Cẩm Nang Phân Lân: Phần 1: Giới Thiệu Các Loại Phân Lân Hóa Học

--- Bài mới hơn ---

  • Để Chậu Hoa Dạ Yến Thảo Lâu Tàn
  • Dạ Yến Thảo: 3 Loại Đất Trồng Giúp Cây Nở Nhiều Hoa, Rực Rỡ
  • Phân Bón Super Lân Long Thành Vẫn Ổn Định, Không Tăng Giá
  • Phân Bón Lá Siêu To Trái Amino
  • Giới Thiệu Về Phân Bón Lá Siêu Canxi Bo
  • GS Võ Minh Kha, Hướng dẫn thực hành sử dụng phân bón, NXB Nông nghiệp, Hà Nội,1996.

    Người ta phân loại các loại lân theo độ hòa tan của chúng

    1/ Phân lân hòa tan trong nước: supe lân (SP), điamôn photphat (DAP)

    2/ Phân lân ít hòa tan trong nước, chỉ hòa tan trong axit yếu như axit xitric 2 % axit foomic hay xitrat amôn, phân lân nung chảy TP, photphat cứt sắt (còn gọi là Toomat sowlac), photphan, phân lân kết tủa (dicanxi phôtphat) và phân lân chậm tan (phân lân axit hóa một phần).

    3/ Phân lân khó tan. Đó là các loại quặng tự nhiên khai từ mỏ lên đem nghiền để bón trực tiếp như apatit, photphorit, bột xương động vật…

    Người ta còn phân loại theo quá trình chế biến:

    1/ Phân lân tự nhiên: là sản phẩm khai thác từ các mỏ, nghiền bột đem sử dụng, không qua quá trình chế biến. Phần lớn phân lân tự nhiên là phân khó hòa tan: apatit photphorit, vivianit.

    2/ Phân lân chế biến bằng axit. Có hai loại:

    – Hòa tan trong nước: supe lân, điamôn photphat.

    – Hòa tan trong axit yếu: phân lân kết tủa, phân lân chậm tan.

    3/ Phân lân sử dụng nhiệt năng để chuyển hóa: Các loại phân lân nung chảy và phân lân cứt sắt.

    1. Các loại phân lân điều chế bằng axit.

    Supe lân là loại phân lân được sản xuất bằng cách cho tác động axit sunfuric với apatit. Lượng axit được tính toán thế nào để chuyển hết apatit thành canxi photphat. Trên thị trường có 3 loại supe lân:

    – Loại supe lân thông thường: Loại này điều chế bằng cách cho tác động photphat tự nhiên với axit sunfuric, tạo thành monocanxi photphat và thạch cao. Tỷ lệ thạch cao chiếm 50%. Tùy theo hàm lượng lân trong quặng apatit mà tỷ lệ lân trong phân thay đổi từ 16 – 24 % P 2O 5 tan trong am ôn xitrat trong đó có đến 90 % tan trong nước, ngoài ra có từ 8 – 12 % và khoảng 28 % CaO ở dạng CaSO 4, một ít vi lượng như Fe, Zn, Mn, Bo, Mo.

    – Loại supe lân giàu: là loại supe lân điều chế từ apatit tác động bởi hỗn hợp axit sunfuric và photphoric. Tùy theo tỷ lệ giữa axit sunfuric và axit photphoric mà có chứa 25 – 35 % P 2O 5 hòa tan trong a môn xitrat. Lượng CaSO 4 còn lại ít hơn trong supe lân, chứa từ 6 – 8% S và khoảng 20 % CaO..

    – Loại supe lân rất giàu: Được sản xuất bằng cách cho tác động axit photphoric với apatit có chứa từu 36 -38% P 2O 5 tan trong amôn xitrat.

    Trong quặng apatit có chứa Fe, Al và các vi lượng nhiều ít tùy quặng. Axit sunfuric cũng kết hợp với Fe, Al tạo thành sufat sắt hay sunfat nhôm.

    Trước đây người ta cho rằng lân tan trong nước càng nhiều chất lượng supe lân càng cao nên sản xuất supe lân thường dùng thừa một ít axit tạo thành axit photphoric, để cho trong khi cất trữ supe lân, lân hòa tan trong nước không chuyển ngược lại thành lân ít hòa tan. Vì vậy, supe lân thường chua. Lượng axit càng cao, supe lân càng dễ hút ẩm, ướt nhão. Thông thường tỷ lệ axit trong phân không nên quá 5% và độ ẩm dưới 13%. Từ khi người ta nhận thấy rằng không nhất thiết lân phải hòa tan trong nước nhiều cây mới dễ sử dụng, các nhà sản xuất phân supe lân giảm bớt số axit sử dụng, phân có chứa hai canxi phôtphat nhiều hơn, phân không chua ít hút ẩm và tơi rời hơn.

    Tùy theo nguyên liệu sử dụng mà supe lân có màu xám trắng hay xám xẫm. Trên thị trường thường trình bày dưới hai dạng: Dạng supe lân bột và dạng supe lân viên. Do lân trong supe lân dễ hòa tan, khi bón vào đất dễ bị các nhân tố trong đất chuyển thành dạng cây khó sử dụng. Viên phân supe lân thành viên nhằm giảm hiện tượng này làm cho hiệu quả supe lân cao hơn.

    Như vậy hai mặt mạnh của supe lân là:

    – Dễ hòa tan, hiệu quả nhanh hơn các loại phân lân khác.

    – Có chứa S.

    Mặt mạnh thứ hai gần đây mới bắt đầu nhận thức hết. Nếu liên tục bón nhiều phân đã bị tẩy bớt lưu huỳnh như loại supe lân rất giàu điều chế từ axit photphoric trong nhiều năm thì sự thiếu S ngày càng thể hiện rõ nét. Trong tương lai S được xem là yếu tố phân bón thì supe lân nên được xem là loại phân có hai yếu tố.

    Vì hàm lượng lân trong supe lân và hàm lượng S trong phân thay đổi rất lớn tùy theo chất lượng quặng và qui trình sản xuất nên phân lân trên thị trường cần được ghi ít nhất hàm lượng của lân hòa tan trong a môn xitrat và hàm lượng S tổng số. Ghi rõ hàm lượng CaO và các vi lượng khác của phân là điều nên làm.

    Trên thương trường còn có loại phân supe được sản xuất từ axit xitric, hoặc hỗn hợp axit xitric và axit sunfuric. Sản phẩm là các nitrophotphat có hàm lượng N và P2O5 khác nhau. Tùy theo tỷ lệ giữa N và P mà nó được sư dụng như phân lân hay phân đạm (sẽ trình bày ở dạng phân phức).

    Nhà máy supe lân Lâm Thao Vĩnh Phú và nhà máy supe lân Long Thành chủ yếu sản xuất phân supe lân. Supe lân Lâm Thao có chứa 16,5% P 2O 5 tan trong xitrat amôn 11,2%, 22-23% CaO và có chứa ít hơn 4 % axit sự do.

    Vì nước ta, diện tích trồng lúa rất lớn, sản xuất phân lân chủ yếu là để bón cho lúa nên cả hai nhà máy supe lân Lâm Thao và Long Thành đều chưa trang bị dây chuyền để sản xuất supe lân viên. Chắc rằng sản xuất phân viên sau này sẽ được chú ý, vì trên đất laterit chua, hiệu quả của phân viên sẽ cao hơn và bền hơn phân bột rất nhiều.

    Supe lân là loại phân rất quý cho đất trung tính, đất cacbonat và đất cà giang (đất kiềm do nhiều natri). Bón supe lân vào các loại đất này, lân cũng bị hấp phụ giữ lại do chuyển thành các dạng hợp chất lân giàu canxi, ít hòa tan hơn. Nhưng các hợp chất này về sau vẫn tiếp tục được cây sử dụng. Ở các loại đất có độ chua cao, nhiều sắt di động như đất chua, đất phèn, đất đồi laterit chua, đất trũng lầy thụt, supe lân dễ bị hấp phụ và giữ chặt trên keo đất hoặc chuyển thành các photphat Fe, Al. Lân bị giữ chặt theo kiểu này cây không còn sử dụng được nữa. Nhiều thí nghiệm trên đất đồi trồng hoa màu chua hiệu lực vụ sau của supe lân rất thấp còn trên đất phèn, nhất là sau khi đất bị xì phèn hiệu lực còn lại không còn gì nữa.

    Sản xuất các loại supe lân viên hay các loại phân lân axit hóa một phần (dùng lượng axit ít hơn quy trình thông thường) cần được xem xét đến, vì hiệu quả phân sẽ cao hơn.

    Trộn thêm các loại vi lượng vào supe lân rất có ích, vừa cung cấp thêm vi lượng hữu hiệu cho cây vừa làm tăng hiệu lực supe lân. Các vi lượng thường được chú ý là bo, molipđen, kẽm và mangan. Super lân dùng bón cho cây họ đậu nên chú ý trộn thêm magiê, mangan, molypđen và bo cho vùng trồng lúa nên chú ý đến kẽm và đồng. Những nhận xét đầu tiên của trung tâm nông nghiệp Đồng Tháp Mười cho thấy trên đất phèn nên chú ý trộn thêm bo. Nhà máy super lân Long Thành đã trộn thêm bột đá xà vân để có loại super lân M chứa 17% P 2O 5 tổng số, 14,2% P 2O 5 tan trong amôn xitrat và 3% MgO và lượng axit còn lại 1%.

    Trong thành phần super lân có canxi sunfat. Ngoài tác dụng cung cấp S ra, canxi sunfat còn là chất để cải tạo đất kiềm do natri gây ra. Canxi trong CaSO 4 đẩy Na ra khỏi keo đất và làm giảm độ kiềm của đất. Super lân có thể xem như là chất cải tạo đất kiềm có hiệu quả cao do tỷ lệ 50% CaSO 4.

    Trước đây do tính chất cải tạo kiềm này người ta lầm tưởng bón supe lân làm chua đất. Theo Gros nhiều thí nghiệm lâu năm chứng tỏ rằng ngay cả khi bón với liều lượng cao supe lân không ảnh hưởng đến độ chua của đất.

    Phân supe lân phù hợp cho tất cả các loại đất, loại cây, có thể dùng để bón lót, lên mặt đất hoặc bón theo hàng theo hốc, có thể dùng để bón thúc, hòa nước để tưới và phun lên lá. Ở đất chua, hiệu lực supe lân có thể được tăng cường nếu đất được bón vôi.

    Nông dân miền Bắc đã quen với tập quán ủ phân chuồng có thêm supe lân. Cách làm này làm cho hiệu lực phân lân tăng và làm giảm sự mất đạm khi ủ phân.

    1.2. Phân monoamôn photphat (MAP) và phân diamon photphat (DAP).

    Phân DAP được sản xuất bằng cách cho phối hợp khí amoniac với axit photphoric tạo thành một hỗn hợp monoamon photphat, diamon photphat và triamon photphat mà diamon photphat là chủ yếu. Hợp chất này dễ hòa tan cây sử dụng và bền vững hơn triamon photphat (không bị phá vỡ mà mất amon) lại có tỷ lệ amon cao hơn monoamon photphat. Hàm lượng 46-50% P 2O 5 hòa tan trong amon xitrat 2% và 18 – 20 % N. Phân có thành phần monoamon phôtphat là chính cũng được sử dụng khá phổ biến. Tỷ lệ N trong phân là 12 – 15% N và 49 – 61 % N, 20% P 2O 5 và có 7 -8 %.

    Các loại phân này hoàn toàn hòa tan trong nước, dễ hút ẩm nên thường được sản xuất dưới dạng viên hoặc dùng để sản xuất các loại phân đa nguyên tố. Phân dùng trực tiếp bón lót hoặc bón thúc.

    Ưu điểm của DAP và MAP là loại phân giàu chất dinh dưỡng, chứa hàm lượng lân cao nhất trong các loại phân lân và còn chứa đạm nên vận chuyển rẻ tiền hơn.

    Lượng đạm so với lân thấp nên thích hợp cho các vùng đất giàu hữu cơ, giàu đạm, chua và thiếu lân. Các vùng đất rừng mới khai phá, các loại đất vùng ven biển mới tiêu thủy để trồng trọt còn giàu hữu cơ và đạm mà lại thiếu lân dùng loại phân này rất hợp.

    Sau 10 – 15 năm khai phá và thường xuyên sử dụng loại phân này, tỷ lệ N và P trong phân trở thành không phù hợp nữa. Đất sau nhiều năm khai phá và bón đạm ít, nghèo dần hữu cơ và đạm do bón lượng lân cao, đạm thấp nên đất thiếu đạm và các yếu tố khác. Đó là tình hình diễn biến của sử dụng phân bón ở các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long trong nhiều năm qua. Sự ưa chuộng DAP giảm dần và công thức phối hợp supe lân hoặc phân lân nung chảy với ure nên khuyến cáo ở các vùng thâm canh. Ở các vùng mới khai hoang, một công thức phối hợp DAP với ure và phân lân nung chảy để có thể khử chua, cung cấp sớm P cho giai đoạn đầu và lân cho giai đoạn sau nên được khuyến cáo cho vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

    1.3. Phân nitrophos.

    Phân nitrophos là phân sản xuất từ quặng có chứa lân và axit nitric. Sản phẩm tạo ra có chứa canxi nitrat nên dễ hút ẩm, chảy nước. Người ta khắc phục bằng cách cho thêm axit sunfuric và axit photphoric để tạo canxi photphat, hoặc dùng CO2 để tạo ra CaCO3. Như vậy phân sẽ là một hỗn hợp đa nguyên tố. Các loại phân lân sản xuất từ axit nitric phổ biến trên thị trường E.U (Pháp, Ý, Hà Lan).

    Ưu điểm của các nitrophos là loại phân có khả năng khử chua và ít hòa tan. Lượng lân hòa tan trong nước chỉ chiếm 80% tổng số.

    Nhược điểm của nitrophos là hàm lượng thấp, dễ chảy nước và giá thành hơi cao.

    Hiệu quả của dạng đạm nitrat ở ruộng lúa và vùng đất nhiệt đới rửa trôi nhiều thấp hơn các dạng đạm amon cũng là điều cần được cân nhắc khi xét chọn loại phân lân thích hợp cho nông nghiệp Việt Nam.

    1.4. Đúp và tripsupe.

    Các loại phân này được điều chế bằng cách dùng axit photphoric kết hợp với CaCO3 tạo thành môn canxi photphat. Loại này được gọi là strip supe lân có hàm lượng P2O5 cao có khi đến 50% P2O5, không có CaSO4. Loại thứ hai được sản xuất bằng cách cho H3PO4 tác động lên apatit. Hàm lượng P2O5 vào khoảng 30%. Loại này gọi là đúp supe.

    Hiệu quả của loại phân này khác supe lân ở các thành phần phụ còn lại trong phân trước hết là lưu huỳnh. Phân sẽ tốt hơn supe lân ở các vùng quá giàu lưu huỳnh và ngược lại ở những vùng nghèo lưu huỳnh hiệu quả sẽ kém hơn supe lân. Nhu cầu bón S bắt đầu lộ rõ, ưu thế của supe lân đơn càng ngày càng nên được coi trọng hơn.

    1.5. Silico photphat canxi.

    Là loại phân lân sản xuất bằng cách cho H3PO4 và SiO2 tác động với apatit, tạo ra chúng tôi (silicophotphat canxi) có chứa 63 – 64 % P2O5 trong đó 92 – 94% tan trong nước 21 – 26% CaO và 10 – 11% SiO2.

    Phân silico photphat canxi có ưu thế hơn các loại đúp và trip supe do tác động của SiO2. Loại phân này làm cho cây hòa thảo cứng cây.

    1.6. Các loại meta photphat.

    Từ axit octophotphoric (H 3PO 4) người ta sản xuất ra các loại axit đậm đặc hơn bằng cách chưng cất. Các axit này là axit pyro photphoric (H 4P 2O 7) axit meta photphoric (HPO 3) và các axit poliphotphoric khác có thể chứa đến 65 – 83% P 2O 5 hay còn cao hơn nữa. Dùng các axit này để tạo với canxi hay kali các muối photphat.

    Metaphotphat canxi: Là loại phân tinh thể giòn và óng ánh như thủy tinh chứa 64 – 70% P2O5 ngoài ra còn có CaO, Fe 2O 3, Al 2O 3, silic và fluor. Có 3 cách sản xuất meta photphat canxi. Cách thứ nhất từ axit meta photphoric ít phổ biến. Cách thứ hai sản xuất từ quặng apatit và P 2O 5 gia nhiệt cao. Hai cách sản xuất sau thông dụng hơn. Các meta phophat do cách sản xuất và tính ít hòa tan có thể xếp vào nhóm phân lân nung chảy; và là loại phân không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan trong axit yếu hoặc axit loãng, loại phân ít hòa tan.

    Meta photphat kali:. Loại phân ở dạng tinh thể nhỏ. Sản phẩm công nghiệp thường là hỗn hợp của meta photphat kali và pyro photphat kali có chứa khoảng 40% K 2O và 60% P 2O 5.

    Các sản phẩm này không tan trong nước nhưng dễ hòa tan trongg oxalat hay xitrat amon sử dụng như các loại phân lân ít hòa tan.

    1.7. Các loại phân supe lân ít hòa tan (chậm tan).

    Trong những năm đầu thế kỷ thứ 20, sự cố gắng của công nghiệp sản xuất phân hóa học nhằm vào:

    – Sản xuất các loại phân tan nhiều trong nước để cây dễ dàng sử dụng, hiệu quả nhanh.

    – Sản xuất các loại phân có chứa ba yếu tố phân bón cao.

    Dần dần trong quá trình sử dụng người ta thấy rằng nếu độ hòa tan quá cao thì phân lân lại dễ chuyển thành dạng khó hòa tan và bị giữ chặt lại do tiếp xúc nhiều với các nhân tố gây cố định và giữ chặt có sẵn trong đất. Vì vậy, xuất hiện quan niêm cho rằng không nhất thiết phải phá vỡ hoàn toàn tinh thể apatit bằng lượng axit cao, chỉ cần dùng một lượng vừa phải đủ để tạo ra sự phá vỡ ban đầu của tinh thể apatit, tạo ra CaHPO4 và các photphat canxi ít hòa tan khác. Loại phân lân này gọi là phân lân bị oxy hóa một phần (PAPR) hay còn gọi là phân ít tan hay phân chậm tan. Sau khi bón vào đất, phân sẽ tham gia vào các quá trình trong đất mà tiếp tục phân giải. ý định rất được các nhà khoa học Pháp (IRAT CITRAT) và Mỹ (Trung tâm phát triển phân bón quốc tế Alabama) chú ý và đã sản xuất thử nghiệm. Các kết quả thử nghiệm rộng rãi trên mạng lưới nhiều nước và nước ta cho thấy rằng loại phân lân này có những ưu điểm sau đây:

    – Hàm lượng lân tổng số trong phân cao hơn supe lân thông thường. Ví dụ loại phân A sản xuất từ apatit Lào Cai loại I có hàm lượng P2O5 là 25,1% trong đó có 69 % tan trong xitrat amon. Do đó chuyên chở, bảo quản rẻ tiền hơn.

    – Giá thành 1 kg P2O5 rẻ tiền hơn.

    – Hiệu quả vụ đầu không kém supe lân trên đất ít chua, kém nột ít trên đất trung tính và cao hơn supe lân ở đất chua nhiều. Hiệu quả vụ sau trội hơn rõ.

    Loại supe lân PA của nhà máy supe lân Long Thành có tỷ lệ P2O5 20%, trong đó có 8% P2O5 hữu hiệu và 4% MgO có lẽ đã vận dụng sáng tạo thành tựu nghiên cứu này.

    Các kết quả nghiên cứu trên nhiều vùng đất đai khí hậu nước ta miền bắc, miền Trung và miền Nam, trên đất lúa cũng như đất trồng hoa màu cho thấy rằng loại phân này có nhiều triển vọng.

    1.8. Supe lân sản xuất từ các axit clohydric.

    Người ta cũng có thể sản xuất ra loại sản phẩm tương đương supe lân bằng cách cho HCl tác động với apatit. Quá trình này hình thành CaCl2 và làm cho phân ướt. Ở vùng khô hạn ion Cl- có thể tồn dư trong đất và gây độc cho cây.

    Ở vùng mưa nhiều, nhất là vùng đất lúa, Clo dễ bị rửa trôi theo nước thấm sâu. Nhiều kết quả điều tra và thí nghiệm cho thấy rằng số lượng Cl- tồn dư rất thấp không phát hiện được bằng phương pháp phân tích thông thường, sau 4 vụ trồng lúa bón liên tiếp bằng phân lân sản xuất từ axit clohydric. Sản xuất phân lân từ axit clohydric nên được chú ý đối với các nước sản xuất nhiều muối như nước ta.

    1.9. Phân lân kết tủa (Prexipitat).

    Ở các nước ôn đới do sợ rằng clo sẽ tích lũy trong đất gây hại cho hệ sinh vật đất ảnh hưởng xấu đến chất lượng sản phẩm và làm cho phân ướt nên tìm cách loại CaCl2. Trước hết sử dụng HCl tác động lên apatit để tạo ra axit photphoric sau đó dùng sữa vôi để kết tủa. Sản phẩm tạo thành là dicanxi photphat và vì vậy gọi là phân lân kết tủa.

    Trong phân phức chứa 38 – 42% P2O5, không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan trong xitrat amon.

    Phân lân kết tủa màu trắng đục, vô định hình, tơi rời ít hút ẩm, thích hợp cho đất chua và ít chua.

    Phân lân kết tủa thường dùng để sản xuất các loại phân phức hoặc dùng để làm thức ăn gia súc.

