy nhẹ cho hòa tan để trong 2 – 5 phút. Quan sát nếu thấy có hiện tượng kết tủa bên dưới, đóng váng trên bề mặt, bốc khói tỏa nhiệt, sủi bọt hoặc biến đổi màu bất thường thì không nên pha trộn các loại thuốc đó với nhau để phun cho cây trồng.

   Nếu đã khẳng định trộn được 2 loại thuốc với nhau thì trong quá trình pha chế, bà con nên lần lượt cho từng loại thuốc thứ nhất vào bình rồi cho nước vào khoảng nửa bình khuấy đều sau đó cho loại thuốc thứ 2 vào rồi tiếp tục thêm nước cho đầy bình đủ lượng nước mình cần. Lưu ý trước khi pha thuốc trong bình phải có một lượng nước vừa phải và không nên cho 2 loại thuốc vào cùng một lúc, nồng độ của mỗi loại phải giữ nguyên như khi dùng riêng rẽ. Sau khi pha phải phun ngay.

Để tránh hiện tượng quen thuộc đối với các loại dịch hại trên cây trồng, khi sử dụng bà con cần luân phiên các nhóm thuốc có gốc khác nhau.

   Khi phun thuốc tuỳ vào đặc điểm, vị trí gây hại của từng loại dịch hại để hướng vòi phun sao cho tia thuốc tập trung vào nơi định phun để thuốc tiếp xúc được nhiều nhất với dịch hại, không đi ngược chiều gió khi phun .

Như vậy để sử dụng thuốc BVTV, phòng trừ dịch hại đạt hiệu quả cao thì việc hiểu và tuân thủ các nguyên tắc trên là rất cần thiết. Kính mong mọi người lưu tâm và thực hiện tốt.

 Theo: Nhân Sang

Trạm KN Anh sơn

————————

Tài liệu tham khảo:

————————

– Báo nông nghiệp Việt Nam

– http://wikipedia.org

– http://khuyennong.gov.vn

– Cục trồng trọt: www.cuctrongtrot.gov.vn

– http://nghean.gov.vn

– Chi cục bảo vệ thực vật nghệ an

【#10】Tìm Hiểu Cây Ớt Và Kỹ Thuật Trồng An Toàn

Tìm hiểu CÂY ỚT CAY và kỹ thuật trồng an toàn cây ớt

Ảnh: Cây ớt

I. GIỚI THIỆU

    Ớt cay được xem là cây gia vị nên có mức tiêu thụ ít. Gần đây ớt trở thành một mặt hàng có giá trị kinh tế vì ớt không chỉ là gia vị tươi mà còn được sử dụng trong công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu để bào chế các thuốc trị ngoại khoa như phong thấp, nhức mỏi, cảm lạnh hay nội khoa như thương hàn, cảm phổi, thiên thời… nhờ tính chất capsaicine chứa trong trái. Nhờ vậy nhu cầu và diện tích ớt ở nhiều nước có chiều hướng gia tăng.

    Ở Việt Nam việc canh tác ớt chưa được quan tâm, phần lớn canh tác lẻ tẻ, không đầu tư thâm canh cao nên năng suất thấp, thường chỉ đạt 800-1.000kg ớt tươi /1.000m2.

II. ĐẶC TÍNH SINH HỌC

– Rễ:

Ớt có rễ trụ, nhưng khi cấy rễ phân nhánh mạnh và cây phát triển thành rễ chùm, phân bố trong vùng đất cày là chính.

– Thân:

khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh. Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125-135 cm. Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống.

– Lá:

Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông.

– Hoa:

Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa. Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn. Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắng hoặc tím. Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái. Phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật.

   Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40 % tùy giống, do đó cần chú ý trong công tác để giống và giữ giống thuần.

– Trái:

Trái có 2-4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đen vàng; trái không cay hay rất cay.

Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khẩu dưới dạng quả khô. Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khô không rời cuống. Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1. Trái chưá nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng,

   Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 18-30oC. Nhiệt độ cao trên 32oC và thấp dưới 15oC. Cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng. Ớt là cây không quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay phát triển tốt và cho năng suất cao. Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ.

III. GIỐNG

Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu NN Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

1. Giống lai F1:

Giống Chili (công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt v

à cho năng suất cao.

Giống số 20 (công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m2.

Giống TN 16 (công ty Trang Nông phân phối): Cho thu hoạch 70-75 ngày sau khi gieo, trái chỉ thiên khi chín đỏ tươi, rất cay, dài 4-5 cm, đường kính 0,5-0,6cm, trọng lượng trung bình 3-4g/trái, đậu nhiều trái và chống chịu khá với bệnh thối trái, sinh trưởng tốt quanh năm.

Giống Hiểm lai 207 (công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

2. Giống địa phương:

Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái.

Giống Chỉ Thiên

Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái rất cay và kháng bệnh đén trái tốt nên trồng được trong mùa mưa.

IV. KỸ THUẬT TRỒNG

1. Thời vụ

    Ở đồng bằng sông Cửu Long ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các thời vụ sau:

Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1 dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy nhiên diện tích canh tác vụ này không nhiều.

Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5 trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư.

2. Chuẩn bị cây con

   Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m2 từ 15-25 gram (150-160 hột/g). Diện tích gieo ương cây con là 250 m2. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất 0,5-1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5-10 cm rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên líp ương. Hạt ớt thường nẩy mầm chậm, 8-10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy vào lúc 30-35 ngày tuổi, có sử dụng màng phủ cây con nên cấy sớm lúc 20 ngày tuổi.

3. Cách trồng:

    Đất trồng ớt phải được luân canh triệt để với cà chua, thuốc lá và cà tím. Trồng mùa mưa cần lên líp cao vì ớt chịu úng kém. Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30-40) cm, mật độ 3.500-5.000 cây/1.000m2; nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa, 70 x (50-60) cm, mật độ 2.000-2.500 cây/1.000m2.

4. Sử dụng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic)

4.1 Mục đích:

a. Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh sáng mặt trời nên giảm bù lạch, rầy mềm, giảm bệnh do nấm tấn công ở gốc thân và đốm trên lá chân

b. Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm hạt cỏ bị chết trong màng phủ.

c. Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.

d. Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay hơi nên tiết kiệm phân.

e. Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểm mưa dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh.

f. Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên phèn, mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn.

4.2 Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp

– Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng ớt hàng đơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng khổ 1,2-1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thì hiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao. Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400 m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

– Lên liếp: Lên liếp cao 20-40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳng không được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi cao hai bên thấp để tiện việc tưới nước.

– Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại canh tranh. Có thể giảm bớt 20% lượng phân so với không dùng màng phủ.

– Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh như Oxyt đồng hoặc Copper B (20 g/10 lít) hoặc Validacin (20 cc/10lít) đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.

– Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậy màng phủ. Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.

5. Bón phân: (tương tự cà chua)

Tùy theo loại đất, mức phân bón trung bình toàn vụ cho 1.000m2 như sau:

20 kg Urea + 50 kg Super lân + 20 kg Clorua kali + 12 kg Calcium nitrat + (50-70) kg 16-16-8 + 1 tấn chuồng hoai + 100 kg vôi bột, tương đương với lượng phân nguyên chất (185-210N)-(150-180P2O5)-(160-180K2O) kg/ha.

* Bón lót: 50 kg super lân, 3 kg Clorua kali, 2 kg Calcium nitrat, 10-15 kg 16-16-8, 1 tấn phân chuồng và 100 kg vôi. Vôi rải đều trên mặt đất trước khi cuốc đất lên liếp, phân chuồng hoai, lân rãi trên toàn bộ mặt liếp xới trộn đều. Nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì phân nằm trong màng phủ ít bị bốc hơi do ánh nắng, hay rửa trôi do mưa.

