【#1】Kỹ Thuật Tưới Mít Thái Cây Mít Cần Rất Nhiều Nước Để Nuôi Trái, Đặc Biệt Thời Gian Thụ Phấn, Tạo Trái Và Khi Làm Múi. Do Đó, Vấn Đề Đặt Ra Là Người Trồng Cần Chủ Động Được Mấy Vấn Đề Sau Trong Kỹ Thuật Tưới Cho Cây Mít: Tưới Đủ Lưu Lượng Tưới Đúng Thời Điểm Có Thể Kết Hợp Bổ Sung Dưỡng Chất Qua Hệ Thống Tưới Tưới Từ Từ Để Đất Kịp Ngấm, Đồng Thời Không Làm Vỡ Ụ Trồng. Điều Này Rất Khó Nếu Thực Hiện Theo Phương Pháp Tưới Thủ Công Kéo Vòi Tưới. Phương Pháp Tưới Phù Hợp Cho Cây Mít Thái Phương Pháp Tưới Phun Mưa Cục Bộ Được Đánh Giá Là Phù Hợp Nhất Cho Cây Mít. Khi Cây Còn Nhỏ: Mỗi Cây Gắn Một Béc Có Chức Năng Giới Hạn Phạm Vi Tưới Sát Gốc, Vì Khi Này Bộ Rễ Chưa Phát Triển, Chỉ Cần Tưới Ướt Phạm Vi Đường Kính Tầm 50Cm. Khi Cây Lớn Sẽ Điều Chỉnh Phạm Vi Tưới Ướt Lớn Hơn. Lựa Chọn Béc Tưới Cho Cây Mít Cây Mít Có Nhu Cầu Nước Tưới Thường Xuyên; Tăng Dần Qua Các Năm Và Cần Một Lưu Lượng Nước Ra Đồng Đều. Do Đó Cần Chọn Loại Béc Tưới Có Chức Năng Bù Áp. Từ Khi Mới Trồng Cây Con Đến Khi Cây Phát Triển, Độ Lan Tòa (Bán Kính) Của Bộ Rễ Cây Sẽ Phát Triển Từ Khoảng 0.5M Đến Đến Trên 3M. Do Đó Cần Chọn Béc Tưới Có Bán Kính Trên 3M, Nhưng Cần Có Chức Năng Giới Hạn Phạm Vi Tưới Dưới 1M Khi Cây Còn Nhỏ. Đặc Biệt Tuổi Đời Cây Sầu Riêng Rất Dài, Có Thể Lên Đến Hàng Chục Năm, Bà Con Cần Đặc Biệt Quan Tâm Tới Chất Lượng Và Xuất Xứ Béc Tưới. Béc Tưới Phải Có Tuổi Thọ Rất Cao. Hiện Trên Thị Trường Có Khá Nhiều Loại Béc Tưới Khác Nhau, Tuy Nhiên Phổ Biến Và Được Đánh Giá Là Phù Hợp Nhất Với Các Loại Cây Trồng Lâu Năm Vẫn Là Các Sản Phẩm Của Rivulis, Điển Hình Như Rivulis S2000, Rivulis Rondo. Cả Hai Béc Tưới Này Đều Có Các Lựa Chọn Phù Hợp Cho Tưới Sầu Riêng Như: Có Chức Năng Bù Áp Có Chức Năng Giới Hạn Bán Kính Chất Lượng Sản Phẩm Cao, Tuổi Thọ Trên 10 Năm Có Khả Năng Chống Côn Trùng Thâm Nhập Có Thể Kết Hợp Với Hệ Thống Đường Ống Upvc Hoặc Ống Dẻo Ldpe. Danh Mục Thiết Bị Cần Thiết Trong Một Hệ Thống Tưới Phun Mưa Cục Bộ Hệ Thống Lọc Trung Tâm Hệ Thống Thiết Bị Hút Phân Hệ Thống Đường Ống Pvc Hệ Thống Đường Ống Dẻo Ldpe Dẫn Nước Dọc Hàng Cây Béc Tưới Phun Mưa Cục Bộ Cọc Gắn Béc Và Một Số Phụ Kiện Khác: Thiết Bị Đấu Nối Ống, Van Xả Khí…

Thời vụ trồng cây Mít thái

Cây Mít Thái khá dễ trồng và có thể trồng bất kỳ thời gian nào trong năm, tuy nhiên bà con nên trồng vào thời gian đầu mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 7 đối với các tỉnh phía nam, và trồng đầu xuân đối với các tỉnh phía Bắc để tận dụng khả năng tưới tự nhiên bằng nước mưa.