    2. Các loại phân lân sản xuất từ quy trình nhiệt.

    Phân lân nung chảy còn được gọi là phân lân cao nhiệt, phân lân thủy tinh, Tecmo photphat. Nguyên lý sản xuất loại phân lân này là: nung chảy quặng apatit ở nhiệt độ cao để chuyển lân thành các hợp chất phức tạp hòa tan được trong axit yếu. Phân này sản xuất đầu tiên ở Bỉ được đưa ra từ năm 1916 và đã được ứng dụng rộng rãi ở Đức, Bỉ, Hà Lan, Nga, Pháp, Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc. Có hai loại phân lân nung chảy.

    Phân lân nung chảy có phụ gia kiềm. Loại này có độ kiềm cao, có khả năng khử chua và chứa nhiều yếu tố dinh dưỡng quan trọng khác ngoài lân như Mg, Ca, Na, K và các vi lượng tùy thuộc quặng apatit và chất kiềm sử dụng.

    Phân lân nung chảy không dùng hoặc dùng ít phụ gia kiềm. Loại này thường có lượng P2O5 cao hơn nhưng khả năng khử chua thấp hơn và nghèo các yếu tố khác hơn.

    2.1. Phân lân nung chảy dùng phụ gia kiềm.

    Các chất kiềm thường dùng là đá xà vân (secpentin), đá bạch vân (đolomit) quặng olivin. Nước ót thừa ở các ruộng muối có chứa các muối NaCl, KCl, MgCl2, MgSO4 cũng được dùng làm chất kiềm để tạo thành loại phân gọi là phân lân nước ót.

    + Photphat canxi – magie ( F.M.P)

    Ở nước ta có hai công ty sản xuất phân lân nung chảy Công ty phân lân nung chảy Văn Điển và Công ty phân lân nung chảy Ninh Bình. Cả hai công ty này đều sử dụng quặng apatit loại 2 của mỏ apatit Lào Cai và quặng secpentin Thanh Hóa làm nguyên liệu chính tạo thành photphat canxi – magie. Sản phẩm của hai công ty có thành phần lân và magie gần giống nhau.

    Phân lân nung chảy Văn Điển có 3 loại :

    + Loại 1 có tỷ lệ P2O5 20% và MgO 15%.

    + Loại 2 có tỷ lệ P2O5 17,5 % – 18,5 % và MgO 15-17%.

    + Loại 3 có tỷ lệ P2O5 15 – 16 % và MgO 17 – 20%.

    Ngoài ra còn có chứa 24 – 30% SiO2 và các vi lượng cần thiết cho cây như:

    Sắt 4%

    Mangan 0,4%

    Đồng 0,02%

    Molypđen 0,001%

    Coban 0,002%

    Bo 0,05 – 0,07%

    Lân trong phân lân nung chảy ở dưới dạng phức hợp photphat canxi, magie, không tan trong nước, có khoảng 90% tan trong axit xitric 2%. Các loại phân này có độ kiềm cao PH = 8,5. Lượng vôi và magie trong phân gần bằng lượng vôi trong bột đá vôi và có khả năng khử chua bằng 80 – 90% bột đá vôi. Bón 2 – 2,5 kg phân lân nung chảy có tác dụng khử chua ngang 1 kg vôi bột hoặc 2 kg bột đá vôi.

    Phân lân nung chảy thương trường hiện nay có hai loại hạt. Loại cỡ hạt ±2 mm có màu xanh xám óng ánh như thủy tinh và cỡ hạt mịn, 70% qua rây canh 0,25 mm có màu xanh nhạt, nhìn kĩ cũng óng ánh như thủy tinh. Phân khô không hút ẩm, đóng cục.

    Ưu điểm chính chung của các loại phân lân nung chảy là:

    – Có khả năng khử chua cải tạo đất chua, đất phèn.

    – Lân trong phân ở dạng ít hòa tan nên tuy hiệu quả chậm hơn supe lân một ít nhưng hiệu quả bền hơn vì lân không bị chuyển thành dạng cây khó sử dụng. Các loại đất có khả năng hấp phụ và giữ chặt lân lân cao như đất phù sa năng chua, đất phèn, đất đồi laterit chua, đất phù sa trũng và lầy thụt hiệu quả lân nung chảy có trội hơn lân supe.

    Các yếu tố trung lượng như Silic, canxi, Magie, là các yếu tố dần dần được chú ý nhiều hơn khi sản xuất thâm canh và bón đủ các yếu tố chính N, P, K. Sự thiếu canxi đã thể hiện ở một số loại đất chua nhiều. Sự thiếu magie cũng biểu hiện rõ trên đất đồi thoái hóa, đất xám và đất bạc màu, đất phù sa sông. Silic tích lũy trên thân cây hòa thảo (ngô, lúa, cao lương) làm cho cây cứng cáp và giảm bớt bệnh hại. Magie lợi cho phẩm chất của cây lấy đường, cây lấy dầu, cây họ đậu, phẩm chất lá dâu.

    Các khảo sát của các cơ quan nghiên cứu Việt nam cho thấy phân lân nung chảy có hiệu quả đặc biệt cho các cây trồng sau đây: lúa, ngô, lạc đậu, đỗ, mía, dâu tằm, dứa, hồ tiêu, chè, cà phê, cao su, đồng cỏ chăn nuôi và các vùng đất chua PH < 5, vùng đất bạc màu, đất chua mặn (đất phèn) đất cát ven biển, đất trũng lầy thụt, đất đồi feralit chua.

    Mặt yếu của loại phân này là hiệu quả hơi chậm đặc biệt là ở vùng đất trung tính kiềm và quá nghèo lân, làm cho trong thời gian ngắn ban đầu cây sẽ không được cung cấp đủ lân.

    Cách khắc phục đơn giản là:

    – Nếu đất quá nghèo lân, vài vụ đầu nên bón cao hơn mức bình thường 20%, các vụ sau giảm dần.

    – Sử dụng phối hợp supe lân và phân lân nung chảy, phân supe lân dễ tan hơn đảm bảo nhu cầu lân cho cây giai đoạn đầu. Phân lân nung chảy ít bị cố định hơn chuyển dần ra cung cấp lân cho cây ở các thời vụ sau. Lưu huỳnh trong supe lân và magie trong phân lân nung chảy đều là hai yếu tố có thể được xem là yếu tố phân bón cho các vùng nhiệt đới sản xuất thâm canh.

    Tỷ lệ phối hợp có thể là 1/3 – 1/2 supe lân và 1/2 đến 2/3 phân lân nung chảy. Đối với các cây ưa đất chua, cần nhôm và lưu huỳnh như chè, cà phê, ca cao bón phối hợp supe lân và phân lân nung chảy lại càng cần thiết.

    Vấn đề độ mịn của phân lân nung chảy cũng là vấn đề đang tranh cãi. Phân lân nung chảy không tan trong nước mà chỉ tan trong axit yếu, gần như không di động trong đất. Rễ cây chỉ lấy được phân khi lông hút tiếp cận được với hạt phân. Điều này làm cho nhiều nhà nghiên cứu muốn phân phải được nghiền mịn để phân có thể tiếp xúc trực tiếp với rễ. Tuy nhiên, nếu nghiền mịn sự tiếp xúc nhiều giữa phân với đất cũng làm cho lân bị đất cố định mặc dù phân lân nung chảy là loại phân lân ít hòa tan. Hiện tượng này cũng đã gặp khi bón phân lân nung chảy và supe lân trên đất phèn mới khai hoang. Trên loại đất chua phèn có khả năng hấp phụ cao này bón supe lân cho lúa đầu vụ cuối vụ đã mất hiệu lực. Bón làm 3 lần một lần bón lót và 2 lần bón thúc cho năng suất cao hơn. Nếu bón phân lân nung chảy dạng bột cuối vụ cũng thể hiện thiếu lân nhưng không rõ bằng, bón thúc 1 lần bằng phân lan nung chảy tốt hơn bón lót tất cả. Điều này chứng tỏ rằng trên các loại đất có độc chua cao, có tình trạng bốc phèn, bón phân lân nung chảy dạng bột mịn chưa chắc đã tốt bằng dạng không nghiền mịn.

    Cũng như tất cả các loại phân lân khác, phân lân nung chảy thường được dùng để bón lót. Các thí nghiệm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cho thấy trộn phân lân nung chảy cùng với hạt giống lúa để gieo hiệu quả rất tốt. Cách trộn này cũng có thể áp dụng cho các loại hạt giống khác.

    Bón lót phân lân nung chảy cho ruộng lúa cần bón trước lúc bừa cấy để trộn lân phân với đất. Đối với ruộng trồng hoa màu có thể bón lót vải ra ruộng, bừa kỹ trước khi lên luống hoặc bón theo hàng theo hốc nhưng cần dùng cuốc đảo đều để trộn lẫn phân với đất. Đối với cây lâu năm nên bón sớm lúc đặt cây và bón vào rãnh cùng phân hữu cơ vào cuối vụ đông.

    Phân lân nung chảy không thể dùng để hòa nước tưới và phun lên lá. Chỉ nên trộn phân lân nung chảy với phân chuồng trước khi bón, không nên trộn với phân đem ủ như supe lân và photphoric vì phân lân nung chảy có thể làm mất đạm trong phân chuồng. Phân lân nung chảy cũng không nên trộn với nước giải vì lý do mất đạm. Khi dùng phân đạm bón lót có thể trộn với phân lân nung chảy để cùng bón, nhưng không nên để quá lâu trong điều kiện ẩm.

    * Phân lân nước ót. Nước ót là nước thừa ở ruộng muối đã kết tinh. Trong nước ót có các muối NaCl, KCl, MgCl2, MgSO4, MgBr2và một số vi lượng. Khi nung apatit với nước ót cũng thu được một số loại phân lân nung chảy có các nguyên tố có ích cho cây như Na, K, Mg, Si.

    Phối hợp nước ót cùng với các nguyên liệu không kiềm khác để sản xuất loại phân có nhiều yếu tố mà không chảy nước là hướng có nhiều triển vọng đối với một nước có thể sản xuất nhiều muối như nước ta.

    * Renanit: Còn gọi là phân lân thiêu kết. Quặng kiềm để sản xuất các loại phân lân này là Na2CO3, NaOH hoặc K2CO3, KOH hoặc có khi dùng Na2SO4. Khi nung tạo ra Na2O là một chất kiềm mạnh, đẩy flo ra khỏi tinh thể và làm cho phân trở thành dễ tiêu hơn. Nhiều khi người ta còn sử dụng Canxi.

    Loại phân này thích hợp cho các vùng chua nghèo natri, nhưng cần chú ý ảnh hưởng xấu của natri làm phân tán keo đất, làm xấu lý tính đất, đất bị chai cứng dễ nứt nẻ.

    * Photphat cứt sắt (còn gọi là phân lân tomat hay Tomat solac).

    Khi luyện thép theo quy trình do Thomas đề nghị, để loại bỏ lân có trong quặng sắt với vôi. Sắt kết hợp với vôi tạo thành các tinh thể tetra canxi photphat Ca 4P 2O 9. Có khả năng hoặc phức hợp của solicophotphat hòa tan nhiều trong xitrat amon có thể đến 75-90% lân tổng số. Trong photphat cứt sắt còn có 15-55% CaO trong đó có 80% CaO có hoạt tính cao (như vôi bột), cho nên photphat cứt sắt cũng có tác dụng khử chua cao như phân lân nung chảy.

    Ưu điểm của photphat cứt sắt là có thể cung cấp thêm một số vi lượng, rất đáng kể. Trong 1 tấn có 25 – 50 kg mangan và magie, 10 – 60 g đồng, 2 – 5 g coban, 5 – 10 g molybden.

    Photphat cứt sắt là loại phân được sử dụng rộng rãi ở Pháp và các nước EU, tỷ lệ có thể lên đến 30% số lượng lân sử dụng. Trong tương lai khi công nghiệp luyện thép của các nước EU thay đổi, mặt hàng photphat cứt sắt không còn nữa cần có mặt hàng khác thay thế vì vậy phân lân nung chảy đang được thị trường châu Âu để ý đến.

    * Photphan. Photphan là loại phân sản xuất từ alumino – canxi-photphat là loại quặng có lân giàu nhôm có nhiều ở vùng Thiêt- Senegan. Đó là một loại phân có hàm lượng lân cao 34% P2O5 trong đó có 26% hòa tan trong amon xitrat và 8% ở dạng khó tan. Loại này thường dùng để trộn thành phân phức hợp dễ bảo quản. Người ta trộn thêm Mg, Bo và vi lượng.

    Kỹ thuật sử dụng photphan tương tự các loại phân lân nung chảy.

    2.2. Phân lân nung chảy không dùng hoặc ít dùng phụ gia kiềm.

    * photphat khử Fluo: Còn gọi là phân lân thủy nhiệt vì vừa dùng tác động nhiệt, vừa dùng tác động hơi nước để phá vỡ tinh thể apatit và đẩy fluo ra khỏi tinh thể. Phân là một hỗn hợp canxi photphat và canxi silicat. Hàm lượng lân trong phân tùy thuộc lân trong apatit được sử dụng, từ 20 – 22 % P2O5 với quặng nghèo, 30 – 32 % P 2O 5 với quặng giàu trong đó có từ 70 – 92 % lân hòa tan trong axit xitric.

    * Metaphôtphat. Metaphôtphat và pyrophotphat có thể sản xuất từ các axit metaphophoric hoặc axit pyrophotphoric như đã nói ở trên, đồng thời cũng có thể sản xuất bằng phương pháp nhiệt bằng cách khử mono canxiphotphat ở T = 275 – 300 oC hoặc bằng cách nung quặng apatit và P 2O 5 ở nhiệt độ 1000 – 1200 oC. Metaphôtphat có hàm lượng lân cao, trên lý thuyết có đến 71,7% P 2O 5, phân thương trường có 60 – 65% P 2O 5 phần lớn tan trong axit xitric 2%, ngoài ra còn có 25% CaO và 4 % SiO 2.

    Các loại metaphotphat, pyrophotphat, supe lân ít tan, phân lân kết tủa, phân lân nung chảy; phân lân nước ót, photsphan, photphat khử fluo, renanit, photphat cứt sắt dầu cách sản xuất có khác nhau, theo quy trình tác động bằng axit hay tác động nhiệt đều có một đặc điểm chung, thành phần lân không hòa tan trong nước mà chỉ hòa tan trong axit xitric, hoặc xitrat trung tính thuộc nhóm phân lân ít hòa tan. Các loại phân lân sản xuất từ axit hòa tan cao trong dung môi xitrat trung tính tương tự supe lân, còn các loại sản xuất theo quy trình nhiệt hòa tan cao trong điều kiện axit. Các loại phân lân này đều cùng một số đặc điểm chung về cách sử dụng:

    – Có ưu thế đặc biệt ở đất chua.

    – Tốt nhất là bón lót sớm.

    – Hiệu quả ban đầu hơi chậm nhưng kéo dài đến cuối vụ và vụ sau.

    Các loại sản xuất từ quy trình nhiệt kiềm thường khủ chua mạnh hơn và có chứa một số vi lượng có ích.

    2.3. Một số loại khác ít phổ biến.

    * Phân lân ở dạng nước.

    Đó là hỗn hợp các axit photphoric như axit octophotphoric H3PO4, axit pyrophotphoric H 4P 2O 7, axit triphotphoric H 5P 3O 10, axit tetraphotphoric H 6P 4O 10… Sản phẩm chứa đến 75 – 79% P 2O 5.

    * Photphin. Là hỗn hợp các photphua hydro hóa lỏng nước ở nhiệt độ – 88 oC và chuyển sang thể rắn ở nhiệt độ -134 o C. Phân có chứa đến 91% P.

    3. Các loại phân lân tự nhiên.

    Đó là loại quặng khai thác từ các mỏ dùng làm phân bón. Các mỏ này có nguồn gốc do núi lửa phun ra tạo thành hoặc do lân tích đọng ở đáy biển tạo thành. Lân trong các loại quặng này đều là các hợp chất photphat canxi có chứa gốc Cl, F, OH hay CO 32- . Tùy theo thành phần hợp chất, nguồn gốc thành tạo mà phân làm hai loại apatit và photphorit. Apatit phần lớn có nguồn gốc phún xuất và có cấu trúc tinh thể hoặc vi tinh thể và cũng khó phá vỡ, khó dùng để bón trực tiếp. Apatit Lào Cai cũng thuộc về loại này. Các loại quặng nguồn gốc trầm tích, cấu trúc vô định hình, dễ phá vỡ có thể dùng để bón trực tiếp gọi là photphorit. Các loại này thường lẫn lộn với đất có nhiều chất hữu cơ và tỉ lệ Fe, Al cao.

    3.1. Photphorit.

    Photphorit sử dụng ở các nước EU đều lấy từ các mỏ của Bắc Phi, Mỹ, canada, SNG. Mỏ này nhỏ trữ lượng ít hàm lượng lân thấp. Trong các hang núi đấ vôi ven bờ biển (Còn gọi là phân lèn). Các núi đá này rải rác ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Bắc Thái, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình. Tính chất các loại này gần giống photphorit Vĩnh Thịnh.

    Cần phân biệt phân lèn là photphorit chính cống với loại phân cũng lấy được từ trong hang đá nhưng là xác của phân dơi, chim chóc sống lâu trong hang đá để lại. Loại phân này là một loại phân đặc biệt giàu chất dinh dưỡng rất tốt, dùng như các loại phân hữu cơ nhiều yếu tố N, P, K và vi lượng khác hẳn photphorit thông thường.

    Chất lượng của photphorit được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau:

    – Tính chất vật lý- xốp nhẹ.

    – Tính chất hóa học: Lân tổng số và lân tan trong axit citric cao, tỷ lệ CaO cao và tỷ lệ P2O3 thấp, hàm lượng fluo thấp.

    Chất lượng photphorit thay đổi rất nhiều tùy nơi khai thác. Các loại photphorit của Maroc, Angieri, Mỹ, Canada chất lượng tốt được nghiền bón trực tiếp và có tín nhiệm trên thị trường. Photphorit ở mỏ Vĩnh Thịnh và các núi đá vôi nhiều sắt nhôm, tỷ lệ lân thấp thay đổi rất nhiều tùy nơi khai thác. Hàm lượng P 2O 5 tổng số thay đổi từ 10-31% P 2O 5.

    Ưu điểm chính của bột photphorit là có khả năng khử chua, hiệu lực lâu dài trong nhiều vụ.

    Nhược điểm chính là không phải đất nào, cây nào bón photphorit cũng có hiệu lực. Ở đất trung tính và ít chua, photphorit chỉ có hiệu lực rõ đối với một số cây họ đậu và cây phân xanh, cây họ thập tự.

    Ở đất chua pH< 5,5 hiệu lực của photphorit mới rõ. Đất càng chua hiệu lực càng rõ. Hiệu lực photphorit rõ nhất ở các chân ruộng trũng, lầy thụt giàu hữu cơ.

    3.2. Apatit.

    Apatit phần lớn là các mỏ thành tạo có nguồn gốc phún xuất, nhưng cũng có mỏ có nguồn gốc trầm tích. Mỏ apatit Lao Cai thuộc loại sau.

    Quặng loại 3 được làm giàu để sản xuất supe lân. Quặng loại hai dùng để sản xuất phân lân nung chảy.

    Trong 3 loại quặng, quặng 1 có cấu trúc tinh thể, ít bền chặt, dễ phá vỡ, có thể nghiền bón trực tiếp, nhưng hàm lượng P 2O 5 cao nên dùng để sản xuất supe lân và xuất khẩu. Quặng loại 3 có hàm lượng P 2O 5 thấp có thể dành nghiền bón trực tiếp nhưng tinh thể khá bền vững, hiệu lực kém hơn.

    Hiệu lực các loại phân bón khó tan dùng bón trực tiếp phụ thuộc vào sự tiếp xúc của các phân với đất và rễ cây. Dựa vào axit do rễ cây tiết ra và dựa vào độ chua của đất mà các loại phân khó tiêu trở thành dễ tiêu. Cây có thể sử dụng được. Các biện pháp chính để làm tăng hiệu quả các loại phân lân này là:

    – Nghiền mịn: Độ mịn càng cao càng có hiệu quả. Phân phải có độ mịn đạt 20% qua rây 0,25 mm mới có thể làm tăng năng suất khá. Nếu giá thành cho phép tốt nhất là 100% qua rây 0,10 mm.

    – Bón sớm: các loại phân lân khó tan chỉ có thể bón lót. Bón tập trung theo hàng hoặc hàng cây tốt hơn bón vãi ra ruộng vì phân dễ tiếp xúc với cây hơn. Trong trường hợp dùng với lượng lớn để vừa cải tạo độ chua vừa cung cấp cho cây mới nên bón vãi và cày bừa trộn đều trong toàn tầng đất canh tác.

    – Ủ với phân chuồng để lợi dụng chất chua khi chất hữu cơ phân giải. Trộn photphorit với các loại phân vô cơ có khả năng gây chua như amon sunfat, amon clorua hay các loại phân Kali cũng có tác dụng làm tăng hiệu lực của phân.

    Cũng như các loại phân ít hòa tan, sự phối hợp phân lân khó tiêu với các loại phân lân dễ tiêu thường có tác dụng tốt. Nhà máy supe lân Long Thành đã có sáng kiến xuất loại supe lân PA bằng cách trộn supe lân sau khi ủ 5 ngày với bột đá xà vân và bột apatit hoặc bột phophorit. Loại phân này có tác dụng giống như các loại phân snr xuất theo quy trình chậm tan.

    Lượng bón các loại phân khó tiêu nên cao hơn supe lân 1,5 – 2 lần.