* Bón phân thúc:

Lần 1: 20-25 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy (giống cao cây). Số lượng 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cà hoặc đục lổ màng phủ giữa 2 gốc cà.

Lần 2: 55-60 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều.

Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại cà hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Lần 3: Khi cây 80-85 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái.

Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Lần 4: Khi cây 100-110 ngày sau khi cấy, thúc thu hoạch rộ (đối với ớt sừng dài ngày).

Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Chú ý:

Ớt thường bị thối đuôi trái do thiếu canxi, do đó mặc dù đất được bón vôi đầy đủ trước khi trồng hoặc bón đủ Calcium nitrat nhưng cũng nên chú ý phun bổ sung phân Clorua canxi (CaCl2) định kỳ 7-10 ngày/lần vào lúc trái đang phát triển để ngừa bệnh thối đuôi trái..

Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để hạn chế mất phân.

Nhằm góp phần tăng năng suất và phẩm chất trái, nhất là trong mùa mưa có thể dùng phân bón lá vi lượng như MasterGrow, Risopla II và IV, Miracle,… Bayfolan, Miracle… phun định kỳ 7-10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch.

6. Chăm sóc:

6.1 Tưới nước:

Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu khô hạn kéo dài thì tưới rảnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/lần. Tưới thấm vào rãnh tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu.

Tưới thấm và tưới nhỏ giọt

6.2 Tỉa nhánh:

   Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng. Các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng

6.3 Làm giàn:

Giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giàn được làm bằng cách cắm trụ cứng xung quanh hàng ớt dùng dây chì giăng xung quanh và giăng lưới bên trong hoặc cột dây nilong lúc cây chuẩn bị trổ hoa.

7. Phòng trị sâu bệnh

7.1 Sâu hại

::

– Rầy lửa, bọ trỉ, bù lạch (Thrips sp.)

– Thành trùng và ấu trùng rất nhỏ có màu trắng hơi vàng, sống tập trung trong đọt non hay mặt dưới lá non, chích hút nhựa cây làm cho đọt non bị xoăn lại. Thiệt hại do bọ trĩ, bọ dưa có liên quan đến bệnh siêu trùng.

– Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên định kỳ 7-10 ngày/lần phun dầu khoáng DC-Tron plus (Caltex) sẽ giảm đáng kể sự tấn công của bù lạch; khi thấy mật số vài ba con trên một đọt non cần phun một trong các loại như Confidor 100SL, Admire 50EC, Danitol 10EC, Vertimec…0.5-1%o, cần thay đổi thuốc thường xuyên.

– Sâu xanh đục trái (Heliothis armigera): Thành trùng là bướm đêm, kích thước to, thân mập nhiều lông, cánh màu vàng sáng, giửa cánh có một chấm đen to và một chấm trắng nằm cạnh nhau. Trứng đẻ thành ổ có phủ lông vàng; một bướm cái đẻ 200-2000 trứng. Âu trùng là sâu có nhiều lông, màu sắc thay đổi từ màu hồng, xanh, xanh vàng đến nâu đen theo môi trường sống. Sâu ở phía ngòai thò đầu vào bên trong phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủng quả từ khi còn xanh cho đến lúc gần chín làm thối trái. Nhộng màu nâu đỏ nằm trong lá khô hoặc trong đất.

– Bọ phấn trắng (Bemisia tabaci): Thành trùng màu trắng bóng, dài 3-4 mm, bay chậm, hình dáng giống như bướm. Âu trùng rất giống rệp dính, màu trắng trong, được phủ một lớp sáp, ít bò, thường cố định một chổ chích hút mô cây. Trứng, ấu trùng và thành trùng luôn luôn hiện diện ở mặt dưới lá trên các loại cây ăn trái, bầu bí, dưa, cà, ớt, bông vãi, thuốc lá. Ấu trùng và thành trùng đều chích hút làm lá biến vàng, cây mau suy yếu, giảm năng suất và truyền bệnh siêu trùng như rầy mềm. Bọ phấn trắng phát triển nhanh trong điều kiện nóng và khô, rất dễ quen thuốc khi phun ở nồng độ cao, hoặc phun thường xuyên định kỳ.

   Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh trên ấu trùng bọ phấn trắng. Thuốc hiệu quả là Admire, Confidor, phun ở mặt dưới lá.

– Rầy nhớt, rầy mềm (Aphis spp.)

Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 1-2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng. Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khảm vàng. Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm.. nên chỉ phun thuốc khi nào mật số quá cao ảnh hưởng đến năng suất. Phun các loại thuốc phổ biến rầy mềm như Trebon, Bassa.

d- Sâu ăn tạp, sâu ổ, sâu đàn (Spodoptera litura)

– Sâu non lúc nhỏ sống tập trung ở mặt dưới phiến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớn lên phân tán dần, mình có màu xám với khoan đen lớn ở trên phía lưng sau đầu, ăn lủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt ngang thân cây con. Sau đó sâu thường chui vào sống trong đất, ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất, nhộng ở trong đất.

– Nên làm đất kỹ trước khi trồng vụ sau để diệt sâu và nhộng còn sống trong đất, xử lý đất bằng thuốc hạt. Có thể ngắt bỏ ổ trứng hay bắt sâu non đang sống tập trung.

Nên thay đổi loại thuốc thường xuyên, phun vào giai đoạn trứng sắp nở sẽ cho hiệu quả cao: Sumicidin 10EC, Cymbus 5EC, Karate 2.5EC, Decis 2.5 EC… 1-2%o có thể pha trộn với Atabron 5EC từ 2-3 cc/bình xịt 8 lít.

7.2 Bệnh hại:

– Bệnh héo cây con: Do nấm Rhizoctonia solani, Phythophthora sp., Pythium sp. Bệnh thường gây hại cây con trong líp ương hoặc sau khi trồng khoảng một tháng tuổi. Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân ngay trên mặt đất, nấm tấn công vào gốc làm gốc cây bị thối nhũn và cây bị gãy gục, phần cây bên trên vết bệnh vẫn còn tươi xanh, sau đó cây mới bắt đầu héo. Bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ cao, nấm lưu tồn trên thân luá, rơm rạ, cỏ dại, lục bình, hạch nấm tồn tại trong đất sau mùa gặt lúa.

– Phun, Validacin 5L, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Ridomil 25 WP 1-2%o; Copper -B 2-3%o, Tilt super 250 ND, Bonanza 100 (các loại thuốc trị bệnh đốm vằn trên luá đều trị được bệnh này)

– Bệnh héo chết cây do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, nấm Fusarium oxysporum, F. lycopersici, Sclerotium sp.: Bệnh thường gây hại khi cây đã trưởng thành, hoặc khi cây bắt đầu mang trái. Đầu tiên các lá ngọn bị héo vào buổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn, không còn khả năng hồi phục, bộ rễ không phát triển.

Đối với bệnh do vi khuẩn cần nhổ và tiêu hủy cây bệnh; dùng vôi bột rãi vào đất, hoặc Starner, New Kasuran, Copper Zin C tưới nơi gốc cây hay phun ngừa bằng Kasumin. Đối với nấm cần phát hiện sớm, phun ngừa hoặc trị bằng thuốc Copper B, Derosal, Appencarb super, Ridomil, Score.

– Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum sp. Bốn loài Colletotrichum được tìm thấy trên ớt là: C. gloesporiodes, C. capsici (2 loài quan trọng nhất), C. acertatumC. coccodes. Bệnh thường gây hại trên trái đang hay đã chín trong điều kiện có mưa nhiều, hoặc ẩm độ không khí cao. Vết bệnh lúc đầu hình tròn, úng nước, hơi lõm xuống, sau đó lan

dần ra, tâm vết bệnh có màu nâu đen, viền màu nâu xám, bên trong có nhiều vòng đồng tâm và có những chấm nhỏ li ti màu đen nhô lên cao. Bệnh gây hại chủ yếu trên trái làm trái mất thương phẩm. Ở đồng bằng sông Cửu Long bệnh phát triển và lây lan mạnh vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9 dl. Nấm bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt cây bệnh.

     Các thuốc Copper B, Manzate, Mancozeb, Antracol, Ridomil được sử dụng rộng rãi để trừ bệnh này. Tuy nhiên, bệnh khó phòng trị trong mùa mưa và vì bịnh chỉ xuất hiện rất trễ khi trái chín. Hiện nay biện pháp trồng giống kháng bệnh như ớt hiểm trong mùa mưa là kinh tế nhất.

– Bệnh héo muộn do nấm Phytophthora infestan: Bệnh gây hại trên thân, lá và trái. Vết bệnh lúc đầu có màu xanh úng nước, sau đó chuyển sang màu nâu đen. Nếu trời ẩm bên dưới vết bệnh có tơ màu trắng bao phủ; nếu thời tiết khô thì vết bệnh khô dòn, dễ vở. Bệnh thường xuất hiện ở cuống trái, bệnh nặng làm trái dễ rụng.

Không trồng ớt liên tục nhiều năm trên cùng một ruộng. Phun trị khi bệnh xuất hiện với các loại thuốc Aliette, Manzate, Mancozeb, Curzate.

V. THU HOẠCH VÀ ĐỂ GIỐNG

    Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ơt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần, nếu chăm sóc tốt năng suất trái đạt 20-30 tấn/ha.

    Làm giống nên chọn cây tốt, cách ly để tránh lai tạp làm giảm giá trị giống sau này. Chọn trái ở lứa thu hoạch rộ, để chín chín hoàn toàn trên cây, hái về để chín thêm vài ngày rồi mổ lấy hạt, phơi thật khô, để vào chai lọ kín và để nơi khô ráo. Hạt ớt chứa nhiều chất béo, do đó hạt khô thường hút nước lại và gia tăng ẩm độ, vì vậy trữ hạt ở điếu kiện nóng ẩm (ẩm độ trữ hơn 70% và nhiệt độ 20oC) hạt mất khả năng nẩy mầm 50% trong thời gian 3 tháng và mất khả năng nẩy mầm hoàn toàn trong thời gian 6 tháng. Trữ hạt trong điều kiện khô, kín (ẩm độ 20%, nhiệt độ là 25oC), hạt khô (ẩm độ 5%) có thể giữ độ nẩy mầm 80% trong 5 năm.

    Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi cho việc canh tác ớt và khả năng xuất khẩu ớt thu ngoại tệ cũng không nhỏ. Tuy nhiên để thực hiện được điều đó cần chú ý những điểm như sau:

– Các giống ớt địa phương hiện trồng có năng suất còn thấp và tỷ lệ ớt tươi/khô cũng thấp.

– Ớt xuất khẩu thường ở dạng khô. Phương pháp làm ớt khô bắng cách phơi ớt tươi trực tiếp ngoài nắng thường làm ớt mất màu, không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngoài ra việc phơi nắng kéo dài trong 10-20 ngày tạo điều kiện cho bệnh đén trái tiếp tục phát triển trong thời gian phơi và làm mất phẩm chất ớt.

    Ớt xuất khẩu và dùng trong chế biến thực phẩm còn đòi hỏi các tiêu chuẩn như độ cay, mùi hương mà các giống trồng hiện chưa đáp ứng được. Do đó cần chú ý công tác chọn tạo giống và kỹ thuật chế biến ớt, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu thì cây ớt mới có giá trị kinh tế cao.