Kỹ thuật trồng cây Mít thái giống

Trước khi tiến hành kỹ thuật trồng cây Mít Thái cần phải làm đất bằng phẳng, xẻ rãnh sâu khoảng 30 đến 40 cm, đào hốc và đắp mô cao 40 -70 cm và trồng cây lên mô đất. Đối với đất dốc 5% thì không cần đắp mô, chỉ đào hốc 40 x 40 x 40 cm và trồng sao cho mặt bầu ngang với mặt đất. Nếu trường hợp đất dốc hơn 7%, làm hốc có kích thước 40 x 40 và sâu 60cm rồi trồng thấp hơn mặt đất 20 -30 cm.

Do Mít Thái cho quả sớm nên kỹ thuật trồng cây theo mật độ dày 3,5m x 3,5m hoặc 4m x 4m. Hoặc có thể trồng gốc cách gốc 5m ngay từ đầu. Trước khi trồng phải đào hố, bón lót. Đất xấu nên đào hố rộng 0,8 – 1m rồi bón lót 25 – 35kg phân chuồng hoai mục; 300 – 500g lân và 1kg vôi bột.

Còn nếu đất tốt nên đào hố rộng 0,7 – 0,8m; sâu 0,6 – 0,7m; bón lót 20 – 25kg phân chuồng hoai mục; 200 – 300gam lân và 0,5kg vôi bột. Chú ý, trước khi trồng khoảng một tuần phải trộn đều phân các loại cùng đất lấp đầy miệng hố trước.

Sau khi khai thác quả được 5 – 7 năm có thể chặt bỏ cây ở giữa để đảm bảo độ thông thoáng 7 – 8m một cây để cây tiếp tục phát triển cho các lứa sau.

Kỹ thuật chăm sóc cây Mít Thái

Chăm sóc Mít Thái phải hết sức cẩn thận, chăm chỉ. Ở giai đoạn mới trồng phải đậy phủ xung quanh gốc để che cỏ dại, chống xói mòn vào mùa mưa và giữ ẩm vào mùa khô. Nếu thấy đất khô hạn phải tưới thường xuyên 2-3 ngày/lần. Sau đó, giảm 4-5 ngày/lần. Từ năm thứ hai tưới vào giai đoạn mới bón phân và những tháng quá khô hạn.

Mít là cây rất sợ ngập úng nên vào mùa mưa lũ phải kiểm tra kênh mương cống rãnh và có kế hoạch chống úng. Đặc biệt phải thường xuyên làm cỏ quanh gốc cây để tạo thông thoáng thúc đẩy cây phát triển ổn định.

Kỹ thuật cắt tỉa cây Mít Thái

Nếu muốn cắt tỉa cây phải thực hiện từ khi cây cao khoảng 1m trở lên, khi cây chưa cho trái tỉa cành 2-3 lần/năm. Cây đã cho trái tỉa cành 1 năm/lần vào thời điểm thu hoạch trái xong. Khi tỉa bà con cắt bỏ các cành gần sát mặt đất, cành tược, cành nhỏ mọc không đúng hướng, cành sâu bệnh.

Phòng trừ hiện tượng xơ đen

Cây Mít Thái thường hay vị xơ bị đen, da không bóng, trái lại xù xì, tối, sần. Trái mít vẫn lớn bình thường, nhưng khi thu hoạch, bổ ra xơ đen nên không có giá trị thương mại. Nguyên nhân của hiện tượng đen xơ vào mùa mưa của Mít Thái là do thiếu canxi- do mưa nhiều canxi trong đất bị hụt và cây mít hấp thu kém.