    4. Phân lân vi sinh:

    Lân trong đất thường tồn tại dưới hai dạng:

    Các hợp chất lân vô cơ và các hợp chất lân hữu cơ. Lân hữu cơ chiếm khoảng 25 – 50 % tổng số lượng lân trong đất tùy thuộc lượng hữu cơ và mùn trong đất nhiều hay ít. Ở đất mới khai phá, đất vùng ôn đới, mùn nhiều, lân hữu cơ rất cao. Khi có nhiệt độ thích hợp, không quá thấp các vi sinh vật phân giải chất hợp chất hữu cơ chứa lân thành lân vô cơ cung cấp cho cây. Nhiệt độ dưới 20 oC, hoạt động này ngừng lại, cây trồng sử dụng lân chủ yếu dưới dạng vô cơ chứa sẵn trong đất. Khi nhiệt độ từ 35oC trở lên sự giải chất hữu cơ rất mạnh nguồn cung cấp lân dựa nhiều vào lân hữu cơ phân giải ra.

    Quá trình phân giải lân hữu cơ có sự tham gia của một loại vi sinh vật đặc biệt gọi là vi sinh vật phân giải lân hữu cơ (Bacillus megatherium phosphaticum). Để tăng cường sự phân giải lân hữu cơ trong đất người ta đã tuyển chọn các dòng có khả năng phân giải mạnh bổ sung thêm vào đất. Đó là các loại phân vi sinh vật phân giải lân hữu cơ. Loại phân vi sinh vật phân giải lân hữu cơ này chỉ có hiệu quả trên đất ôn đới giàu hữu cơ. Đất vùng nhiệt đới nghèo hữu cơ và mùn ít có triển vọng.

    Trong đất cũng có các loài vi sinh vật chuyển hóa các dạng lân vô cơ khó tiêu thành dạng lân vô cơ dễ tiêu. Loại vi sinh vật phân giải lân vô cơ khó tiêu này tìm thấy nhiều ở chung quanh rễ các loại cây họ đậu, rễ bèo dâu, rễ lúa các dòng kháng thiếu lân. Người ta cũng đã thử sử dụng các dòng vi khuẩn này để sản xuất phân vi sinh vật phân giải lân vô cơ bón vào đất. Tuy nhiên các dòng vi khuẩn này chỉ có thể phân giải canxi photphat mà trong đất nhiệt đới chứa lân vô cơ khó tiêu tồn tai dưới dạng sắt photphat và nhôm photphat là chính. Vì vậy triển vọng của phân vi sinh vật phân giải lân vô cơ ở đất nhiệt đới chua cũng không có gì là hấp dẫn.

    Các nhà nghiên cứu chú ý vận dụng vai trò của vi sinh vật phân giải lân vô cơ theo một hướng khác. Nhờ phát hiện được các giống có khả năng phân giải lân vô cơ mạnh nên có triển vọng dùng các dòng này để thay thế vai trò của axit và nhiệt chuyển lân vô cơ khó tiêu thành dạng dễ tiêu để sản xuất phân lân. Nguyên lý cơ bản củ giải pháp này là dùng hỗn hợp hữu cơ tươi như bã mía, rỉ đường làm nguồn gốc cung cấp năng lượng cho hoạt động của vi sinh vật phân giải photphorit hay apatit (thường là các photphorit mềm, hợp chất lân dễ phân giải) thành dễ tiêu hơn. Các nhà nghiên cứu còn hi vọng rằng quá trình lên men có thể tạo ra các chất điều hòa sinh trưởng, chất diệt nấm, cố định đạm nên tên là phân lân hữu cơ vi sinh.

    Đây là vấn đề mới. Khó khăn cơ bản là có dòng vi khuẩn có khả năng phân giải nhanh và sự cung cấp đủ chất hữu cơ cho quá trình lên men, bảo quản phân cho đến lúc sử dụng không mất chất dinh dưỡng và giữ được số vi sinh vật trong phân theo đúng quy định. Phân cần đảm bảo yêu cầu tối thiểu của một loại phân lân chế biến công nghiệp có tỷ lệ P2O5 trong phân lân ít nhất là trên 10 % với 80 % lân hữu hiệu.

    Hệ số sử dụng lân của cây trồng rất thấp. Hệ số sử dụng biểu kiến chỉ đạt tối đa 30%. Tăng hệ số sử dụng thêm khoảng 10% nữa hết sức khó khăn. Cho nên các quy trình sử dụng phân lân vi sinh không nên đưa ra các mức bón quá thấp so với quy trình hướng dẫn khuyến nông. Ví dụ quy trình khuyến nông hướng dẫn bón cho cây lúa là 60 kg P 2O 5/ha thì các quy trình khuyến nông sử dụng phân vi sinh ít nhất cũng đảm bảo cung cấp cho cây ít nhất 90% số đó, 54 kg P2O5 / ha/vụ.

    Cần đảm bảo đủ đạm cho cây phát triển. Các loại phân hữu cơ vi sinh, khó có khả năng tăng lượng đạm trong đất nhiều cho nên các quy trình sử dụng phân lân hữu cơ vi sinh nên đảm bảo bón đủ đạm cho cây, ít nhất 80 % số lượng đạm cần bón theo quy trình hướng dẫn khuyến nông. Ví dụ quy trình hướng dẫn nên bón 120 kg/ha/vụ cho lúa chiêm xuân ở vùng đồng bằng bắc bộ thì tổng số lượng đạm đưa vào cho cây lúa nếu sử dụng phân lân hữu cơ vi sinh cần đạt ít nhất là 96 kg N/ha/vụ.

    Sự phối hợp với các loại phân khoáng (phân đạm, lân, kali) thích hợp, đảm bảo đủ để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng là điều kiện quan trọng để phát huy được hiệu quả. Một hình thức phối hợp giữa phân lân hữu cơ vi sinh và phân khoáng như vậy nếu chi phí bón phân không vượt quá xa quy trình đang được áp dụng có thể được nông dân chấp nhận và sẽ rất có ích cho vùng đất cát biển, đất bặc màu những nơi thiếu hữu cơ nghiêm trọng và hoạt động của vi sinh vật yếu. Đó là bài toán khó khăn mà các nhà sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh đang phải tiếp tục giải để có thể đứng vững.

    Hiện nay có nhiều nhà sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh như phân lân hữu cơ Thiên Nông, phân lân sinh hóa hữu cơ Komix của công ty sinh hóa nông nghiệp và thương mại thiên Sinh, phân sinh hóa hữu cơ Biomix của công ty phân bón hóa chất Kiên Giang, Biofer của Hội phân bón Việt Nam… đều sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh.

    Một loại phân lân khác gọi là Biosuper (phân lân super vi sinh) được sản xuất bằng cách trộn photphorit với các sản phẩm có chứa lưu huỳnh như than bùn sú vẹt hoặc đất có chứa lưu huỳnh thấp vùng mỏ lưu huỳnh (thiobacillus, thiooxidant). Loại vi sinh vật này oxy hóa S thành axit sunfuric, dựa vào axit tạo ra để chuyển lân khó tiêu thành dạng dễ tiêu. Các nhà sản xuất Australia và Canada đã sản xuất theo cách này và đưa ra thử nghiệm rộng rãi. Kết quả thử nghiệm cho thấy nguyên liệu sử dụng cần chứa lượng S đáng kể đủ để chuyển hóa các quặng lân khó tiêu. Hàm lượng lân trong sản phẩm thấp, hiệu lực không bằng supe lân và họ cho rằng các sản phẩm kiểu này có thể sử dụng tốt cho đồng cỏ hoặc đất khai hoang để phục hồi đất hoang và sử dụng cho các nước đang phát triển mà công nghiệp phân bón chưa phát triển.

    5. Chọn loại phân lân như thế nào?

    Các loại phân lân được chia thành 3 nhóm chính;

    1/ Các loại dễ hòa tan bao gồm các nhóm lân chế biến bằng axit, lượng axit sử dụng đến mức tạo thành các photphat 1 canxi dễ tan trong nước. Tùy mức axit thừa 1-3% axit photphoric mà có mang tính chua nhiều hay ít. Do có còn một ít axit nên phân dễ hút ẩm. Các loại phân này thích hợp nhất ở các loại đất kiềm và trung tính vì phân có khả năng làm giảm độ kiềm của đất và tồn tại ở dạng cây dễ sử dụng. Ở các loại đất quá kiềm hoặc quá chua nhất là các đất quá chua sử dụng loại phân này (trừ đất lúa) nên dùng các loại phân viên. Nhờ được viên nên phân ít tiếp xúc với các nhân tố trong đất (canxi ở đất kiềm, sắt nhôm dễ đông ở đất chua và các keo đất mang dấu hiệu dương trong đất chua) làm giảm độ hòa tan.

    Các loại phân lân giàu và rất giàu chứa ít lưu huỳnh ở dạng canxi sunfat thích hợp cho đất mặn chua ven biển giàu sunfat, đất trũng lầy thụt nhiều hữu cơ yếm khí. Trên 2 loại đất này, lưu huỳnh có thể làm tăng ion sunfat đến mức gây ngộ độc (đất mặn sunfat) hoặc làm tăng lượng H2S gây độc (đất lầy thụt yếm khí trồng lúa).

    Supe lân thông thường có lợi cho đất thoái hóa, bạc màu, nghèo hữu cơ, nghèo lưu huỳnh, đất cát, thâm canh không có điều kiện hoàn trả hữu cơ; đất đồi thoái hóa, do cả hai mặt: cung cấp P và S. Nó cũng có lợi cho các cây cần nhiều S cây họ thập tự, họ hành tỏi, cây lấy dầu thuộc họ lạc, đậu đỗ, cau dừa chúng tôi các loại cây họ chè (chè, cà phê, ca cao) và cây lấy mủ.

    2/ Các loại phân ít hòa tan và khó hòa tan thường rất hữu hiệu đối với các loại đất chua, giàu hữu cơ và sét dễ làm cho lân trong phân chuyển thành dạng khó tan.

    Chỉ các loại đất có độ chua cao pH KCl< 5 và thành phần cơ giới của đất từ thịt trung bình trở lên đến thịt nặng và sét mới nên sử dụng các loại quặng tự nhiên khó tan như apatit và photphorit. Các loại phân lân ít hòa tan (không tan trong nước chỉ tan được trong axit citric 2%) như các loại phân lân axit hóa một phần (phân lân chậm tan), các loại phân lân chế biến bằng nhiệt (phân lân nung chảy) hiệu quả trên đất trung tính hoặc ít chua không kém supe lân nhưng trên đất chua càng phát huy được ưu điểm khử chua và sắt nhôm di động.

    Sự cung cấp điều hòa lân trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của cây trồng rất có lợi cho cây vì vậy sự phối hợp với tỷ lệ thích hợp khoảng 70% phân lân ít hòa tan có lợi cho mọi trường hợp.

    Các loại phân lân chế biến bằng quy trình nhiệt thường giàu canxi, magie, natri có khi có cả kali và vi lượng thường có lợi cho đất cát, đất bặc màu, đất đồi thoái hóa. Trên các loại đất này cũng thường thiếu lưu huỳnh và kali. Sự phối hợp các loại phân này với supe lân hoặc kali sunfat, amon sunfat nên được chú ý.

    3/ Các loại phân được gọi là phân lân sinh hóa hữu cơ, nhiều chất hữu cơ hơn là lân. Đối với đất thiếu lân dễ tiêu cần được bổ sung thêm cho đủ lượng lân dễ tiêu cần thiết. Loại phân này có triển vọng tốt cho các loại đất cát, đất bạc màu, đất thoái hóa thiếu hữu cơ.

    Các loại phân lân có chứa N như DAP được nông dân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt vùng thấp Đồng Tháp mười, Hậu Giang chú ý vì hai lý do:

    – Đất thiếu lân dễ tiêu đến mức hạn chế trong lúc hữu cơ và đạm có trong đất tương đối khá. Đất tuy giàu đạm nhưng thiếu N dễ tiêu. Tỷ lệ 46 – 50% P2O5 và 18 – 20% N (tỷ lệ N-P:1-2,5) trong phân thích hợp cho loại đất như vậy với lúa năng suất trung bình.

    – Sự không có mặt gốc sunfat không độc hại do mặn sunfat và H2S trên đất vốn giàu ion sunfat này. Tuy nhiên trên loại đất này sử dụng phân lân nung chảy kết hợp với ure tỷ lệ 1,5 -1 cho lúa năng suất cao có lẽ lợi hơn vì hỗn hợp này còn khử chua và cố định sắt nhôm di động, giảm bớt độc và xúc tiến sự phân giải hữu cơ cung cấp thêm đạm. Nếu đất trồng trọt lâu ngày, tỷ lệ mùn và N đã suy giảm, dùng DAP cần bổ sung thêm cho đủ đạm. Trong trường hợp này dùng ure kết hợp với supe lân hay lân nung chảy chi phí sử dụng phân bón sẽ ít hơn.

    Giới thiệu các loại phân lân

    * Phân lân chế biến bằng axit

    Supe lân:

    + Loại thông thường: 16 – 24% P 2O 5 tan trong amon xitrat 2%; 8-12%S; 28% CaO

    Thể tích riêng: viên 107 – 124 dm3/100 kg phân bột 106 -122dm 3/100 kg

    + Loại giàu: 25 – 36 % P 2O 5 tan trong amon 2 % xitrat 6 – 8% S; 20 % CaO

    + Loại rất giàu: 36 – 38% P 2O 5 tan trong amon xitrat 2 %; 15% CaO lưu huỳnh không đáng kể.

    Thể tích riêng: viên 105 – 120 dm3/100 g

    Phân Metaphotphat canxi: 64 – 70% P2O5 tan trong amon xitrat 2 %

    Metaphotphat kali: 40 – 60% P 2O 5 tan trong amon xitrat 2%

    Phân lân kết tủa: 28 – 42% P 2O 5 tan trong xitrat amon 21%

    Phân DAP: 18 – 20% N; 46 – 50 % P 2O 5 tan trong amon xitrat 2%

    Thể tích riêng 90 – 110 dm3/ 100 kg.

    * Phân lân chế biến bằng quy trình nhiệt

    + Loại giàu: 20% P 2O 5 tan trong axit xitric 2%; 15% MgO; 32% CaO & SiO2: 24%; Thể tích riêng 67 – 71 dm3/100kg.

    + Loại trung bình: 17,5 – 18,5 % tan trong axit xitric 2%; 30 – 36% CaO; 15 – 17 % MgO; 24 – 30% SiO

    Thể tích riêng 67 – 70 % dm3/100 kg

    + Loại thấp: 15 % tan trong axit xitric; 28 – 32 % CaO; 17 – 20% MgO ; 24 – 30% SiO 2.

    Photphan: 34% tổng số 26 % tan trong amon xitrat

    Photphat khử fluo

    + Loại trung bình: 26 % tan trong amon xitrat

    Photphat cứt sắt: 14 – 22 % P 2O 5 tổng số; 10,5 -20% P 2O 5 tan trong axit xitric 2%

    * Các loại quặng tự nhiên chứa lân

    Photphorit thành phần rất thay đổi theo mỏ: 10 – 31% P2O5 tổng số.

    Apatit Lào Cai

    + Loại trung bình 23 – 31 % P 2O 5 tổng số

    + Loại nghèo < 23% P 2O 5 tổng số

    Hết phần 1

    Mời các bạn đón đọc phần 2: Hướng dẫn thực hành sử dụng phân lân

    Nguồn: camnangcaytrong.com

      Phân đạm là từ chung, dùng để chỉ các loại phân có chứa nitơ. Nhiều người muốn thay chữ phân đạm bằng phân Nitơ, nhưng chúng tôi thiết nghĩ…

      Bảng chỉ số dinh dưỡng cây trồng trong các loại nguyên liệu sản xuất phân bón: Tính chất, độ tan, hàm lượng, cách tính hàm lượng dinh dưỡng…

      Cẩm nang các loại phân đạm: Đạm Urea, Đạm Amonium Clorua, Đạm Amonium Sunphat (SA) tính chất, khả năng sử dụng, hàm lượng, công ty sản xuất…

      Lân là yếu tố phân bón có thể xuất hiện nhu cầu ngay khi đã bón đủ đạm. Có khi lân là yếu tố hạn chế năng suất chứ không phải là đạm. Bón đủ lân mới có thể…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chăm Sóc Đào Sau Tết Của Các Nghệ Nhân
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Đào Sau Tết
  • Gợi Ý 5 Loại Bón Phân Vô Cơ Cho Cây Đào Cảnh Chất Lượng Hiện Nay
  • Cách Chăm Sóc, Sử Dụng Phân Bón Cho Cây Sầu Riêng Giai Đoạn Nuôi Trái
  • Bí Quyết Chăm Sóc Và Lựa Chọn Phân Bón Sầu Riêng Non Đạt Năng Suất Cao
  • Kiều Vàng, Đùi Gà, Kim Điệp Giấy, Nhất Điểm Hoàng, Ý Ngọc, Ngọc Thạch, Phi Điệp Vàng, Tam Bảo Sắc, Kim Thoa, Long Nhãn 07

    --- Bài mới hơn ---

  • Vài Chuyện Linh Tinh Của Tôi Và Sát Thủ
  • Đại Võ Hiệp Thế Giới
  • Hoa Nhài Ra Hoa Mùa Nào? Mùa Hoa Nhài Vào Tháng Mấy
  • Chụp Hình Hoa Cúc Họa Mi Hà Nội Ở Đâu Đẹp Nhất? * Du Lịch Số
  • Ý Nghĩa Và Công Dụng Của Cây Nhất Mạt Hương
  • Chào mọi người, 07/06/2018 chúng tôi bán các loại Hoa Lan sau:

    Địa chỉ: Số 15, ngách 62, ngõ 20 đường Mỹ Đình, Hà Nội (sau bến xe Mỹ Đình khoảng 500m). (Luôn gọi điện trước khi đến để biết chắc chắn có nhà hoặc còn hàng hay không)

    1. Kiều vàng/ Thủy tiên vàng (Dendrobium Thyrsiflorum): Kiều Vàng thân tròn, có nhiều rãnh chạy dọc thân, xanh sẫm, thường dài khoảng 30-60cm, lá mỏng thường to gần bằng lòng bàn tay, ít rụng vào mùa đông, xanh quanh năm. Hoa chùm gồm nhiều bông cánh trắng, lưỡi vàng 1 màu, chùm hoa kín tròn một màu trắng với những đốm vàng lung linh. Cây thuộc họ Kiều nên ưa ẩm và thoáng, thích nắng. Có thể trồng chậu hoặc ghép gỗ cho ngọn hướng thẳng hay chếch lên trời.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế:

    2. Hoàng thảo Đùi Gà (Dendrobium nobile): Có 2 loại là thân tròn và dẹt, thường dài từ 30 – 60cm có nhiều rãnh dọc thân, hoa ra ở các đốt đã rụng lá. Đùi gà là loại hoàng thảo rất ưa khô, thích hợp ghép gỗ, chỉ cần thỉnh thoảng tưới một ít nước đủ để ướt giá thể, nên làm mái che mưa cho loại này vì mưa dầm dài ngày có thể làm chết cây. Đây là một loại hoàng thảo có hoa chùm rất đẹp, mùa hoa thường trùng dịp Tết nguyên đán, ưu điểm hoa bền khoảng 25-30 ngày nên là loại hoa rất hay để chơi Tết.

    Đùi gà không ưa bón nhiều phân, có thể phun B1 hàng tuần là đủ.

    Ảnh hoa mẫu sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế:

    3. Kim Điệp Giấy (Dendrobium capillipes): Là loại hoàng thảo thân ngắn thường dài khoảng 7-15 cm, thân màu vàng hoặc xanh, có lá mỏng ở gần ngọn. Loại này ưa khô ráo, ưa nắng, khi trồng nên chọn giá thể thoát nước nhanh như than củi trộn vỏ thông, có thể dùng chậu đất nung, chậu nhựa, dớn chậu hoặc ghép gỗ khúc, mới trồng xong treo râm mát, tránh mưa trực tiếp, hàng ngày xịt nước vào gốc một lần, phun B1 hoặc Atonik vào gốc 5 ngày/lần.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế:

    4. Hoàng thảo kim thoa (Dendrobium clavatum): Cây khá giống với Hoàng thảo Long Nhãn (Dendrobium fimbriatum) nhưng thân nhỏ hơn, mang nhiều sắc vàng, dài khoảng 50-70cm, do thân cứng nên thường mọc thẳng, thích hợp trồng trong chậu đất hoặc gỗ. Chú ý độ nặng của chậu để đối trọng với cây sao cho khi cây đứng chậu không bị lật. Cũng có thể cho bám gỗ nhưng cây ưa ẩm nên nếu bó gỗ thì phải tưới nhiều hơn. Cây ưa nắng.

    Ảnh cây thực tế:

    5. Hoàng thảo Nhất Điểm Hồng (Dendrobium draconis): Nhất Điểm Hồng mọc thành từng bụi sống phụ sinh trên các thân cây cao. Thân cây nhất điểm hồng mọc thẳng đứng ngả màu xanh vàng, cao khoảng 25-40 cm, có khoảng 6-9 đốt, có lông đen bao bọc thân giả hành khi cây còn non. Lá cứng, hình trái xoan mọc so le trên thân, có 7 gân, dài 4-6 cm, rộng 1,5-3 cm. có lông đen bao phủ 2 mặt lá. Cây ưa khí hậu thoáng mát hơi lạnh. Giá thể nên chọn là lũa hoặc gỗ đã bóc hết vỏ hay dùng chậu gỗ không giá thể, thoáng đáy. Nếu trồng trên lũa thì nên đặt gốc cây nằm giữa thân gỗ để nghiêng sao cho khi tưới nước ít đọng lại ở phần gốc lan nhất. Tưới nước đủ ẩm khi cây non mới ra, đến khi được khoảng 4-5 lá thì giảm tưới. Đặc biệt chú ý tránh nước mưa trực tiếp kẻo thối.

    Loại lan này khá là nhạy cảm với các loại phân bón, chúng ưa thích những loại phân có nguồn gốc hữu cơ (phân cá, rong biển…) hơn là phân bón vô cơ. Hạn chế sử dụng phân có hàm lượng nitơ (N) cao và mỗi lần tưới phân nên cách xa nhau 10-15 ngày.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế:

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế:

    8. Ngọc Thạch Bắc (Dendrobium Crystallinum): có hai dạng: Ngọc Thạch 3 màu gồm trắng, vàng, tím (Dendrobium crystallinum) và Ngọc Thạch 2 màu trắng, vàng (Dendrobium crystallinum var. alba – loại này hiếm gặp hơn nhưng cá nhân tôi thấy 3 màu đẹp hơn, tùy mỗi người). Đây lá loại hoàng thảo có kích thước dài khoảng 30-50cm, dễ nhận biết với thân căng mập gần như đều nhau từ gốc đến gần ngọn, chỉ thuôn tròn lại một chút tại đỉnh, thân già vàng ươm, bóng, các đốt không nổi to rõ ràng. Cây có tập tính rụng lá trước khi ra hoa. Lúc này, bụi lan gần như trơ trụi, không còn lá, giả hành có màu vàng rơm tươi. Khi nụ hoa mọc ra từ các đốt, đồng thời các mắt ngủ ở gốc cũng mọc lên những giả hành mới. Do đó khi hoa nở thì cây đã xanh lá, những giả hành mang hoa cũng không còn màu vàng rơm tươi mà chuyển dần sang sắc xanh bạc. Cụm hoa gồm 2 – 3 chiếc mọc ở các đốt. Hoa to, đường kính khoảng 5cm. Hoa loại này bền, màu sắc khá giống Ý Thảo 3 màu nhưng Ngọc Thạch cánh hoa và lưỡi xoăn hơn, tàn sau khoảng 20-30 ngày.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế:

    9. Phi điệp vàng (Dendrobium chrysanthum): Phi điệp vàng là loại hoàng thảo thân thòng nhìn rất đẹp mã, buông dài, kích cỡ lớn thường dài 0.8-1.3m, dài 2m cũng có, thân già và non đều thường mang màu xanh bóng có lớp vỏ bạc. Lá mỏng hình mác dài 10-15cm, ít rụng lá vào mùa đông. Phi điệp vàng khác với nhiều loại thân thòng khác khi hoa vẫn ra tại các đốt thân có lá, tại mỗi đốt thường có chùm từ 2-5 hoa vàng sẫm, cánh hoa tròn, dày, bóng không mở bung mà hơi cụp, họng hoa nhiều lông mịn có 2 đốm đen, hoa khá bền, có mùi thơm, mùa hoa Phi điệp vàng vào tháng 8-9 dương lịch.

    Ảnh mẫu hoa:

    Ảnh cây thực tế:

    10. Giáng hương Tam Bảo Sắc (Aerides falcata): Thuộc dòng giáng hương, đặc tính rất khỏe, rất dễ sống, nên ghép gỗ để có bộ rễ gió phát triển mạnh, nên buộc thêm ít xơ dừa hoặc dớn mềm gần gốc để giữ ẩm. Ghép xong treo nơi nơi râm mát, mùa hè tưới ẩm 2-3 lần/ngày, khoảng 3-5 ngày phun kích rễ một lần. Hoa Tam Bảo Sắc buông chùm rủ xuống gồm nhiều bông, thơm ngát mùi hoa hồng. Hoa nở khoảng cuối tháng 4-5 dương lịch.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    14. Chế phẩm Hùng Nguyễn: 20k/lọ 20ml

    Ảnh cây thực tế:

    11. Hạc vỹ Bắc (Dendrobium Aphyllum): Hạc vỹ thuộc dòng lan hoàng thảo thân thòng, bắt đầu vàng lá dần và rụng vào cuối thu. Cây ưa nắng, cần rất nhiều nước trong mùa phát triển. Có thể trồng bó trên gỗ lũa hoặc chậu đất nung nhưng ghép vào lũa hoặc khúc gỗ sẽ đẹp hơn do dáng cây thòng ngả xuống, khi ghép nên ghép 1 mặt để dễ trưng bày.

    Xuất xứ nhiều nơi từ Bắc vào Nam, Hạc Vỹ Bắc thân to mập hơn, mềm mọng nước, hoa màu đậm, to đẹp hơn (Hạc vỹ bắc xuất xứ từ Tây bắc) và có giá cao hơn so với Hạc vỹ miền nam hoặc Lào. Hoa chỉ mọc trên những đốt trụi lá, mỗi cụm hoa có từ 1 đến 3 hoa màu hồng phấn, cánh môi trắng có nhiều lông mịn, phía trong cánh môi có những đường gân ngang màu tím đậm, hoa có mùi thơm mát rất dễ chịu. Thân hạc vỹ dài nên khi hoa nở tập trung sẽ tạo thành một khóm hoa lớn tha thướt như đuôi hạc, có lẽ cũng vì thế chúng còn được gọi là Đại Ý Thảo.

    Nên để cây chịu nắng trực tiếp, sẽ cho bộ lá xanh và rất dày, Khi nuôi trồng Hạc Vỹ vào đầu mùa đông phải giảm tưới nước, giảm ánh sáng giúp cây đi vào giai đoạn khô hạn rồi rụng dần lá (mùa nghỉ của hoàng thảo). Với khí hậu miền Nam, lá rất chậm trở vàng và rụng, vì vậy người trồng thường phải cắt hết lá đi. Khi lá rụng hết, thân khô trắng, teo nhỏ dần, tưới rất ít vào mùa đông chỉ thi thoảng 10-15 ngày mới tưới phun sương vào rễ cho cây không quá khô quắt. Đến Tết âm lịch bắt đầu ấm dần thì tưới dần trở lại, tưới vào gốc hạn chế dính nước vào thân, có thể bón thêm NPK 10-30-10 một lần/tuần, chuẩn bị một mùa hoa rực rỡ.

    Hạc Vỹ là giống rất khỏe, thuộc loại dễ trồng, dễ thuần dưỡng nhất trong các loại phong lan thân thòng.

    Ảnh cây thực tế:

    12. Hoàng thảo Long nhãn (Dendrobium fimbriatum): Là loại hoàng thảo thân cứng nên trồng thẳng hoặc nghiêng chếch ngọn hướng lên trên. Long nhãn thân dài 60cm đến trên 1m, có thể đến trên 1.5m, thân già thường có màu xanh nâu, chồi và thân non mới nhú thường có rất nhiều chấm li ti màu tím hồng, đây cũng là một trong số các điểm thường được dùng để phân biệt với một loại hoàng thảo khác khá giống Long nhãn là hoàng thảo Kim thoa dù không hoàn toàn chính xác trong mọi trường hợp (thân cây Kim thoa thường nhỏ hơn, có màu vàng ươm). Long nhãn có hoa chùm màu vàng đẹp mắt, họng hoa nhiều lông tơ nổi bật một đốm đen lớn, nở vào khoảng cuối tháng 3-4 dương lịch. Thuộc họ thủy tiên không có mùa nghỉ nên cây ưa nắng nhưng cần ẩm, trồng trong chậu với than củi và ít vỏ thông lót dưới rễ, mới trồng đặt nơi râm mát, phun kích rễ như B1 hoặc N3M hàng tuần, ra rễ nhiều thì thôi kích rễ, chuyển ra nơi có nắng, đổi sang phun phân bón lá NPK 30-10-10 hàng tuần theo chỉ dẫn trên chai, mùa hè có thể tưới nước hàng ngày,

    Cây đã trồng lâu đến tháng 1-2 dương lịch bón nhiều Lân như NPK 10-30-10 hàng tuần để kích hoa.

    Ảnh mẫu hoa:

    Loại thuốc này có 6 tác dụng trong 01 lọ:

    – SIÊU KÍCH RỄ (Hiệu quả nhanh chóng từ 3-5 lần phun – 15 đến 25 ngày)– KÍCH KEIKI (Hiệu quả cao không hề thua kém hàng ngoại nhập giá cao trên thị trường hiện nay)– SÁT KHUẨN – KHÁNG BỆNH– BỔ SUNG NPK – DƯỠNG CÂY KHỎE MẠNH (có NPK tích hợp)– TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ GỈ SẮT Fe– PHÒNG – TRỊ NẤM

    Đặc biệt thích hợp khi mới mua lan rừng về, cắt rễ lan xong đem ngâm toàn bộ cây vào dung dịch Hùng Nguyễn rồi ghép để lan nhanh ra rễ. Thuốc này thì rất nhiều người dùng rồi và có phản hồi tích cực: nhanh chóng, tiện lợi, hiệu quả.

    Cách sử dụng: Đọc trong ảnh bên dưới. Cứ đếm khoảng 20 giọt là 1 ml thuốc, hòa với 1 lít nước lã mà dùng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đùi Gà, Tam Bảo Sắc, Nghệ Tâm, Trúc Mành, Da Báo, Ngọc Thạch, Sóc Ta, Ý Ngọc, Nhất Điểm Hồng, Vẩy Rồng Lào, Long Tu Lào, Hạc Vỹ Lào, Hoàng Phi Hạc, Đai Châu 11
  • Phòng Khám Đa Khoa Hồng Phong
  • Cách Trị Viêm Amidan Bằng Cây Thuốc Nam Quanh Nhà
  • Cách Chữa Viêm Khớp Dạng Thấp Bằng Thuốc Nam Hiệu Quả Nhất
  • Chữa Trào Ngược Dạ Dày Bằng Thuốc Nam Hiệu Quả Nhất
  • Đùi Gà, Tam Bảo Sắc, Nghệ Tâm, Trúc Mành, Da Báo, Ngọc Thạch, Sóc Ta, Ý Ngọc, Nhất Điểm Hồng, Vẩy Rồng Lào, Long Tu Lào, Hạc Vỹ Lào, Hoàng Phi Hạc, Đai Châu 11

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiều Vàng, Đùi Gà, Kim Điệp Giấy, Nhất Điểm Hoàng, Ý Ngọc, Ngọc Thạch, Phi Điệp Vàng, Tam Bảo Sắc, Kim Thoa, Long Nhãn 07
  • Vài Chuyện Linh Tinh Của Tôi Và Sát Thủ
  • Đại Võ Hiệp Thế Giới
  • Hoa Nhài Ra Hoa Mùa Nào? Mùa Hoa Nhài Vào Tháng Mấy
  • Chụp Hình Hoa Cúc Họa Mi Hà Nội Ở Đâu Đẹp Nhất? * Du Lịch Số
  • – Hoàng thảo Đùi Gà (tròn) (đã hết)

    – Giáng hương Tam Bảo Sắc (đã hết)

    – Hoàng thảo Nghệ Tâm (đã hết)

    – Hoàng thảo Trúc Mành (đã hết)

    – Da báo (đã hết)

    – Hoàng thảo Ngọc Thạch (đã hết)

    – Sóc ta (đã hết)

    – Hoàng thảo Ý Ngọc (đã hết)

    – Hoàng thảo Nhất Điểm Hồng (đã hết)

    – Vẩy rồng Lào (đã hết)

    – Long Tu lào (đã hết)

    – Hạc Vỹ Lào (đã hết)

    – Hoàng Phi Hạc (đã hết)

    – Đai Châu 2-3 cây/kg (đã hết)

    CHÚ Ý: * Bán tối thiểu 1kg/loại, muốn mua mấy loại cũng được. * Khách đến mua thông cảm không chọn theo ngọn, chỉ chọn theo bó đã buộc sẵn ai thích bó nào lấy bó đó (để công bằng cho khách ở xa và người mua sau, đảm bảo các bó đồng đều như nhau, ai cũng như ai không để xảy ra tình trạng người mua trước chọn cây đẹp hơn). Ai chấp nhận được thì hãy giao dịch. * Mọi người lưu ý không đến vào khoảng thời gian 4h-7h chiều các ngày từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần vì không có người ở nhà. Tốt nhất là điện thoại cho 0943184225 trước khi bắt đầu sang, chắc chắn có nhà thì mới đến. Địa chỉ: Số 8, ngách 62, ngõ 20 đường Mỹ Đình (sau bến xe Mỹ Đình – Hà Nội)

    Trên đường Phạm Hùng, rẽ vào đường Nguyễn Hoàng (đây chính là đường cổng vào xe khách bến xe Mỹ Đình), đi khoảng 200m gặp ngã tư thì rẽ trái 50m sẽ đến ngã 3 (có cổng thôn Phú Mỹ sơn trắng và mấy quầy hàng bán hoa quả), không đi xuyên qua cổng thôn mà rẽ phải đi qua quán Cafe Tũn khoảng 100m sẽ qua cổng Nhà văn hóa thôn Phú Mỹ thấy đầu ngõ mà có cắm biển báo ngõ 20 – đường Mỹ Đình. Đi thẳng vào ngõ 20 tìm nhà số 59 (ở bên tay trái), đối diện nhà 59 sẽ là ngách 62. Đi vào ngách 62 khoảng 30m thấy cột điện bên tay phải, rẽ vào đó mấy mét thấy nhà số 8 cổng màu xám. Kể chi tiết quá thấy hơi ngoằn ngoèo nhưng đi thì có tí thôi, đi một lần, lần sau sẽ nhớ =))

    Khách hàng ở xa chuyển khoản theo các Số tài khoản sau, đảm bảo an tâm, uy tín: VIETCOMBANK STK: 0491000024971 Chi nhánh: Thăng Long Chủ TK: Vũ Văn Ngọc AGRIBANK STK: 1302205173378 Chi nhánh: Trung Yên Chủ TK: Vũ Văn Ngọc

    1 Hoàng thảo Đùi Gà: Có 2 loại là thân tròn và dẹt, thường dài từ 30 – 60cm có nhiều rãnh dọc thân, hoa ra ở các đốt đã rụng lá. Đùi gà là loại hoàng thảo rất ưa khô, thích hợp ghép gỗ, chỉ cần thỉnh thoảng tưới một ít nước đủ để ướt giá thể, nên làm mái che mưa cho loại này vì mưa dầm dài ngày có thể làm chết cây. Đây là một loại hoàng thảo có hoa chùm rất đẹp, mùa hoa thường trùng dịp Tết nguyên đán, ưu điểm hoa bền khoảng 25-30 ngày nên là loại hoa rất hay để chơi Tết. Mùa đông hầu như không tưới, chỉ thi thoảng xịt nước vào gốc mặc kệ cho lá rụng nhiều, nếu chăm tưới sẽ đẻ keiki mà không cho hoa.

    Đùi gà không ưa bón nhiều phân, có thể phun B1 hàng tuần là đủ.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    2. Giáng hương Tam Bảo Sắc: Thuộc dòng giáng hương, đặc tính rất khỏe, rất dễ sống, nên ghép gỗ để có bộ rễ gió phát triển mạnh, nên buộc thêm ít xơ dừa hoặc dớn mềm gần gốc để giữ ẩm. Ghép xong treo nơi nơi râm mát, mùa hè tưới ẩm 2-3 lần/ngày, khoảng 4-5 ngày phun kích rễ B1, N3M hoặc Atonik một lần. Hoa Tam Bảo Sắc buông chùm rủ xuống gồm nhiều bông, thơm ngát mùi hoa hồng. Hoa nở khoảng cuối tháng 4-5 dương lịch.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    3. Hoàng thảo Nghệ Tâm: Là loại hoàng thảo thân thòng nhỏ, thân ngắn, mọng, lá hình mác nhỏ. Nghệ Tâm ghép giò phát triển nhanh và sai hoa rất đẹp, hoa cánh hồng tím họng vàng và có hương thơm, nghệ tâm thường được ghép gỗ treo nơi cao thoáng, nên treo dưới một lớp lưới phòng cháy nắng.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    4. Hoàng thảo Trúc Mành: Là loại hoàng thảo thân rất bé, dài 50cm – trên 1m và dễ nhận biết với các đốt phình to như chuỗi hạt cườm, lá rất nhỏ và thường rụng nhanh, cây ưa độ ẩm cao liên tục và mát. Thân tuy bé nhưng hoa to, thơm, sặc sỡ cực kỳ đẹp nở vào khoảng tháng 10-11 dương. Nên trồng bảng dớn hoặc ghép gỗ vỏ dày, đồng thời cài thêm lên đó chút rêu rừng, treo nơi cao thoáng mát và có ít nắng vào buối sáng, tưới nước giữ ẩm cho gốc trúc mành thường xuyên, tưới phun sương lên thân để cây luôn đủ nước.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    5. Da báo:

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    6. Hoàng thảo Ngọc Thạch: Ngọc Thạch có hai dạng: Ngọc Thạch 3 màu gồm trắng, vàng, tím (Dendrobium crystallinum) và Ngọc Thạch 2 màu trắng, vàng (Dendrobium crystallinum var. alba – loại này hiếm gặp). Đây lá loại hoàng thảo có kích thước dài khoảng 30-50cm, dễ nhận biết với thân căng mập gần như đều nhau từ gốc đến gần ngọn, chỉ thuôn tròn lại một chút tại đỉnh, thân già vàng ươm, bóng, các đốt không nổi to rõ ràng. Cây có tập tính rụng lá trước khi ra hoa. Lúc này, bụi lan gần như trơ trụi, không còn lá, giả hành có màu vàng rơm tươi. Khi nụ hoa mọc ra từ các đốt, đồng thời các mắt ngủ ở gốc cũng mọc lên những giả hành mới. Do đó khi hoa nở thì cây đã xanh lá, những giả hành mang hoa cũng không còn màu vàng rơm tươi mà chuyển dần sang sắc xanh bạc. Cụm hoa gồm 2 – 3 chiếc mọc ở các đốt. Hoa to, đường kính khoảng 5cm. Hoa khá bền, màu sắc khá giống Ý Thảo 3 màu nhưng Ngọc Thạch cánh hoa và lưỡi xoăn hơn, tàn sau khoảng 20-25 ngày.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    7. Sóc ta (Đuôi chồn): Một loại lan có họ với Ngọc Điểm (Rhynchostylis Gigantea) chứ không có họ hàng với Đuôi Cáo (Aerides Rosea) hay Sóc Lào (Aerides Multiflora), lá Sóc ta có các vạch trắng mờ chạy dọc giống Ngọc Điểm, rất dày, lá bé hơn Ngọc Điểm, nếu kích thước cây 2 loại này ngang nhau thì Sóc ta lại có chuỗi hoa dài hơn, một điểm khác nữa là lá Sóc ta xếp khép lại như lòng thuyền chứ không bản phẳng như Ngọc Điểm hay Đuôi Cáo. Có một điểm chung đây là các loại phong lan tuyệt đẹp và có hương thơm.

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    Ảnh hoa sưu tầm:

    Ảnh thực tế:

    9. Hoàng thảo Nhất Điểm Hồng: Nhất Điểm Hồng mọc thành từng bụi sống phụ sinh trên các thân cây cao. Thân cây nhất điểm hồng mọc thẳng đứng ngả màu xanh vàng, cao khoảng 25-40 cm, có khoảng 6-9 đốt, có lông đen bao bọc thân giả hành khi cây còn non. Lá cứng, hình trái xoan mọc so le trên thân, có 7 gân, dài 4-6 cm, rộng 1,5-3 cm. có lông đen bao phủ 2 mặt lá.

    Cây ưa khí hậu thoáng mát hơi lạnh.

    Giá thể nên chọn là lũa hoặc gỗ đã bóc hết vỏ hay dùng chậu gỗ không giá thể, thoáng đáy. Nếu trồng trên lũa thì nên đặt gốc cây nằm giữa thân gỗ để nghiêng sao cho khi tưới nước ít đọng lại ở phần gốc lan nhất. Tưới nước đủ ẩm khi cây non mới ra, đến khi được khoảng 4-5 lá thì giảm tưới. Đặc biệt chú ý tránh nước mưa trực tiếp.

    Loại lan này khá là nhạy cảm với các loại phân bón, chúng ưa thích những loại phân có nguồn gốc hữu cơ (phân cá, rong biển…) hơn là phân bón vô cơ. Hạn chế sử dụng phân có hàm lượng nitơ (N) cao và mỗi lần tưới phân nên cách xa nhau 10-15 ngày,

    10. Vẩy rồng Lào: Vảy rồng thuộc họ thủy tiên (kiều), thân ngắn, cứng, mỗi thân có 1 lá rất dày cứng ở đình, hoa chùm màu vàng tươi rực rỡ, lưỡi xòe rộng, thơm nhẹ.

    Có 2 loại Vảy rồng, loại thứ nhất giả hành có 4 cạnh tạo nên thân hình vuông hoặc hình thoi thường gọi vảy rồng ta; loại thứ 2 nhiều cạnh hơn, 7-8 cạnh tạo lên hình thân cây gần tròn (thường gọi là vảy rồng Lào), vảy rồng Lào thường có thân lá to hơn vảy rồng ta 2-3 lần, giả hành cũng xanh đều hơn. Cả 2 loại thân thường rất ngắn, các giả hành xếp sát nhau ôm lấy thân cây chủ tạo thành các mảng, từ xa nhìn giống như vảy rồng.

    Vảy rồng ưa ẩm ưa sáng. Trồng bám vào gỗ thích hợp hơn do kiểu đi của giả hành, chọn khúc lũa hình thù cổ quái uốn lượn để ghép thành 1 giò lớn sẽ có giá trị thẩm mỹ cao hoặc ghép thẳng vào thân cây đang sống cũng rất đẹp.