Nếu thấy hiện tượng trên cần bổ sung can xi trước khi và lúc chúng ra hoa. Loại can xi tốt nhất là can xi lỏng phun lá và tưới gốc giai đoạn mít ra nụ và cứ định kỳ 2 tháng phun lại 1 lần nữa thì sẽ giải quyết vấn đề đen xơ này triệt để.

【#2】Kỹ Thuật Trồng Dưa Lê Lai F1 Kim Hoàng Hậu

Ngày 23/12/2015, NNVN đăng bài “Dưa lê Kim hoàng hậu” do Cty Hai mũi tên đỏ (East West Seed) cung cấp hạt giống. Theo yêu cầu bạn đọc, chúng tôi phổ biến quy trình kỹ thuật về loại giống này để bà con nông dân trồng đạt hiệu quả cao.

I. Đặc điểm giống

Là giống lai F1 thế hệ mới do tập đoàn East West Seed lai tạo và sản xuất tại Thái Lan.

Giống có khả năng sinh trưởng, phát triển khỏe, thích ứng rộng. Miền Nam trồng được quanh năm, miền Bắc trồng vụ xuân và vụ thu đông.

Thời gian sinh trưởng: 62-65 ngày (tùy thời vụ).

Trái có hình tròn hơi oval, vỏ trơn khi chín màu vàng kim, trái đồng đều, trọng lượng trái 1,7-2,5 kg.

Thịt trái màu vàng cam, ăn rất ngon, giòn và ngọt.

II. Kỹ thuật trồng

Chuẩn bị đất:

-Làm sạch cỏ, cày bừa đất tơi xốp, lên luống thoát nước, bón 30-50 kg vôi/1.000 m2.

-Lên liếp kết hợp bón lót và phủ bạt, liếp đơn rộng 0,8-1,0 m, liếp đôi rộng 2,7-3,0 m.

Khoảng cách trồng: Cây cách cây 0,4 m.

Chuẩn bị hạt giống:

Lượng hạt cần cho 1.000m2 đất trồng: 55g (khoảng 1.700 hạt).

Cách ngâm ủ hạt: Ngâm hạt vào nước ấm (2 sôi + 3 lạnh) trong 3-4 tiếng rồi vớt ra, để ráo, gói vào khăn ẩm sạch, ủ ấm 24-30 tiếng, thấy hạt nứt nanh thì đem gieo. Có thể gieo trực tiếp ra ruộng hoặc gieo vào bầu. Nếu gieo vào bầu, khi cây con được 2 lá mầm thì cấy ra ruộng (sau gieo 3-4 ngày).

Bón phân:

Bón lót: 75-80 kg NPK 16-16-8, kết hợp với phân hữu cơ và các loại phân vi lượng theo liều lượng khuyến cáo của nhà sản xuất.

Bón thúc: Sau khi gieo 18-20 ngày, bón 30 kg NPK 16-16-8.

Chú ý: Tuyệt đối không phun chất kích thích sinh trưởng GA3 hoặc các loại thuốc có chất điều hòa sinh trưởng khác. Không dùng phân bón lá và bón phân đạm (urê) ở giai đoạn trái nuôi trái.

Tỉa cành và chọn trái:

-15 ngày sau khi gieo: Tỉa bỏ các chồi ở các nách lá phía dưới đốt thứ 7.

-30 ngày sau khi gieo: Tiến hành cắt bỏ chồi, bấm ngọn dây chính. Để lại ba dây nhánh ở đốt thứ 7, 8 và 9. Từ các trái ở trên ba dây này sẽ chọn để lại một trái.

Sau khi chọn trái thì cắt bỏ các chồi phụ và bấm ngọn dây nhánh để cây thông thoáng, dễ quản lý sâu bệnh hại và tập trung dinh dưỡng nuôi trái.