    11. Long Tu Lào: Long tu là loại lan thân thòng ngắn, thường dài 30-50cm, đốt ngắn, trên thân thường có 1 lớp vỏ mỏng rất dễ bong tróc, tại các đốt của thân có nốt lõm sâu. Dễ dàng nhận ra chúng bởi các mắt lõm trên thân tại các đốt trên thân già. Thân tròn, thường căng mập ngúc ngoắc, không có các lằn dọc trên thân kiểu đùi gà, hoàng phi hạc. Lá dầy, xanh bóng Lá dài 8-10 cm, rộng 2 cm. Hoa 1-2 chiếc ngang to 5-8 cm, mọc từ các đốt của thân cây đã rụng lá, hoa nở vào mùa xuân.

    Cách trồng Long tu cũng giống như Den.anosmum (Phi điệp tím) hay các giống lan rụng lá khác. Là loại cây rất dễ trồng, rất khỏe, ít đẻ keiki, ưa nắng, cứ ghép vào bảng dớn hoặc gỗ tùy ý tưới tắm khá thoải mái vẫn cho hoa đều; nên ghép vào mùa đông khi cây đang nghỉ, lá đã rụng nhiều, các mắt đang ngậm nụ, sau khi ghép chỉ chờ một thời gian ngắn sẽ được ngắm hoa, .

    Cây cần rất nhiều nước trong thời gian phát triển (mùa xuân – hè), mùa thu bớt tưới cho đến khi cây rụng hết lá thì dừng tưới.

    Hàng đẹp, cây đã xuống lá trồng cực tốt

    12. Hạc Vỹ Lào:

    13. Hoàng Phi Hạc: Thân dài 20-60 cm, cứng, thân to căng mập thường có màu vàng rơm, có nhiều rãnh dọc thân, gốc nhỏ, ở giữa phình to, ngọn thót nhỏ dần. Lá mềm và tròn đầu, rụng lá vào mùa Thu. Hoa to 5-7 cm, mọc 2 chiếc một ở các đốt phía gần ngọn của các thân đã trụi lá. Các hoa cánh bên và lá đài xoắn, môi trắng, môi cuội như cái phễu, họng môi màu vàng chanh. Hoàng phi hạc cũng có vài dạng hoa: cánh trắng họng vàng hoặc họng có 2 đốm nâu đen.

    Hoàng phi hạc ưa nắng, không thích ẩm nhiều, trồng có thể ghép vào gỗ, trồng trong giỏ treo nhưng cần giá thể thoát nước nhanh. Trồng ghép gỗ thì nên cách xa giá thể bằng cách chèn 1 cục than củi hoặc 1 cành cây nhỏ giữa gốc lan và giá thể. Trồng chậu thì nên dùng dớn cục to đặt vào chậu trước, cho gốc lan vào rồi lấy dây buộc các cọng thân vào quang treo sao cho gốc cách giá thể 2-3 cm, khi rễ mọc sẽ vươn bám xuống, tránh gốc lan tiếp xúc trực tiếp với giá thể.

    Tưới ẩm vừa đủ, để cây sát mép lưới hứng nắng buổi sáng. Mùa nở hoa: Hoa nở vào khoảng tháng 2-3, lâu tàn (khoảng 20-25 ngày).

    Xin vui lòng ấn nút Chia sẻ (Share) và chọn Facebook bên dưới bài viết này để chia sẻ bài đăng.

    Xin cảm ơn quý khách!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phòng Khám Đa Khoa Hồng Phong
  • Cách Trị Viêm Amidan Bằng Cây Thuốc Nam Quanh Nhà
  • Cách Chữa Viêm Khớp Dạng Thấp Bằng Thuốc Nam Hiệu Quả Nhất
  • Chữa Trào Ngược Dạ Dày Bằng Thuốc Nam Hiệu Quả Nhất
  • Chữa Eczema Bằng Thuốc Nam
  • Tìm Hiểu Lan Phi Điệp Đột Biến Trung Quốc Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Đánh Giá Hoa Lan_Đánh Giá Cô Nàng Phi Điệp Bạch Tuyết
  • Lan Phi Điệp 5Ct Phú Thọ
  • Phi Điệp Tím, Long Tu Lào 30
  • Lan Phi Điệp Hòa Bình
  • Tìm Hiểu Về Lan Phi Điệp Lá Mít Hoà Bình
  • Lan phi điệp đột biến Trung Quốc là gì?

    Những dòng phi điệp đột biến hiện nay được cho là xuất xứ từ Trung Quốc. Họ dùng công nghệ nuôi cấy mô và đột biến công nghiệp để tạo ra những dòng lan đột biến có giá trị. Trong số đó có dòng lan 5 cánh trắng hay còn gọi phi điệp tím đột biến có giá trị nhất. Rất khó để phân biệt được đó là hàng var tại Việt Nam hay có nguồn gốc từ Trung Quốc xuất sang.

    Có Nên Trồng Lan Gieo Hạt Đột Biến Không? 50+ Lan 5 Cánh Trắng Có Mặt Hoa Update 2021 3 Cách Nhận Biết Lan Phi Điệp Đột Biến 2021 TOP 10 Lan Phi Điệp Đột Biến Đắt Nhất Việt Nam 2021

    Thủ đoạn của lan phi điệp đột biến Trung Quốc?

    Một vài thông tin cho rằng tại Trung Quốc có những vườn lan đang ươm hàng trăm, hàng nghìn chậu những dòng lan đột biến có giá trị tiền tỉ và đang chờ cơ hội xuất sang Việt Nam. Họ thao túng giá lan bằng những cuộc mua bán tiền tỉ rầm rộ trên mạng. Sau đó bí mật cho xuất một lượng lớn cây giống ra thị trường để ăn sự chênh lệch. Cuối cùng là thủ đoạn quen thuộc chính là biến mất như những lần trước đó như đỉa, gỗ xưa, móng trâu, móng bò hay lúa non, ngô non.

    Thậm chí nhiều người còn hả hê nếu những điều này sảy ra. Họ là những người chưa chơi lan hoặc chơi ít lan với các dòng phổ biến. Họ cho rằng cây lan không có giá trị thực lên tới cả chục triệu, trăm triệu. Những người đang mua bán như vậy tức là bị lừa, bị thổi giá , làm giá. Và việc chơi bình dân, dân dã như họ mới thực sự là chơi và thưởng lan. Vì thế không thấy lạ mỗi khi có những bài báo như vậy đăng lên facebook group với hàng trăm người vào tung hô, hả hê…

    Thực hư lan phi điệp đột biến Trung Quốc có hay không?

    Lan var đột biến tự nhiên hay trong phòng thí nghiệm?

    Trên các bài báo có vô số các ý kiến của các viện nghiên cứu về lan, cây trồng ở Việt Nam cho rằng có thể làm đột biến phi điệp tím trong phòng thí nghiệm. Tuy nhiên nếu chỉ nói như vậy thì chưa hết ý và rõ ràng. Bởi đột biến thì các phòng thí nghiệm cũng có thể làm được tuy nhiên cái cần là mặt hoa như thế nào. Đây là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc định giá của hoa lan. Nhất là lan đột biến, lan var.

    Như chúng ta đã biết chơi lan var thì mặt hoa là quan trọng nhất. Nhiều người xi mê dòng lan này cũng chỉ bởi vẻ đẹp và sự độc đáo của chúng. Các giáo sư, tiến sỹ, viện nghiên cứu khẳng định có thể làm lan phi điệp đột biến nhưng mặt hoa có giống cây mẹ hay không? Nhắc tới yếu tố này thì không thấy tiến sỹ, giáo sư nào lên tiếng cả. Đột biến thì dễ nhưng để có mặt hoa giống bố mẹ mới là khó. Thông thường những loại đột biến này mặt hoa cực xấu nên không ai mua, không ai chơi. Vì thế giá lan var đột biến luôn gần như là giữ giá hoặc thay đổi không nhiều.

    Ngoài ra, không phải chê nhưng thật sự làm ăn của các viện nghiên cứu về nông nghiệp, cây trồng của Việt Nam không được đánh giá cao. Không ai lạ lẫm gì chất lượng của những viện này hay trình độ của các giáo sư tiến sỹ. Bao nhiêu năm nay những dòng lan phổ biến nhất như đai châu, hồ điệp vẫn là sản phẩm đột biến nhập từ Thái Lan. Chứ các viện ở Việt Nam có mấy sản phẩm nào được chất lượng tốt. Thử nghĩ xem những dòng lan phổ thông như vậy còn chưa đột biến được thì có lý gì những dòng lan var cả tỷ đồng/keiki có thể đưa cho họ nghiên cứu xử lý?

    Chính vì lý do như vậy nên giả thuyết lan phi điệp đột biến Trung Quốc về Việt Nam là không cao. Những tin đồn này hầu như không có cơ sở nhưng vẫn làm anh em chơi lan khá hoang mang.

    Giá lan var giống cao

    Như đã nói ở trên thì giá lan var rẻ nhất cũng khoảng 500 nghìn đồng/cm, đắt nhất khoảng vài trăm triệu cho tới cả tỷ đồng. Ai đủ vốn để mua về đầu tư cho các ông bà trong phòng thí nghiệm nhân ra? Việt Nam thì không nói bởi khả năng này không cao. Tuy nhiên ngay cả ở Trung Quốc thì việc mua được những keiki lan var để nghiên cứu và nhân giống cũng khá khó khăn. Thế nên không có chuyện lan phi điệp đột biến Trung Quốc giá rẻ bèo tràn vào Việt Nam được.

    Đa phần các page bán hàng này đều là page ảo. Bán một thời gian sập lại đổi page khác. Khi đó biết tìm ai mà bảo hành?

    Các ảnh mặt hoa đều là copy của những người khác không có ảnh mặt hoa chính chủ, không đủ tạo sự tin cậy.

    Đâu đó mọi người chia sẻ những clip, hình ảnh về 1 trang trại lan var tại Trung Quốc, Đài Loan và cho rằng họ đang ươm hàng nghìn chậu hoa lan var đột biến. Số lượng người chia sẻ lại càng tăng lên và lo ngại chúng sẽ xuống giá. Tuy nhiên nếu tinh ý thì nhìn kỹ đó không phải lan phi điệp tím đột biến mà là một loại trầm. Rất dễ nhầm đối với người mới hoặc không chuyên. Còn những người chơi lâu năm có kiến thức nhìn phát ra luôn.

    Nên chơi lan phi điệp đột biến như thế nào?

    Nếu là một người chơi bình thường yêu thích cái đẹp thì nên chơi theo khả năng của mình. Thích mặt hoa nào chơi mặt hoa đấy theo điều kiện kinh tế. Song song với đó có thể chơi những dòng lan var khác cũng rất tuyệt vời tùy sở thích.

    Còn nếu xác định làm kinh tế thì nên tính toán kỹ càng. Bởi có thể giá ảo nhưng hơn nhau là ở cái đầu, cái óc tính toán của mỗi người. Không ai lại đi chỉ dạy miếng cơm của mình cho người khác. Hãy tự xây dựng kinh nghiệm bằng số tiền của mình. Tất nhiên không nên dạy người giàu cách tiêu tiền. Nhưng hãy đánh giá đúng và kiểm tra kỹ càng.

    Với chia sẻ của Vườn Lan Huyền Vinh về phi điệp đột biến Trung Quốc hy vọng khách hàng có thêm kiến thức về vấn đề này. Nếu cần thêm trợ giúp từ phía chúng tôi vui lòng liên hệ ngay hotline.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phi Điệp Thân Thủ Là Gì? Như Thế Nào Sẽ Được Gọi Là Phi Điệp Thân Thủ
  • Cách Kích Kie Lan Phi Điệp
  • Gióng Giả Hạc Di Linh Xuân Hiếm: Nữ Hoàng Trong Các Loại Lan Phi Điệp
  • Cách Nhận Biết Và Chăm Sóc Lan Phi Điệp
  • Cây Lan Phi Điệp 5Ct Phú Thọ Cấy Mô Trong Chai Mặt Hoa Sổ Xố
  • Lan Hoàng Thảo Kim Điệp Thân Phình

    --- Bài mới hơn ---

  • Lan Kim Tuyến Chữa Bệnh Ung Thư
  • Những Công Dụng Của Lan Kim Tuyến
  • Cách Sử Dụng Lan Kim Tuyến
  • ‘thần Dược’ Lan Kim Tuyến Thứ Cỏ Đắt Như Vàng Ròng
  • Tuyển Chọn Đề Tài Bảo Tồn, Phát Triển Và Xây Dựng Thương Hiệu Cây Lan Kim Tuyến
  • // LAN HOÀNG THẢO KIM ĐIỆP THÂN PHÌNH Dendrobium chrysotoxum Lindl. 1847. Dendrobium chrysotoxum var. delacourii Gagnep. 1932, //

    Họ: Phong lan Orchidaceae

    Bộ: Phong lan Orchidales

    Đặc điểm nhận dạng:

    Lan phụ sinh. Thân dài 10 – 40 cm, hình con suốt, dầy 2 – 3 cm, lóng dài 4 – 5 cm. Lá 4 – 5 chiếc, hình bầu dục hoặc hình mác, đỉnh chia 2 thùy lệch, dài 7 – 19 cm, rộng 2,5 – 3 cm. Cụm hoa bên ở sát đỉnh, chùm 9 – 14 hoa. Lá bắc hình trứng, dài khoảng 0,4 cm. Hoa màu vàng, đường kính 3,5 – 4 cm, cuống hoa và bầu dài 2,5 – 3 cm. Lá đài hình mác rộng, dài 1,8 – 2 cm, rộng 0,7 – 0,9 cm. Cằm dài khoảng 0,5 cm, đỉnh tù. Cánh hoa hình trứng, mép xẻ răng nhỏ, dài 1,8 – 2 cm, rộng 1,4 – 1,5 cm. Môi hình gần tròn, dài 2 – 2,2 cm, rộng 2 – 2,2 cm, mép uốn lượn gấp nếp nhẹ, có diềm tua ngắn phân nhánh, bề mặt phủ lông nhú dầy. Cột cao khoảng 0,4 cm; răng cột hình côn. Nắp hình mũ, đỉnh cụt, nhẵn. Sinh học và sinh thái: Ra hoa vào tháng 2 – 3. Tái sinh bằng chồi và hạt. Mọc bám trên các cây gỗ lớn trong rừng, ở độ cao 600 – 1200 m.

    Phân bố:

    Trong nước: Nghệ An (Vinh), Kontum (Đắk Glei, Đắk Uy), Gia Lai (Chư Pah), Đắk Lắk (Buôn Ma Thuột), Lâm Đồng (Đà Lạt). Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Lào. Giá trị: Dùng trị các bệnh thương tổn tân dịch, miệng khô phiền khát. Cây dùng làm cảnh vì có hoa đẹp màu vàng, môi có bớt màu cam ở giữa.

    Tình trạng:

    Loài có khu phân bố và nơi cư trú chia cắt. Hiện đã bị suy giảm nghiêm trọng do khai thác để trồng, bán chủ yếu làm cây cảnh, đôi khi làm thuốc và chặt phá rừng hủy hoại nơi cư trú.

    Phân hạng:

    EN B1+2e+3d.

    Biện pháp bảo vệ:

    Đề nghị xây dựng khu bảo tồn và nhân giống Lan trong các vườn quốc gia và di chuyển một lượng cây sống có thể của loài này về khu bảo tồn và chăm sóc.

    Tài liệu dẫn:

    Sách đỏ Việt Nam năm 2007 – phần thực vật – trang 423.

    1969 lượt xem Lam Bảo Thạch · 9 tháng trước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Địa Chỉ Bán Lan Kim Tuyến Uy Tín Tại Bmt Đắk Lắk
  • Dược Liệu Lan Kim Tuyến Quý Hiếm Giá 12 Triệu Đồng/kg
  • Lan Kim Tuyến Mua Ở
  • Đặc Điểm Hình Thái, Phân Bố Của Loài Lan Kim Tuyến Anoectochilus Setaceus Blume Ở Vườn Quốc Gia Xuân Sơn, Tỉnh Phú Thọ
  • Gây Giống Thành Công Cây Lan Kim Tuyến Trên Đất Bình Gia
  • Nhất Điểm Hoàng, Kim Thoa, Bạch Câu, Kiếm Tiên Vũ, Kim Điệp Giấy, Phi Điệp Vàng, Thập Hoa, Vảy Rồng Lào, Kiều Vàng, Đùi Gà, Ngọc Thạch, Kiều Hồng, Sóc Ta, Ý Ngọc, Hoàng Thảo Xoắn, Quế Lan Hương, Hoàng Thảo Tam Bảo Sắc 27

    --- Bài mới hơn ---

  • Tinh Chất Kiều Xuân Serum
  • Thuốc Trị Nám Kiều Xuân Có Tốt Không Và Giá Bao Nhiêu?
  • Viên Uống Kiều Xuân Estrog
  • Rực Rỡ Sắc Vàng Mùa Lan Kiều Vuông
  • Làm Giàu Trên Vùng Đất Phèn
  • Chào mọi người, 27/3/2018 chúng tôi bán các loại Hoa Lan sau:

    1. Nhất Điểm Hoàng (Dendrobium cariniferum): Đây là loại hoa lan đa thân có chiều dài khoảng 10-20 cm, thân mập, mọc thành từng cụm dày, thân và mặt dưới lá có lông đen mịn. Hoa bền 25-30 ngày, loại này hoa thơm, mùi vỏ cam, quýt, rất dễ chịu.

    Loại này nên ghép gỗ nhãn, vải, vú sữa đã bóc vỏ hoặc ghép lũa, trước khi ghép cắt ngắn rễ chừa lại cỡ 0.5 cm là được sau đó dùng dây thít nhựa thắt chặt gốc vào gỗ, khi tưới nước thì tưới đẫm và nước cũng trôi nhanh không đọng lâu được và các bạn nên treo giò Nhất Điểm Hoàng tránh mưa, vườn có mái nhựa trong hoặc căng nylon thì an toàn hơn, tiểu khí hậu giữ cho độ ẩm cao. Loại này không rụng lá vào mùa đông tuy nhiên mùa đông chỉ tưới rất ít nước và gốc. Khoảng đầu tháng 3 dương tưới nước nhiều dần lên và tưới vào gốc, mỗi tuần phun phân kích hoa NPK 10-30-30 một lần để sáng tháng 4 dương là đến mùa hoa

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    2. Kim Thoa (Dendrobium clavatum): Cây khá giống với Hoàng thảo Long Nhãn (Dendrobium fimbriatum) nhưng thân nhỏ hơn, mang nhiều sắc vàng, dài khoảng 50-70cm, do thân cứng nên thường mọc thẳng, thích hợp trồng trong chậu với giá thể vỏ thông, than củi trộn ít xơ dừa miếng. Chú ý độ nặng của chậu để đối trọng với cây sao cho khi cây đứng chậu không bị lật. Cũng có thể cho bám gỗ nhưng cây ưa ẩm nên nếu bó gỗ thì phải tưới nhiều hơn. Cây ưa nắng khoảng 70-80%.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    3. Kim Điệp (Dendrobium capillipes): Là loại hoàng thảo thân ngắn thường dài khoảng 7-15 cm, thân màu vàng hoặc xanh, có lá mỏng ở gần ngọn. Loại này ưa khô ráo, ưa nắng, khi trồng nên chọn giá thể thoát nước nhanh như than củi trộn vỏ thông, có thể dùng chậu đất nung, chậu nhựa, dớn chậu hoặc ghép gỗ khúc, mới trồng xong treo râm mát, tránh mưa trực tiếp, hàng ngày xịt nước vào gốc một lần, phun B1 hoặc Atonik vào gốc 5 ngày/lần.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    4. Phi Điệp Vàng (Dendrobium chrysanthum): Phi điệp vàng là loại hoàng thảo thân thòng nhìn rất đẹp mã, buông dài, kích cỡ lớn thường dài 0.8-1.3m, dài 2m cũng có, thân già và non đều thường mang màu xanh bóng có lớp vỏ bạc. Lá mỏng hình mác dài 10-15cm, ít rụng lá vào mùa đông. Phi điệp vàng khác với nhiều loại thân thòng khác khi hoa vẫn ra tại các đốt thân có lá, tại mỗi đốt thường có chùm từ 2-5 hoa vàng sẫm, cánh hoa tròn, dày, bóng không mở bung mà hơi cụp, họng hoa nhiều lông mịn có 2 đốm đen, hoa khá bền, có mùi thơm, mùa hoa Phi điệp vàng vào tháng 8-9 dương lịch.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    5. Thập Hoa /Hồng Câu (Dendrobium aduncum): là loài lan rừng có hoa mọc thành chùm, đặc biệt là hoa có hai đốm tím giống như hai con mắt trông rất ngộ nghĩnh. Từ các giả hành dài khoảng 50-60cm cm đã rụng hết lá, những nụ hoa màu phớt hồng nhú ra. Khi hoa nở, màu hồng nhạt của hoa nổi bật trên nền những giả hành dài khô màu nâu với đôi chỗ bạc trắng, tạo thành một vẻ đẹp rất sống động và tự nhiên. Mùa hoa rải rác khoảng cuối tháng 3 – tháng 5 dương tùy vùng trồng. Loại này ưa khí hậu ấm nóng, độ ẩm cao trong mùa tăng trưởng, bớt tưới vào mùa nghỉ.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    6. Vảy Rồng Lào (Dendrobium lindleyi): là loại lan phụ sinh phân bố rất rộng như Lào, Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar…Về đặc điểm sinh thái, vảy rồng Lào thuộc họ Kiều (miền trung, nam gọi họ Thủy tiên), thân (giả hành) rất ngắn chỉ dài khoảng 4-7 cm, đường kinh 2-4 cm, thóp nhỏ ở gốc và ngọn, phình to ở giữa, một giả hành thường có khoảng 3-4 đốt, rất cứng. Trên thân Vảy rồng Lào có nhiều rãnh và cạnh chạy dọc, thường có 7-8 cạnh nên thân gần như hình trụ tròn. Các giả hành đơn lẻ xếp sát nhau thành mảng tạo cảm giác cứng cáp, chắc chắn như bộ vảy của loài bò sát, có lẽ vì thế người ta gọi Vảy rồng. Một thân (giả hành) chỉ có một lá rất dày, cứng, màu xanh thẫm ở đỉnh dài khoảng 3-7 cm, bề rộng 2-4 cm, đầu lá tròn.

    Lan Vảy rồng Lào thường ra hoa mùa xuân – hè, khoảng tháng 4-6 dương. Ngồng hoa phát ra từ giả hành đã trưởng thành, trên một ngồng gồm nhiều bông đơn lẻ tạo thành chùm rất đẹp. Ngồng hoa thường dài 15-30 cm. Mỗi bông đơn kích cỡ khoảng 3 cm, màu vàng tươi (đậm nhạt còn tùy xuất xứ vùng miền, sức khỏe, ánh sáng cây được hưởng), họng hoa màu vàng sẫm hơn cánh, môi tròn rộng, có mùi thơm thoảng nhẹ. Cũng như các loại lan họ Kiều, hoa của Vảy rồng Lào không bền lắm, tàn sau khoảng 7-10 ngày tùy sức khỏe cây tuy nhiên vẫn được nhiều người yêu thích và được trồng phổ biến khắp đất nước. Mời các bác đọc bài cách trồng lan Vảy Rồng

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế mới tự chụp:

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    8. Kiều Hồng (Dendrobium amabile): là loại hoàng thảo thuộc họ thủy tiên, giả hành tích trữ nước, rễ của chúng phát triễn rất khỏe nên khá dễ trồng. Hoa Kiều Hồng không bền lắm chỉ khoảng 5-10 ngày nhưng hoa dạng chùm to, màu sắc tươi sáng nổi bật, nhất là khi nắng chiếu vào chùm hoa ta có cảm giác nó sáng rực lên cực kỳ đẹp.

    Kiều hồng có thân cứng, tròn, màu xanh đen, thường dài 30-80 cm, dọc thân có rãnh, lá rất dày màu xanh thẫm và xanh tốt quanh năm, lá tròn bầu dài chừng 10-12 cm, rộng 6-8 cm, loài này không có mùa nghỉ nên ít rụng lá vào mùa đông. Hoa mọc từng chùm dài 20-25 cm ở gần ngọn, đường kính chùm hoa khoảng 10 cm gồm nhiều bông đơn lẻ. Hoa màu hồng nhạt, cuống hoa và bầu dài 4 – 5 cm. Các lá đài hình mác, đỉnh hơi nhọn, dài 2,8 – 3 cm, rộng 1,4 – 1,6 cm. Cằm dài 0,4 – 0,8 cm, đỉnh tròn. Cánh hoa hình bầu dục, đỉnh tròn, dài 3 – 3,2 cm, rộng 1,9 – 2 cm, mép xẻ răng nhỏ. Môi hình gần tròn, dài và rộng 2,6 – 2,8 cm, viền trắng ở mép, giữa là 1 đốm màu vàng cam. Hoa nở rộ vào mùa hè khoảng cuối tháng 5 đến giữa tháng 6 dương lịch, mùi hơi thơm ngọt.

    Cây ưa ẩm và đến lúc ra rễ nhiều ta đưa ra nơi có nhiều nắng sẽ sai hoa, trồng được cả trong chậu và ghép gỗ, khá dễ thuần, ra rễ nhanh và nhiều. Kiều hồng không rụng lá để ra hoa cho nên có cắt nước thì cũng không cắt triệt để như lan thân thòng bởi nó còn phải nuôi lá nữa, thiếu nước lâu dài nó bị xuống lá nhìn sẽ xấu đi.

    Vì kiều hồng không có mùa nghỉ nhưng phát triển mạnh nhất vào mùa Xuân – Hè nên thời điểm ghép tốt nhất chính là tháng 3-6 dương. Tốt nhất là nên chọn nguyên giề, chọn bụi nhiều thân trưởng thành, không già, không non quá. Đọc chi tiết cách chăm sóc tại bài viết: Cách trồng Kiều Hồng

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế mới tự chụp:

    Kiều Hồng hàng cân, hàng rất đẹp, giá 180k/kg (ảnh trên)

    Giề Kiều Hồng 1.2kg=220k (ảnh trên)

    Giề Kiều Hồng 1.3kg=250k/kg

    9. Hương Vani (Dendrobium Linguella): là 1 var của Hoàng thảo Thập Hoa, thân dài mềm và mảnh hơn hoàng thảo Thập Hoa, lá dài nhọn và mỏng, hoa màu hồng nhạt, thơm ngọt mùi vani, có 2 đốm nhỏ màu tím sẫm như đôi mắt, hoa nhìn thanh thoát. Ghép gỗ treo ngược cho thân thòng xuống. Hoa nở khoảng cuối tháng 5 – tháng 6 dương lịch.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh Quế hàng cân mình nợ, sáng 28/3 đăng

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    10. Quế Lan Hương (Aerides Odorata): là loài lan đơn thân thuộc chi Giáng hương cùng với Tam Bảo Sắc, Đuôi Cáo, Sóc Lào…

    Hàng rời khai thác từ rừng để bán ra trên thị trường thường dài khoảng 20-30 cm, tuy nhiên cây già hoặc trồng thuần lâu năm có thể dài đến 1m. Hình dáng lá dáng tương tự Tam Bảo Sắc nhưng thường sẫm hơn, lá to và dày hơn, bản lá rộng khoảng 3-6 cm, dài 20-30 cm. Hoa dạng chùm dài khoảng 20-30 cm, gồm nhiều bông đơn kích cỡ 2.5-3.5 cm. Cánh dày hơi tròn đến tròn, lưỡi hoa nhọn như quả ớt cong lên trước mặt hoa. Quế mới nở hoa thường có màu trắng pha xanh lục, sau vài ngày chuyển dần sang trắng ngà, gần tàn chuyển sang màu vàng ngà. Mùa hoa của Quế: nở trong tháng 8, 9 dương lịch nên người ta còn hay gọi là Quế tháng 8. Độ bền khoảng 15-20 ngày, mùi hoa rất thơm, thơm đậm mùi quế, đứng xa xa đã thoảng thấy mùi, phải nói xét về hương thì Quế Lan Hương thuộc hàng đầu, do vậy đây là một trong số các loài lan rừng được ưa chuộng và yêu thích nhất.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế vừa chụp:

    Giề Quế 1kg mới bóc =280k (ảnh trên)

    11. Địa lan Trần Mộng (Cymbidium lowianum): Là loại địa lan cỡ lớn, lá 7-9 chiếc dài 70-90 cm. Dò hoa dài 80-100 cm, hoa 12-40 chiếc, to 7.5-10 cm, rất đẹp, lâu tàn, nở vào mùa Xuân nên rất được ưa chuộng để chơi Tết.

    Địa lan Trần Mộng ở Sapa trồng bằng 100% phân trâu khô, nhưng ở thành phố ko có thì trồng như cách trồng địa lan bình thường: dùng giá thể đất bùn khô, xỉ than, than củi, trấu hun, đá, vỏ lạc, vỏ thông, dớn cọng, dớn mềm,… (có gì trộn nấy). Lót than củi hoặc các xốp trắng dưới đáy chậu cho thoát nước, đảm bảo yêu cầu sao cho luôn “ẩm nhưng không được đọng nước”. Chậu phải là nơi để cho cây phát triển mới, nhưng cần phải hạn chế sự phát triển rộng ra của bộ rễ.

    Chậu trồng mà sâu sẽ thúc đẩy sự phát triển rễ và giúp cây khỏe mạnh.

    Chậu vừa sâu vừa rộng giúp cây phát triển nhiều chồi cây, nhưng hoa sẽ ít và yếu.

    12. Chế phẩm Hùng Nguyễn lọ 20ml: 20k/lọ

    Chậu sâu và hẹp sẽ thúc đẩy việc cho ra những cành hoa hoa cao, khoẻ mạnh và những bông hoa đầy sức sống.

    – SIÊU KÍCH RỄ (Hiệu quả nhanh chóng từ 3-5 lần phun – 15 đến 25 ngày) – KÍCH KEIKI (Hiệu quả khá cao) – SÁT KHUẨN – KHÁNG BỆNH – BỔ SUNG NPK – DƯỠNG CÂY KHỎE MẠNH (có NPK tích hợp) – TRỊ BỆNH ĐỐM LÁ GỈ SẮT Fe – PHÒNG – TRỊ NẤM

    – Ánh sáng: cây địa lan cần ánh sáng tán xạ khoảng 70-80%. Nếu lá cây có màu xanh vàng nhạt là đủ ánh sáng, lá cây màu xanh đậm cần phải tăng thêm lượng chiếu sáng. Kiểm soát yếu tố này thông qua việc che lưới phù hợp cho vườn lan.

    – Nhiệt độ: Cây phát triển tốt nhất trong khoảng nhiệt độ từ 24°C-29°C (75-85°F). Vào thời kỳ ra hoa, nhiệt độ ban đêm cần phải lạnh từ 10-15°C (50-60°F) để cây phát triển chồi hoa. Nhiệt độ tối ưu cho cây vào thời kỳ chuẩn bị ra hoa là khoảng 7.50°C-13°C (45-55°F) vào ban đêm và 18-24°C (65-75°F) vào ban ngày. Sau khi cây đã có chồi hoa, nên duy trì nhiệt độ trong khoảng từ 13-24°C (55-75°F) để cành hoa phát triển tốt. Kiểm soát nhiệt độ trong vườn ta có thể dùng nhiệt kế để theo dõi, giảm nhiệt độ bằng cách đặt các khay nước tạo ẩm dưới giàn lan, tưới nước hoặc phun sương xung quanh vườn lan vào những lúc nhiệt độ quá cao. Tăng nhiệt giữ ấm cho cây trong thời kỳ quá lạnh bằng cách che nilon xung quanh vườn.

    13. Phân bón Đầu Trâu 901 dưỡng hoa lâu tàn: 20k/lọ

    – Độ ẩm: cần đảm bảo rễ cây luôn ẩm nhưng không được ướt lâu, không được để cho cây bị quá khô rễ. Tăng lượng nước tưới trong giai đoạn cây phát triển, nhất là sau khi ra hoa. Khi cây đã phát triển hoàn toàn (khoảng tháng 9 Âm lịch) giảm lượng nước tưới, chỉ cung cấp lượng nước tối thiểu trong khi cây chuẩn bị ra chồi nụ. Khi có chồi nụ thì phải tưới đủ nước cho cành hoa phát triển tốt nhất.Có thể theo dõi lượng nước cần tưới qua việc nhìn lá cây lan, nếu cây khỏe mạnh bị thiếu nước, lá sẽ hơi nhăn, khi tưới nước, lá cây sẽ căng trở lại.

    – Độ thông thoáng: Vườn lan cần có sự đối lưu không khí ở mức vừa phải để cây lan phát triển tốt nhất. Nếu gió quá nhiều có thể gây hại cho cây do tứoi nước quá nhiều. Nên che một lượt lưới xung quanh vườn lan để chắn gió mạnh, khi ít gió có thể mở ra để hút gió vào. Khoảng cách giữa các chậu lan cũng phải hợp lý, không để sát nhau, lá cây nọ chạm vào lá cây kia dễ bị lây lan nấm bệnh. Thứ hai, bón phân: Trong giai đoạn cây nảy mầm đến khi giả hành phát triển hoàn chỉnh cần bón phân có lượng N cao hơn. Trong giai đoạn chuẩn bị ra hoa nên dùng phân bón có lượng P cao hơn và K thấp hơn một chút để giúp cây có đủ dưỡng chất tạo chồi nụ và nuôi hoa.Trong suốt quá trình chăm sóc trong năm có thể kết hợp với bón phân hữu cơ như: Tưới nước ốc, cá, bì lợn,… ngâm lâu ngày (nước trong và đã hết mùi) pha loãng để tưới vào gốc, xen kẽ với phun phân bón vi lượng thật loãng hàng tuần cho cây. Trong thời gian cây phát triển chồi hoa tuyệt đối không dùng các loại phân bón qua lá, phân đọng trên chồi hoa dễ hỏng hoa. Có thể tự làm phân bón chậm tan bằng cách: lấy phân vi sinh nhào với nước dạng vữa xây nhà, đem phơi khô đến trắng, xác, cứng, chặt nhỏ và đặt trên mặt chậu lan, khi tưới, phân sẽ tan dần vào trong đất.

    Ảnh mẫu hoa sưu tầm:

    Ảnh cây thực tế mới chụp:

    Loại thuốc 6 tác dụng trong 01 lọ:

    Đặc biệt thích hợp khi mới mua lan rừng về, cắt rễ lan xong đem ngâm toàn bộ cây vào dung dịch Hùng Nguyễn rồi ghép để lan nhanh ra rễ. Thuốc này thì rất nhiều người dùng rồi và có phản hồi tích cực: nhanh chóng, tiện lợi, hiệu quả.

    Cách sử dụng: Đọc trong ảnh bên dưới. Cứ đếm khoảng 20 giọt là 1 ml thuốc, hòa với 1 lít nước lã mà dùng.

    Đang chuẩn bị vào mùa hoa của đa phần các loài lan rừng, phun khi lan mới nhú và đang nụ theo chỉ dẫn hoặc loãng hơn chỉ dẫn trên chai 1 chút, phun toàn bộ cây, mục đích giúp hoa lâu tàn hơn. Chú ý là hoa đang nở thì không phun phân, thuốc gì vào hoa kẻo thối hoa, chỉ phun khi cây mới nhú nụ và đang nụ thôi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lan Kiều: Phân Loại, Chọn Giống, Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Nở Hoa Đẹp
  • Cách Làm Bánh Bông Lan Ngon Nhất 2021
  • Khám Phá Vẻ Đẹp Lan Kiều Vàng Quý Hiếm
  • Trồng Kinh Tế Với Lan Kiều Vàng
  • Lan Đột Biến Kiều Vàng Quý Hiếm
  • Danh Sách Các Loại Lan Hoàng Thảo

    --- Bài mới hơn ---

  • Lan Hoàng Thảo Nhất Điểm Hồng (Dendrobium Draconis)
  • Đùi Gà Dẹt Trắng, Đùi Gà Dẹt Đột Biến, Dendrobium Linawianum Var Alba
  • Lan Hoàng Thảo Nhất Điểm Hoàng
  • Say Như Điếu Đổ Trước Vẻ Đẹp Của Hoàng Thảo Đùi Gà Dẹt
  • Tháng 5 Rực Rỡ: Ngắm Lan Huyết Nhung Nở Đỏ Rộ Như Hoa Phượng Vĩ
  • Hoa lan hoàng thảo là một loại hoa nổi tiếng và hầu như được rất nhiều người yêu thích. Với hơn 1100 loài và phân bố nhiều nơi như Nhật Bản, Triều Tiên, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam. Hoa của cây lan hoàng thảo có rất nhiều loại và màu sắc khác nhau, mỗi loại góp phần tô điểm thêm cho sự đa dạng và phong phú của loại hoa này. Trong bài viết ngày hôm nay, sẽ đi tìm hiểu về Danh sách các loại lan hoàng thảo.

    Danh sách các loại lan hoàng thảo

    Dòng hoa lan hoàng thảo có tên khoa học là Dendrobium, là dòng lan lớn thứ hai trong họ nhà lan với khoảng 1100 loài đã được tìm thấy và đặt tên. Hoa lan hoàng thảo rất phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc cho nên để phân biệt từng loại. Hoa lan hoàng thảo đa dạng từ màu sắc, hình dáng, hương thơm và cả đặc điểm phân bố, hoa có thể mọc ở những đồi núi đến bờ biển hoặc từ môi trường nhiệt đới đến vùng băng tuyết,…

    Nhóm Dendrobium Nobile

    Nhóm Dendrobium Nobile bao gồm các loại hoa như hoàng thảo đùi gà, hoàng thảo bá hỷ, hoàng thảo long nhãn, phi điệp vàng, hoàng thảo tam bảo sắc và những cây lai của chúng. Nhóm hoa lan Dendrobium Nobile này thường rụng lá vào mùa thu, ngủ đông và chuẩn bị cho mùa hoa mới. Trong thời kỳ ngủ đông, chúng không cần dinh dưỡng mà chỉ cần một lượng nước vừa đủ để không bị héo là được. Nếu trong điều kiện khô, cây sẽ cho ra hoa quả còn nếu như trong điều kiện ẩm ướt thì cây sẽ phát triển và bỏ qua giải đoạn trổ hoa.

    Nhóm Dendrobium Anosmum

    Nhóm Dendrobium Anosmum bao gồm các loại hoa lan giả hạc, hoàng thảo kèn, hoàng thảo nhất điểm, hoàng thảo nhất điểm hồng, hoàng thảo trầm rừng, hoàng thảo long tu, hoàng thảo hạc vỹ, hoàng thảo long tu, hoàng thảo vảy rồng và những cây lai của chúng. Các loại hoa lan thuộc nhóm Dendrobium Anosmum này là cây non phát triển trước thời kỳ ngủ đông. Với những loại hoa thuộc dòng này thì bạn nên hạn chế tưới nước, không cần phải bón phân.

    Nhóm lan Dendrobium Farmer

    Nhóm lan Dendrobium Farmer bao gồm các loại hoa như hoàn lạp, hoàng thỏa thủy tiên mỡ gà, hoàng thảo kim điệp, hoàng thảo thủy tiên tím, hoàng thảo thủy tiên trắng và những cây lai của chúng. Những cây hoa lan thuộc nhóm này có đặc điểm là cây không rụng lá và không có giai đoạn ngủ đông như những loại hoa thuộc 2 nhóm trên. Nhóm lan Dendrobium Farmer thường nhanh tàn hơn vì cây không dự trữ năng lượng, nên hạn chế tưới nước vào cuối thu, đầu đông để cây có thể ra hoa vào mùa xuân – hạ.

    Nhóm Dendrobium Formosum

    Nhóm Dendrobium Formosum có các loại hoa như là hoàng thảo bạch nhạn, hoàng thảo phểu, hoàng thảo Bù Đăng, hoàng thảo Thái Bình và những cây lai của chúng. Nhóm Dendrobium Formosum này không rung lá vào mùa đông, có lông đen nhất là ở thân non, chồi nhỏ.

    Nhóm trúc lan bao gồm các loại kiếm, lan gấm, dendro nắng và những cây lai của chúng. Những cây hoa thuộc nhóm trúc lan này thường ưa sáng hơn những loại khác, không rụng lá theo mùa, cây cho hoa khá lớn và đa dạng về màu sắc cũng như hình dạng hoa.

    Nhóm lan bao gồm các loại dendro lai cat, lan hài, lan hồ điệp và những cây lai của chúng. Nhóm lan này thuộc loại cây thích nghi với khí hậu nóng, vòi hoa được tạo ra nhờ khí hậu lạnh, hoa sinh trưởng và phát triển khá khỏe mạnh và bền.

    Ở Việt Nam, một số loại hoa lan chủ yếu và được trồng nhiều như là hoa lan hoàng thảo lá cong, hoa lan hoàng thảo thập hoa, hoa lan hoàng thảo móng rồng, hoa lan hoàng thảo duyên dáng, hoa lan hoàng thảo phi điệp giả hạc, hoa lan hoàng thảo kèn, hoa lan hoàng thảo hỏa hoàng. Hoa lan được mọc ở khắp mọi nơi và được nhiều người ưa chuộng làm cây cảnh trong nhà.

    Danh sách tên Hoa Lan Hoàng Thảo cụ thể và hình ảnh nhận dạng

    Lan hoàng thảo nhất điểm hồng

    Thông tin:

    • Tên Việt Nam: Nhất điểm hồng, hoàng thảo nhất điểm hồng
    • Tên Latin: Dendrobium draconis Rchb.f..
    • Họ: Phong lan Orchidaceae
    • Bộ: Phong lan Orchidales
    • Nhóm: Cây phụ sinh
    • Phân bố:

    + Trong nước: Lâm Đồng (Đà Lạt, Bì Đúp, Lang Bian, Lang Hanh, Đơn Dương ,Đan Kia,), Thừa Thiên – Huế (Bạch Mã), Đà Nẵng (Bà Nà), Khánh Hòa (Cổ Inh, Giang Li, Nha Trang).

    + Thế giới: Ấn Độ, Mianma, Thái Lan, Lào, Campuchia.

    Thông tin:

    • Tên Việt Nam: Ngọc vạn (PHH), Hoàng thảo vàng cam (TH)
    • Tên Latin: Dendrobium chryseum
    • Họ: Phong lan Orchidaceae
    • Bộ: Phong lan Orchidales
    • Lớp (nhóm): Cây phụ sinh
    • Phân bố: Cây mọc ở Sapa (Lào Cai), Daklak, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Quảng Trị và phân bố ở Lào, Trung Quốc, Mianma, Thái Lan, Hymalaya…

    Thông tin:

    • Tên Việt: Hoàng Thảo Vôi
    • Tên khoa học: Dendrobium Cretaceum
    • Mô tả: Thân to dài 20 – 40cm. Lá hình giáo, thuôn ở gốc, nhọn ở đỉnh, dài 7 – 8cm, rộng 1 – 2cm, có các đốt ngắn và thường được phủ lớp phấn dễ bong tróc. Hoa có 2 màu trắng và tím có nhiều lông, mùi thơm hoa nhài.
    • Phân bố: Phía Đông dãy Himalaya, Nepal, Ấn Độ, Myanamar, Lào , Thái Lan, và Việt Nam ở độ cao 1.000-1.800 mét .

    Thông tin:

    • Tên Việt Nam: Lan hoàng thảo vạch đỏ
    • Tên Latin: Dendrobium ochraceum
    • Họ: Phong lan Orchidaceae
    • Bộ: Phong lan Orchidales
    • Lớp (nhóm): Cây phụ sinh
    • Mô tả: Hình trụ gãy khúc có độ dài 20-40cm, lông đen. Lá thuôn tròn có độ dài 8cm, rộng 2cm. Cụm hoa 2-3 hoa, hoa lớn màu vàng và quăn.
    • Phân bố: Gia Lai (K’Bang, Kon Hà Nừng). Thế giới chưa tìm thấy.

    Lan hoàng thảo tam bảo sắc

    • Tên Việt Nam: Lan hoàng thảo tam bảo sắc, Ý thảo ba màu, Hoàng thảo mỹ dung
    • Tên Latin: Dendrobium devonianum
    • Họ: Phong lan Orchidaceae
    • Bộ: Phong lan Orchidales
    • Nhóm: Cây phụ sinh
    • Phân bố: Lào Cai, Lâm Đồng, các tỉnh núi phía Bắc
    • Mô tả: Thân hình trụ dài khoảng 35cm, lóng 3cm. Lá hình mác rộng, nhọn dài 6cm, rộng 1cm. Cụm hoa bên, 1 – 4 hoa, mọc trên thân không còn lá.

    Thông tin:

    • Tên Việt: Hoàng thảo báo hỷ hay Báo hỉ
    • Pháp danh: Dendrobium secundum
    • Họ Orchidaceae
    • Phân bố trải dài Buôn Ma Thuật đến Biên Hòa

    Thông tin:

    • Tên Việt: Lan hoàng thảo đơn cam
    • Pháp danh: Dendrobium unicum
    • Phân bố: Kon tum, Gia Lai Thái Lan, Lào

    Thông tin:

    • Tên Việt: Hoàng thảo litui hay hoàng thảo loa kèn
    • Pháp danh: Dendrobium lituiflorum
    • Phân bố: các tỉnh miền bắc,Lai Châu, Kon Tum các nước đông nam á và nam á

    Thông tin:

    • Tên việt: Hoàng thảo môi râu hoặc môi tua, hoàng long vỹ, thủy tiên râu mép, môi tơ
    • Pháp danh: Dendrobium brymerianum
    • Phân bố: Cao Bằng, Sapa và có ở Lâm Đồng và còn phân bố ở Trung Quốc, Thái Lan

    Cách trồng hoa lan hoàng thảo

    Mỗi loại hoa lan hoàng thảo sẽ có đặc điểm, môi trường sống khác nhau cho nên bạn cần phải tìm hiểu về loại hoa này cẩn thận thì mới có thể chăm sóc và nuôi dưỡng hoa được lâu bền. thường thì đối với những kì ngủ đông của hoa lan bạn không nên bón phân, giảm lượng nước tưới xuống hoặc cũng có thể phun sương để giúp cây không bị teo lại.

    Đối với hoa lan thuộc nhóm Nobile thì không nên bón phân châm tan khi cây đang trong quá trình phát triển hoặc sắp có hoa. Khi cây bắt đầu xuất hiện nu hoa thì những chồi non sẽ bắt đầu xuất hiện, đến lúc này bạn đã có thể tưới nước và bón phân cho cây bình thường tuy nhiên không nên để những chồi non bị thấm nước vào cuối buổi chiều.

    Đối với những loại hoa lan hoàng thảo thuộc nhóm Anossmum thì cũng được chăm sóc giống như là cây lan thuộc nhóm Nibile. Tuy nhiên vào mùa thu, cây cần được chăm bón ở nhiệt độ cao hơn, vào những ngày đầu thu thì những cây con bắt đầu phát triển và cần được giảm lượng nước tưới, không nên bón phân cho cây vào lúc này. Hoa của những loại cây này thường nở vào những ngày cuối của màu xuân.

    Với những loại lan thuộc nhóm Farmeri thì không có giai đoạn ngủ đông, tuy nhiên bạn cũng nên giảm bớt lượng nước tưới cho cây vào mùa đông và mùa thu. Còn đối với những loại lan hoàng thảo thuộc nhóm Formosum, nếu muốn cây đạt hoa tốt nhất thì phải chăm sóc hoa ở nhiệt độ thấp khoảng 13 – 15 độ C. Hoa thuộc loại này khá mỏng manh tuy nhiên lại rất bền và không nên tưới nước vào những chồi non.

    Với hoa lan hoàng thảo thuộc nhóm trúc lan thì không nên để cây ở nhiệt độ thấp hơn 16 độ C, hoa có kích thước lớn hơn hoa lan khác, lâu tàn và có rất nhiều màu. Còn đối với những loại hoa loan thuộc nhóm mini hay dendro màu xuân thì được trồng ở nhiệt độ ấm quanh năm, không tưới nước quá nhiều lúc cây đang trong quá trình nở hoa và ra chồi mới.

    Hiên nay có rất nhiều người ưa thích việc trồng hoa lan hoàng thảo để tô điểm thêm cho ngôi nhà của mình thêm sắc màu. Bài viết Danh sách các loại lan hoàng thảo hi vọng đã giúp mpoij người trong việc nhận dạng và chăm sóc hoa lan một cách chi tiết và cụ thể nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chọn Giá Thể Phù Hợp Với Từng Loại Lan Rừng
  • Bán Lan Hàng Giò: Đai Châu Rừng, Quế, Hoàng Thảo Thái Bình, Hoàng Lạp, Sóc Lào 06
  • Hoàng Thảo Trầm 6 Cánh, Den.parishii Var Six Wings, Mua Bán Uy Tín
  • Lan Rừng Đẹp Phi Điệp Vàng
  • Những Điều Nên Biết Về Lan Phi Điệp Vàng
  • Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) Cây Hoa, Vị Thuốc

    --- Bài mới hơn ---

  • Loại Lan Thòng Tên Hoàng Thảo Thiên Cung
  • Lan Rừng Quý Hoàng Thảo Hạc Vỹ
  • Chiêm Ngưỡng Vẻ Đẹp Độc Đáo Kiều Vuông
  • Cây Phong Lan Rừng Kiều Vuông Quý
  • Các Loại Lan Rừng Thường Gặp Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) Cây hoa, Vị thuốc

    Chi Dendrobium (Lan Hoàng Thảo, Đăng lan), thuộc họ thực vật Orchidacea, là một chi hoa rất lớn bao gồm trên 1500 loài, sinh sống tự nhiên trong một khu vực trải rộng từ Triều Tiên, Nhật xuống Mã Lai, Indonesia, đến Úc và New Zealand.

    Giáo sư Tôn Thất Trình đã nhận xét về “tiến bộ” của Thái Lan trong việc khai thác khả năng kinh tế của Lan Hoàng thảo như sau: “mỗi lần được ghé Thái Lan xem triển lãm hoa lan và thi xe hoa, kết toàn hoa lan, ngắm các phong lan Dendrobium spp. (Giả hạc, Thanh Hoàng, Ngọc Điểm, Ngọc Vạn, Kim Điểm, Nhất điểm Hồng…) Thái Lan tuyển chọn, lai giống hay ngoại nhập, mới thấy Thái Lan tiến bộ quá nhiều, biến Dendrobium thành một tông chi lan, “quốc hoa”, ít nhất là trên phương diện phổ biến thương mại quốc tế…”

    Tại Việt Nam, theo nhà nghiên cứu Lan Bùi Xuân Đáng, hiện có 133 giống Dendrobium (12-2003). Trong sách “Tra cứu Tên cây cỏ Việt Nam” từ trang 206 đến 210, GS Võ văn Chi đã liệt kê được 104 loài.

    Do vẻ đẹp đặc biệt, nhiều loài Dendrobium đã được chọn làm hoa biểu tượng cho nhiều địa phương trên thế giới như:

    D. formosum: biểu tượng cho tỉnh Ranong (Thái).

    D. moniliforme: cho Hạt Matsushima, Miyagi (Nhật).

    D. nobile: cho Sikkim (Ấn Độ).

    D. biggium: cho Tỉnh Malaku (Indonesia) và cho vùng Queesland (Úc), nơi hoa đưọc gọi là Cooktown Orchid.

    – Bắc Hàn dùng Dendrobium “Kim il Sung” ( D. kimilsungia) làm biểu tượng.

    Nhiều loài Dendrobium lai tạo đã được đặt tên để kỷ niệm các danh nhân thế giới như:

    Dendrobium Margaret Thatcher

    Dendrobium Pompidou

    Dendrobium Bae Yong-joon Tên khoa học và các tên gọi:

    Dendrobium spp thuộc họ thực vật Orchidacea, một số tải liệu ghi thêm họ phụ Epidendroideae. Các tên thực vật đồng danh: Callista (đã bị bãi bỏ), Ceratobium, Pierardia, Thelychiton.Dendrobium, từ tiếng Hy lạp: Dendron = cây; bios = sống với ý nghĩa: sống bám trên cây (epiphytic), tuy nhiên cũng có loài Dendrobium sống bám trên đá (lithophytic).

    Tên Thạch Hộc, theo Trung Hoa, Thạch = đá; Hộc = đơn vị đo lường. Thạch hộc = Lan mọc trên những tảng đá to cỡ một hộc.

    Mô tả thực vật:

    Lan Dendrobium là một họ lan rất lớn, nhiều sắc thái bao gồm cả những loài rụng lá và loài có lá xanh quanh năm, sinh trưởng tự nhiên trong một vùng rộng lớn, có khí hậu khác nhau, từ Đông Á sang vùng Hải đảo Thái bình dương xuống đến Úc, New Zealand. Đa số lan tự nhiên thuộc loài cộng sinh, sống bám trên cây hoặc trên đá, có những giả hành dài từ vài cm ( D. leucocyanum) đến vài thước ( D. discolor), ốm và uốn cong khi phát triển hoặc mập mạp và đứng thẳng. Lan Dendrobium có thể có lá thon nhỏ, mọc chéo theo suốt chiều dài của thân. Lá nơi gốc có thể mọc bao kín chồi..Cần hoa cũng dài hay ngắn khác nhau, từ vài cm đến 1m. Cây mang từ 1-4 hoa ( D. nobile) nhưng củng có thể đến cả 100 hoa ( D. speciosum). Những cây rụng lá, thường mất lá sau 1-2 năm và hoa mọc ra từ các thân trơ trụi, trong khi đó những cây không rụng lá thường trổ hoa từ thân sau khoảng 1 năm và tiếp tục ra hoa trong nhiều năm kế tiếp.

    Do sự đa dạng nên các nhà sưu tập và trồng Dendrobium đã tạm phân loại chúng dựa theo một số điểm tương đồng, về cách sống, mùa nghỉ và mùa hoa.

    American Orchid Society phân Dendrobium thành 8 loại (Tác giả Nguyễn Duy trong bài “Phân loại các giống lan Dendrobium” trên trang web chúng tôi tóm gọn hơn thành 6 loại).

    1/ Callista: Không rụng lá, đa số có giả hành. Có từ 1-6 lá mọc phía trên đỉnh giả hành. Cần hoa xuất hiện vào mùa Xuân, thường cong vòng và mang nhiều hoa màu vàng, trắng, tím nhạt. Trong nhóm này có những loài như Den. chrysotoxum (Hoàng lạp), Den. densiflorum (Thủy tiên vàng), Den. farmeri (Thủy tiên trắng), Den. lindleyi Den. thyrsiflorum.

    2/ Spatulata: thường được gọi là nhóm lan “Hoàng thảo-sừng sơn dương”, do hoa có đôi cánh dài và mọc xoắn như sừng antelope. Không rụng lá, giả hành to, cao. Ra hoa một lượt với nhiền cành hoa, hoa lâu tàn. Được xem là nhóm dễ trồng. Trong nhóm có Den. antenatum, Den. canaliculatum, Den. discolor, Den. gouldii, Den. johannis, Den. lineale, Den. sratiotes, Den. strebloceras Den. laurinum.

    3/ Dendrobium: Rụng lá và giả hành mọc rũ xuống. Hoa mọc ra gần đầu các cành già không còn lá. Cây cần có mùa đông lạnh để trổ hoa. Nhóm này có Den. anosmum, Den. chrysanthum, Den. falconeri, Den. fimbriatum, Den. findlayanum, Den. friedricksianum, Den. heterocarpum, Den. loddigesti, Den. moniliforme, Dem. Nobile, Den. parishii, Den. primulinum, Den. transparent Den. wardianum.

    4/ Formosae: Lá không rụng, hẹp; giả hành mọc thẳng đứng có những đám lông đen nơi nối kết của lá. Hoa trắng, lớn đến 10 cm, có những điểm vàng, cam, lục hoặc tím. Trong nhóm có Den. bellatulum (Bạch hỏa hoàng), Den. draconis (Nhất điểm hồng), Den. formosum (Bạch nhạn), Den. infundibulum, Den. lowii, Den. lyonii, Den. margaritaceum, Den. sanderae.

    5/ Latura: Không rụng lá, có giả hành dày, to cỡ trung bình. Hoa thường màu vàng-xanh đến xanh lục gồm Den. atroviolaceum, Den. johnsoniae, Den macrophylum, Den. spectabile.

    6/ Oxyglossum: Nhóm lan rừng, nhỏ, không rụng lá, gặp tại vùng núi cao. Hoa lâu tàn, nhiều màu sắc. Gồm Den. bellwigianum, Den. cuthbersonii, Den. laviefolium, Den. vexillarius.

    7/ Pedilonum: cỡ trung bình, già hành thẳng, có lá, mang nhiều hoa nơi thân đã rụng lá. Hoa màu sắc rực rỡ, hồng, tím, cam đôi khi trắng và kem. Gồm Den. amethystoglossum, Den. myakei, Den. secundum, Den.smilliae Den. victoriae-reginae.

    8/ Phalaenanthe: Có thể rụng hoặc không rụng lá tùy điều kiện sinh sống. Giả hành gầy, ốm nhưng dài và cao. Phát hoa mọc ra từ các mắt “ngủ” ở ngọn. Nhóm này có hoa, cánh tròn và to giống như hoa của giống lan Hồ điệp. Hoa rất lâu tàn, kéo dài tùy loài từ 1 đến 3 tháng. Gồm Den. affine, Den. bigibbum, Den. dicuphum, Den. williamsianum.

    Vài cây Hoàng thảo đáng chú ý:

    Tại VN, với trên 130 loài Hoàng thảo, xin ghi lại vài loài “đặc sắc”, theo sự mô tả của Nhà nghiên cứu Bùi xuân Đáng (trang mạng “hoalanvietnam.org” có mô tả và hình ảnh của 140-150 loài lan VN, cùng gần 1300 giống). Các loài có dược tính được mô tả riêng trong phần Hoàng thảo dùng làm thuốc.

    Thân dài buông thõng xuống, một hay hai hoa mọc ở các đốt khi lá đã rụng, màu tím hồng, môi hoa cùng màu có hai đốm tím đậm. Có một loại khác màu trắng tuyền. Hương thơm ngào ngạt.

    Thân cũng dài và buông thõng xuống nhưng nhỏ hơn loài anosmum. Hoa mọc ở đốt từ 1-3 bông, mảu trắng đục hay hồng nhạt, cánh môi màu vàng nhạt. Rất thơm.

    Hoàng thảo dùng làm thuốc:

    1/ Dendrobium nobile: Noble dendibrium, Lan Thạch hộc, Hoàng thảo cẳng gà, lan đùi gà, Phi điệp kép, Kim thoa thạch hộc. Các tên khoa học đồng danh: D. formosanum, D. nobile var. formosanum.

    Đây là cây lan được dùng làm thuốc lâu đời nhất tại Trung hoa, Nhật và cũng là cây được nghiên cứu sâu rộng nhất về dược tính và ứng dụng làm thuốc kể cả các thuốc đặc chế (tại Tàu).

    Cây biểu sinh trên cây gỗ hay vách đá, cao 30-60 cm (12-24″), đường kính 1,3 cm (0.5″), thường mọc thành khóm. Thân hơi dẹt có rãnh dọc, khi khô có màu vàng rơm. Lá mọc so le hai bên thân dài 6-12 cm (2.4-4.7″), rộng 1-3 cm (0.4-1.2″), không lông, dễ rụng. Hoa to xếp thành bó 1-4 cái ở sát nách lá, hoa dài 4-4,5 cm (1.6-1.8″), rộng 3-3,5 cm (1.2-1.4″), màu hồng tía ờ chót đầu của cánh hoa, chuyển sang trắng vào phía trung tâm; ở họng của cánh môi có một chấm to màu hạt dẻ. Quả nang hơi hình thoi, khi khô tự mở theo các rãnh dọc (Mô tả của Võ văn Chi).

    D. nobile phân bố khá rộng từ vùng Himalaya, Assam, Nepal, Bhutan, Myanmar, Trung Hoa, Thái, Lào, Việt Nam. Cây được dùng làm “cây gốc” để lai tạo thành nhiều chủng loại cho hoa có mùi thơm và đủ màu sắc.

    Thành phần hóa học:

    Trong D. nobile có: Chất nhày Alkaloids loại sesquiterpene như Dendrobine, Gigantol

    Hợp chất phenanthrene như lusianthridin, debinobin

    Hợp chất nibenzyl: Moscatilin, Nobilin D, E

    Hợp chất phức tạp như alloaromadendrane, emmotin, picrotoxane..

    Theo James Duke trong Phytochemical and Ethnobotanical Databases, trong Dendrobium nobile có:

    Các hợp chất: Debinobine, Dendramine, Dendrine, Dendro bine (dendrobine-N-oxide), Dendroxine (oxy-dendroxine, 4 và 6 hydroxy-dendroxine), Nobiline, Nobilonine.

    Các sterol: beta-sitosterol, beta-sitosterol-beta D glucoside

    Các khoáng chất: Calcium, Đồng, Sắt, Magnesium, Manganese, Potassium, Sodium, Kẽm..

    Nghiên cứu khoa học: – Hoạt tính kháng viêm:

    Hoạt tính chống sưng của cây là do tác động của erianthridin, ephemeranthol A, coelonin, ephemeranthol C và lusianthridin Những hợp chất loại phenanthrene này ngăn chặn sự tạo nitric oxid nơi đại thực bào RAW 246.7., một giai đoạn tối cần để gây phản ứng sưng (Bioorganic & Medicinal Chemistry Letter Số 20-2010).

    – Hoạt tính chống oxy-hóa, chống lão hóa:

    Một hợp chất, đặt tên là SG-168 cho thấy có tác động bảo vệ tế bào pheochromocytoma (chuột) chống lại các tác hại do hydrogen peroxyde, đồng thời bảo vệ chống hư hại về thần kinh gây ra do stress tạo oxy hóa (Journal of Medicinal Food Số 14-2011). Các chất chuyển hóa loại dibenzyl: nobilin D và E ly trích từ cây có khả năng chống oxy hóa khá mạnh khi thử nghiệm dùng mô thức 2,2-diphenyl-1-picrylhydrazyl (Journal of Natural Products Số 70-2007) Cây có chứa dendroflorin có hoạt tính chống lão hóa khi thử “in vitro” trên môi trường cấy tế bào của bào thai người (trụy thai) loại MRC-5 (Pharmazie Số 63-2008).

    – Hoạt tính kích thích hoạt động của Hệ miễn nhiễm:

    Những hoạt chất loại alloaromadendrane, emmotin và picrotoxane sesquiterpene glycosides có những hoạt tính kích ứng miễn nhiễm và giúp cơ thể thay đổi thích ứng với những thay đổi bất lợi của môi sinh (adaptogenic) (Phytochemistry Số 61-2002). Moscatilin, một hợp chất loại stilbene trong cây, có khả năng bảo vệ vi khuẩn gram (-) Salmonella typhimurium chống lại nhiều hóa chất gây biến đổi gen như 4-nitroquinoline-1-oxide (4NQO), N-methyl-N”-nitro-N-nitrosoguanidin (MNNG), bức xạ UV. (Journal of Agricultural Food Chemistry Số 47-1999)

    – Hoạt tính diệt bào chống tế bào ung thư:

    Các phenathrene của cây như lusianthridin và denbinobin có hoạt tính diệt bào khi thử (in vitro=trong ống nghiệm) trên các tế bào ung thư phổi nơi người adenocarcinoma epithelial, dòng (A549) và ung thư buồng trứng (người) ovary adenocarcinoma (SK-OV-3) và ung thư máu promyelocytic leukemia (HL-60) (Planta Medica Số 61-1995) Lusianthridin cho thấy có khả năng làm teo bướu, dồng thời kéo dài khả năng sinh tồn nơi chuột bị cấy tế bào ung thư loại sarcoma 180.

    2/ Dendrobium moniliforme:

    Hoàng thảo ngọc trúc. Xi-jing shi hu. Necklace-shaped Dendrobium, Chosei ran (Nhật), Phong lan hay Thạch lan, thân cao 30-40 cm (12-16″), nhiều đốt, mỗi đốt dài chừng 2,5 cm (1″), màu vàng tươi. Lá mọc cách hình thuôn chừng 3-5 cm x 0,5-1,2 cm (1.2-2″ x 0.2-0.5″). Hoa mọc từng chùm 2-3 chiếc, ở các đốt trên thân cây già đã rụng lá. Hoa có nhiều màu như trắng, hồng, tím, vàng nhạt và xanh. Hoa lớn cỡ 3-4 cm, lâu tàn và rất thơm. Theo Ông Bùi Xuân Đáng thì cây rất được ưa chuộng tại Nhật và có đến 135 biệt dạng.

    Cây phân bố rất rộng: Trung Hoa, Taiwan, Bhutan, Ấn, Nhật, Hàn, Myanmar, Nepal, Việt Nam.

    Trong cây có những hợp chất phenanthrene-quinones như denbinobin, có hoạt tính chống sưng và tạo tiến trình apoptosis nơi tế bào (Journal of Natural Products Số 64-2001). Cây còn có những sesquiterpene glucosides và phenolic glycosides như copacamphane, picrotoxane có những hoạt tính kích ứng miễn nhiễm (Planta Medica Số 69-2003). Dendroside A, C và vaniloside có hoạt tính kích thích sự sinh sản tế bào B, đồng thời ức chế sự bội sinh tế bào T (Journal of Natural Products Số 66-2003) Dịch chiết bằng methanol toàn cây cho những alkyl ferulates có hoạt tính chống oxy-hóa. Dịch chiết bằng methanol từ rễ có hoạt tính hạ nhiệt khi thử trên thỏ.

    3/ Dendrobium officinale:

    Thiết bì thạch hộc, Tiepi shi-hu. Tên đồng danh Dendrobium candidum.

    Cây lan hầu như ít được nhắc đến trong các sách vở nghiên cứu, nuôi trồng lan và chỉ được mô tả trong các bài viết y dược tại Trung Hoa. D. officinale Kimura & Migo hiện được xếp vào loài được bảo vệ tại Trung Hoa. được trồng và thu hoạch hạn chế tại những trại lan ở Triết giang, Quảng Tây, Quế châu, Vân Nam và Tây tạng. Theo Ủy Ban Chế dược thư (Pharmacopoeia Commission of PRC, 2010) thì D. officinale được xếp vào loại cây thuốc giúp đề kháng ung thư và tăng tuổi thọ.

    Theo PRC Pharmacopoeia thì trong D. officinale có dendrobium polysaccharides (23%), alkaloids (0.02-0.04%) amino-acids (135mg/g cây khô), nhiều kim loại như Sắt (292 microg/g), Kẽm (12 mcg/g), Manganese (52mcg/g), Đồng (3.6 mcg/g).

    Những nghiên cứu khoa học ghi nhận D. officinale và polysaccharides trong cây cải thiện, tăng cường sức đề kháng tế bào khi thử trên chuột (Natural Products Communications Số 6-2011), hoạt tính chống oxy-hóa của các polysaccharides tổng cộng và polysaccharide tinh chế DCPP3c-1 (trích từ môi trường cấy mô D. officinale) đã được chứng minh qua các thử nghiệm “in vitro” (Chinese Traditional Patent Medicine Số 29-2007). Dịch chiết từ D. candium ( D. officinale) có hoạt tính làm hạ đường khi thử trên chuột bị gây tăng đường trong máu bằng adrenaline và bằng streptozotocin do cách tác động kích thích sự bài tiết insulin từ tế bào beta, đồng thời ngăn sự bài tiết glucagon từ tế bào alpha, ngoài ra còn làm giảm sự phân hủy của glycogen trong cơ thể, làm tăng tổng hợp glycogen trong gan (Trung Quốc Trung dược Tạp chí Số 24-2009). D. officinale là một trong 5 dược thảo có chứa chrysotoxene, erianin và confusarin là những chất có hoạt tính diệt bào khi thử (in vivo và in vitro) trên nhiều dòng tế bào ung thư khác nhau (Acta Botanica Boreali-Occidentalia Sinica Số 26-2006.

    4/ Các Dendrobium khác:

    Một số Dendrobium khác đã được nghiên cứu về hoạt chất cùng khả năng trị bệnh như:

    Dendrobium densiflorum: Trong cây có Scopoletin và Scoparone có hoạt tính ngăn chặn sự kết tụ tiểu cầu (Phytochemistry Số 57-2001).

    Dendrobium chrysanthum: Trong đọt có erianin có hoạt tính diệt bào chống sự bội sinh của tế bào ung thư máu HL-60 do khả năng tạo tiến trình tự hủy (apoptosis) và gây trở ngại cho sư phân lập bcl-2 và gen bax trong HL-60 (Acta Pharmacologica Sinica Số 22-2001). Erianin còn có tác động làm teo bướu ung thư, gây hoại tử tế bào ung thư và chặn sự chuyển vận dưỡng chất qua vi mạch tế bào ung thư khi thử trên tế bào ung thư gan hepatoma Bel7402 và melanoma A375 (European Journal of Cancer (Số 40-2004). Dendrochrysanen ly trích từ đọt có tác động làm giảm mức mRNA của TNF-alpha, IL8, và iNOS trong đại thực bào màng phúc toan khi thử trên chuột.

    Dendrobium amoenum var. denneanum: Hợp chất loại dihydrostibene, isoamoenylin có hoạt tính chống oxy-hóa khá mạnh (Bioscience & Biotechnology and Biochemistry Số 66-2002)

    Dendrobium loddigesii: Đọt tươi có chứa shihunidine và shihunine có hoạt tính ngăn chặn hoạt động của men Na+ và K+ ATPase nơi thận của chuột (Yao Xue Xue Bao Số 26-1991).

    Tác dụng của các polysaccharides trong Dendrobium:

    Một số hoạt tính sinh học của lan Dendrobium đã được xác định là do những polysaccharides thô (CPs) có trong lan. Các CPs này có những tác động trên các hoạt động của đại thực bào như kích khởi sự thực bào, sự tiết NO và những cytokines IL-1-alpha, IL6, IL10 và THF-alpha.

    Hàm lượng polysaccharides trong Dendrobium được ghi nhận là từ 3.6-13.4 %. Tỷ lệ này thay đổi tùy loài và nơi sinh sống. Lượng carbohydrate tổng cộng cũng thay đổi 70.8-93.0 %. Tỷ lệ hoạt chất cao nhất trong Den. officinale, sau đó là D.huanshanese (loài dùng làm thuốc tại Taiwan), D. nobile.

    1/ Chin Chai Shih Hu (Golden Hairpin Dendrobium) = Kim-Sai Thạch hộc gồm các cây D. linawianum D. nobile.

    2/ Er Huan Shih Hu (Earring Dendrobium) gồm D. candidum, D. ercoglossumD. mobiliforme.

    3/ Ma Pien Shih Hu (Horse whip Dendrobium) gồm D. chrysanthum, D. denneanum, D. fimbriatum.

    4/ Huan Tsao Shih Hu (Yellow herb Dendrobium) gồm D. acundum, D. crepidatum, D. devonianum, D. lohonense.

    Tuy nhiên, phần lớn vị thuốc này là do Dendrobium nobile.

    Theo Dược học cổ truyền Tảu, thì vị thuốc Thạch hộc đã được ghi chép trong Thần nông Bản thảo, và được dùng tại Trung Hoa từ khoảng năm 500 trước Tây lịch. Vị thuốc là toàn cây, thu hái quanh năm, phơi khô, được cho là có vị ngọt hơi mặn hoặc nhạt; tính hàn, tác động vào các kinh mạch thuộc Tỳ và Thận.

    Thạch hộc có những tác dụng:

    – Dưỡng Âm, Thanh Nhiệt, Tái tạo tân dịch, nên được dùng trong những chứng táo (khô, khát), nóng do Âm suy.

    – Dưỡng Âm Tỳ tạng dùng trị các chứng đau bao tử, lưỡi khô, chứng tiêu khát (tiểu đường).

    – Minh mục (làm sáng mắt) và trị đau lưng.

    Thạch hộc không được dùng trong các trường hợp nóng sốt cao, vị thuốc có tính gây thấp nên không dùng khi bụng căng, lưỡi phủ rêu trắng.

    Công thức của thuốc được ghi là lưu truyền từ đời nhà Nguyên (1279-1368) dưới tên Dạ quang hoàn sau đó được “cải thiện” dưới đời nhà Minh (1368-1644). Thuốc được xem là có những tác dụng chính:

    – Dưỡng Âm, phát tán Hỏa-nhiệt

    – Bổ Can, minh mục (bổ gan, làm sáng mắt) dùng để trị các chứng bệnh về mắt do suy Can, và suy Âm tại Thận gây ra những triệu chứng như mắt kém, sợ ánh sáng, mắt khô kèm theo mệt mỏi, đau lưng, mất ngủ, đổ mồ hôi ban đêm.

    Đặc chế được đặt tên: Dendrobium moniliforme Night Sight Pill do Viện bào chế Thiên Tân chế tạo, dạng viên hoàn, uống ngày 2 lần, mỗi lần viên.

    Thuốc phối hợp đến 17 vị khác nhau gồm: Lộc giác giao, Tê giác giao, Thạch hộc, Phòng phong, Xuyên khung, Nhục thung dung, Ngưu tất (mỗi vị 4 %); Câu kỷ tử, Cúc hoa, Quyết minh tử (mỗi vị 6%); Sinh địa, Mạch môn đông (mỗi vị 8 %), Nhân sâm (16 %) và còn có Ngũ vị tử, Chỉ xác, Hoàng lien.

    Ghi chú:

    Tại Đài loan: loài dùng làm vị Thạch hộc là Dendrobium elavatum var. aurantiacum, gọi tắt là Mu-hu = Mộc hộc.

    Tại Nhật (Dược học Kempo) gọi vị thuốc là Sekkoko dùng 2 loài Dendrobium chính: D. monile D. tosaense.

    Hàn dược: vị thuốc được gọi là sôkkok.

    Thạch hộc trong Dược học dân gian:

    Thạch hộc được dùng trong dân gian để trị một số bệnh như:

    – Cây giã nát, làm thuốc đắp trị nhọt, ung loét ngoài da. Những loài được dùng: D. amoenum, D. densiflorum, D. monticola.

    – Cây giả nát, đắp và bó trị trật đả, trật khớp: D. crepidatum, D. eriaeflorum, D. heterocarpum, D. moschtum.

    – Toàn cây trị yếu gan, thần kinh bất ổn: D. fimbriatum.

    – Toàn cây trị sưng phổi, ho, đau cổ họng, sốt nóng, kích dục: D. macaraei.

    – Đọt dùng trị khát, khô lưởi, nhược sức: D. nobile

    * Dendrobium trong các “Chế phẩm hổ trợ sức khỏe”

    Những chế phẩm được xem là có “vấn đề” gồm:

    – Craze (Nhà Sản xuất: Driven Sport)

    – Detonate & B4

    Từ 16 tháng 3, 2012, Nhà sản xuất Craze đã bị kiện tập thể (class action lawsuit) cho rằng Chế phẩm Craze có chứa amphetamine, một dược chất bị kiểm soát; thành phẩm được bào chế trong những điều kiện không thích hợp, và dendrobium là một loại hoạt chất NDI, cần có sự chấp nhận của FDA. Những người khỏi xướng vụ kiện cho rằng Craze có chứa “phenylethylamine” là một chất không có trong dendrobium và được “thêm” vào khi sản xuất (spikes). (WebMD-Dendrobium: Uses, Side Effects, Interactions and Warnings).

    Tài liệu sử dụng:

    Trích tinh Dendrobium chứa những hoạt chất dendrobine, dendroxine, dendramine. Trong số này, dendrobine được xem là có dược tính làm giảm đau, chống sưng. Một vài tác giả cho rằng trích tinh Dendrobium có thể chứa các phenylethylamines (PEAs) nhưng chưa được chứng minh. (PEAs là một chất kích thích kiểu amphetamine). Ngoài ra dendrobine, khi dùng quá liều, có thể làm chậm nhịp tim, nhịp thở và làm tụt áp huyết xuống mức có thể gây tác hại. Nếu trong “công thức” thành phẩm chỉ ghi “từ Den. nobile”, cũng không có cách nào biết được tỷ lệ dendrobine (trong cây và dĩ nhiên là trong thành phẩm) đồng thời cũng khó biết được nguồn gốc PEAs. nếu không có những phân chất “đáng tin” tại những phòng thí nghiệm “độc lập”.

    – American Orchid Society.

    – Phân loại các giống lan Dendrobium (Nguyễn Duy trên hoalanvietnam.org).

    – Chinese Herbal Medicine-Materia Medica (Bensky & Gamble).

    – Từ Điển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi).

    hoalanvietnam.org; DS Trần Việt Hưng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Thấy Giống Lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía Chưa Từng Có, Mũi Và 5 Cánh Của Hoa Trắng Như Tuyết
  • Độc Đáo Loài Lan Hoàng Thảo Xoắn Với Khuôn Bông Không Giống Ai
  • Đai Châu, Sóc Lào, Sóc Ta, Hải Yến, Ý Ngọc, Ý Thảo, Ngọc Thạch, U Lồi, Kiều Vuông 18
  • Lan Hoàng Thảo Trầm Tím
  • Kỹ Thuật Kích Kie Lan Phi Điệp Và Lan Hoàng Thảo
  • Tìm Thấy Giống Lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía Chưa Từng Có, Mũi Và 5 Cánh Của Hoa Trắng Như Tuyết

    --- Bài mới hơn ---

  • Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) Cây Hoa, Vị Thuốc
  • Loại Lan Thòng Tên Hoàng Thảo Thiên Cung
  • Lan Rừng Quý Hoàng Thảo Hạc Vỹ
  • Chiêm Ngưỡng Vẻ Đẹp Độc Đáo Kiều Vuông
  • Cây Phong Lan Rừng Kiều Vuông Quý
  • Lan phi điệp đột biến có rất nhiều chủng loại nhưng dòng lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía rất hiếm. Một người ở Lào Cai đã may mắn sở hữu, đang trong quá trình nhân giống.

    Hoa lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía chỉ có màu xanh, vàng, tím (cánh hoa màu xanh ngà vàng và lưỡi họng màu tím viền trắng), hoặc màu xanh tuyền (hoa đột biến var alba rất hiếm). Tuy nhiên, mới đây, anh Lê Minh (Sapa, Lào Cai) đã tìm ra loài lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía đột biến.

    “Tôi mất công tìm kiếm một năm nay, dòng này đột biến rất hiếm. Hiện nay, chưa tìm thấy một cây nào, đây là lần đầu tiên ở Việt Nam có một cây lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía đột biến”, anh Minh nói

    Cây hoa lan đột biến mới được phát hiện.

    Theo chủ nhân của dòng lan này, cây lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía đột biến tìm được ở một vách núi. Những người dân tộc phải mắc dây cáp, leo xuống vực thẳm, rất nguy hiểm mới tìm ra được. Nơi tìm thấy loài lan đột biến này là ở vực thẳm vùng biên giới Lai Châu, Điện Biên giáp với Lào (cửa khẩu Tây Trang).

    Anh Minh cho hay, nhìn cây có thể nhận biết về sự đột biến của nó, ngoài cánh đẹp khác thường thì mũi và 5 cánh của hoa trắng như tuyết.

    Nhiều người trả giá cao nhưng anh chưa bán.

    Đã có rất nhiều hỏi mua với giá cao nhưng anh Minh chưa bán. Anh chia sẻ: “Có một số anh em hỏi mua với giá cao nhưng tôi từ chối. Họ nói lan đột biến quý như thế này phải vào tay những đại gia có tiếng chơi lan mới được giá vì họ có danh tiếng để đẩy giá, lướt sóng”.

    Cũng theo anh Minh, tiềm năng của dòng lan này rất lớn vì đây là 1 trong 9 loại dược liệu trong loài lan. Thạch hộc tía là vị thuốc đa công dụng, cây thạch hộc có tác dụng bổ khí huyết, mạnh gân xương, bổ thận, trợ dương, ích vị sinh tân dịch.

    Thạch hộc tía thuộc họ hoa lan, thường sống cộng sinh trên các cây gỗ lớn hoặc vách đá, kẽ đá. Cây phân bố ở khắp các tỉnh miền núi nước ta, nhiều nhất ở các tỉnh có địa hình núi đá vôi như Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Lào Cai, Lai Châu…

    Mùa Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía nở hoa thường vào cuối mùa xuân và đầu mùa hè, ra hoa vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 5. Hoa nở rải rác và dựa theo vùng miền nuôi trồng cây

    Độ dày hoa phụ thuộc vào cây to hay nhỏ, thường cần hoa ra ở mỗi mắt của thân cây. Hoa mọc rất dày trên thân, thường mỗi thân sẽ có hoa khoảng 1/3 chiều dài của thân. Mỗi bông hoa có đường kính từ 2-3 cm (có thể to hơn do tình trạng cây nhưng rất ít thấy).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Độc Đáo Loài Lan Hoàng Thảo Xoắn Với Khuôn Bông Không Giống Ai
  • Đai Châu, Sóc Lào, Sóc Ta, Hải Yến, Ý Ngọc, Ý Thảo, Ngọc Thạch, U Lồi, Kiều Vuông 18
  • Lan Hoàng Thảo Trầm Tím
  • Kỹ Thuật Kích Kie Lan Phi Điệp Và Lan Hoàng Thảo
  • Mê Mẫn Lan Rừng Kiều Tím Quý Hiếm
  • Độc Đáo Loài Lan Hoàng Thảo Xoắn Với Khuôn Bông Không Giống Ai

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Thấy Giống Lan Hoàng Thảo Thạch Hộc Tía Chưa Từng Có, Mũi Và 5 Cánh Của Hoa Trắng Như Tuyết
  • Lan Hoàng Thảo (Dendrobium) Cây Hoa, Vị Thuốc
  • Loại Lan Thòng Tên Hoàng Thảo Thiên Cung
  • Lan Rừng Quý Hoàng Thảo Hạc Vỹ
  • Chiêm Ngưỡng Vẻ Đẹp Độc Đáo Kiều Vuông
  • Độc đáo từ cái tên cho tới mặt hoa, lan hoàng thảo xoắn là một loài lan rất đẹp, dễ trồng và được nhiều người trong giới chơi lan ưa thích. Những chậu lan xanh tốt, chùm hoa sai trĩu và mặt bông độc đáo đã khiến cho nó một thời nổi danh như hoa hậu. Vậy cách nhận biết và trồng cây phong lan hoàng thảo xoắn như thế nào, có khó hay không?

    Nguồn gốc, phân bố của cây hoàng thảo xoắn

    Tên khoa học: Dendrobium tortile Lindl

    Phân bố: cây lan phân bố phổ biến ở Nam Á cho đến Đông Nam Á. Tại Việt Nam, cây mọc bám trên các cây gỗ lớn khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung Việt Nam, từ Lào Cai cho đến Đà Lạt.

    Đặc điểm nhận biết cây lan hoàng thảo xoắn

    Hoàng thảo xoắn là một trong những loài lan rất dễ bị nhầm lẫn với lan đùi gà. Tuy nhiên nhân của nó tương đối xanh, không có lớp vỏ trắng bao bọc dọc thân.

    Cây thuộc dòng lan hoàng thảo, thân cây màu xanh, cao khoảng 40-50cm, thậm chí có những cây lan phát triển tốt có thể cao đến 1m. Dọc thân có các rãnh xẻ dọc sâu vào thân cây, thân tương đối cứng, đặc biệt là phần gốc.

    Hoàng thảo xoắn có là tương đối nhỏ, thoan nhưng lại dày hơn so với lan đùi gà.

    Bộ rễ chùm đặc trưng của dòng lan hoàng thảo, màu trắng xanh bám chặt vào giá thể hút nước và chất dinh dưỡng cho cây.

    Có thể bạn sẽ thích: Phân biệt lan hoàng phi hạc, đùi gà và hoàng thảo xoắn

    Hoàng thảo xoắn ra hoa vào khoảng tháng 3-6 dương lịch với những chùm hoa sai, màu trắng và hoặc phớt tím.

    Những chùm hoa mọc ra từ các mắt dọc thân, mỗi mắt hoa thường cho từ 1 đến 3 bông và thường mọc ở phần ngọn. Mỗi chùm hoa dài khoảng 4-8cm, kích thước mỗi bông từ 7-8 cm, khá thơm và lâu tàn. Điều đặc biệt làm nên tên tuổi ” xoắn ” của nó đó chính là các cánh hoa của nó tương đối xoăn. Lưỡi hoa dạng ống tròn, họng màu nâu đậm, đầu lưỡi trắng và thường loe ra bên ngoài.

    Cách trồng lan hoàng thảo xoắn đúng kỹ thuật

    Cách trồng lan hoàng thảo xoắn tương đối dễ, tuy nhiên rất nhiều người lại không thuần hóa được chúng. Phong lan hoàng thảo xoắn khá ưa nắng, ưa gió, gốc thoáng và độ ẩm vừa phải. Do vậy bạn hoàn toàn có thể trồng chúng tương tự như với lan đùi gà.

    Bạn có thể trồng với khúc gỗ, lũa, dớn bảng, dớn đĩa đều được, chỉ cần để hở thoáng gốc.

    Ảnh bài viết: Gỗ Phiều Nhung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đai Châu, Sóc Lào, Sóc Ta, Hải Yến, Ý Ngọc, Ý Thảo, Ngọc Thạch, U Lồi, Kiều Vuông 18
  • Lan Hoàng Thảo Trầm Tím
  • Kỹ Thuật Kích Kie Lan Phi Điệp Và Lan Hoàng Thảo
  • Mê Mẫn Lan Rừng Kiều Tím Quý Hiếm
  • Phân Loại Và Kể Tên Các Loại Lan Rừng Thường Gặp
  • Tin tức online tv