Phòng trừ sâu bệnh:

Sâu vẽ bùa: Diệt trừ bằng các loại thuốc Trigard, Voliam Targo…

Côn trùng chích hút như bọ trĩ, rầy nhớt, bọ phấn trắng: Diệt trừ bằng các loại thuốc như Confidor, Radian, Actara… Dùng luân phiên các loại thuốc để tránh kháng thuốc, không nên pha trộn nhiều thuốc để phun.

Để phòng trừ bệnh hại cần chú ý bón phân đầy đủ và cân đối, trồng với mật độ vừa phải, vệ sinh đồng ruộng cho thông thoáng, làm đất tơi xốp, thoát nước tốt, kịp thời cắt bỏ và tiêu hủy phần cây bị bệnh để tránh lây lan.

Bệnh chết cây con: Phun Ridomil gold.

Bệnh thối thân, thán thư: Phun Copper B, Aliette, Antracol, Topsin, Ridomil gold, Amista, Mancozep.

Bệnh nứt thân chảy nhựa phun Revus opti, Score.

Bệnh phấn trắng dùng Anvil, Score, Dithand M-45, Anvil, Tilt super, Daconil…

TS. Đặng Văn Niên

【#3】Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Dưa Lê F1 Kim Hoàng Đế

Dưa lê F1 Kim Hoàng Đế VA.73 (Kim Hoàng Đế VA.73) là giống sinh trưởng khỏe, kháng bệnh rất tốt.

Quả nặng trung bình: 1,7-2,5 kg, độ đường 15-17ºBx, ruột quả màu vàng cam, ăn rất giòn và thơm.

Thời gian thu hoạch 60-65 ngày sau trồng. Lượng giống cần thiết 25 – 30 g/1000 m ².

2. Thời vụ

Thời vụ trồng tháng 2-3 đến tháng 8 dương lịch.

3. Yêu cầu ngoại cảnh

Nhiệt độ

Dưa lê F1 Kim Hoàng Đế VA.73 là cây trồng nhiệt đới nên thích hợp nhiệt độ cao. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển 25 -30 º C. Nhiệt độ thấp gây nguy hiểm và có thể làm chết héo cây con, do rễ cây không hấp thu được nước từ đất và khi mặt trời lưới nước bốc hơi từ lá nhanh hơn rễ hút nước vì thế dẫn đến héo nhanh và chết. Khả năng chịu nhiệt độ thấp của dưa lê rất yếu nhất là giai đoạn ra hoa hình thành quả, hiện tượng rụng nụ, phấn không tung và thụ phấn không thực hiện được khi nhiệt độ xuống dưới 15ºC. Nhiệt độ thích hợp để cây ra hoa và tạo quả 20 – 22ºC vào buổi sáng và 25 – 27ºC vào buổi trưa. Sự sinh trưởng sẽ bị hạn chế khi nhiệt độ thấp hơn 15ºC và khi cao hơn 35ºC.

Ánh sáng

Cây dưa lê là cây ưa sáng. Vì vậy cây cần nhiều ánh sáng ngay từ khi xuất hiện lá mầm đầu tiên cho đến khi kết thúc sinh trưởng. Nắng nhiều và nhiệt độ cao là hai yếu tố làm tăng chất lượng dưa. Cây không đủ ánh sáng hay do trồng với mật độ dày, bị che khuất sẽ giảm tỉ lệ đậu quả, kích thước quả và khả năng tích lũy đường trong quả kém. Trời âm u, mây nhiều dẫn đến chất rắn hòa tan trong quả giảm. Yêu cầu ánh sáng cho dưa từ 8 – 12 giờ. Quang kì ngắn kết hợp với cường độ ánh sáng mạnh sẽ thúc đẩy cây ra hoa cái nhiều, tăng tỷ lệ đậu quả, quả chín sớm, năng suất cao.

Ẩm độ

Dưa lê F1 Kim Hoàng Đế VA.73 thuộc nhóm cây trồng chịu hạn nhưng không chịu úng. Hệ rễ của những cây này ăn sâu, phân nhánh nhiều nhưng chúng có khối lượng thân lá lớn, thời gian ra hoa, quả kéo dài, năng suất trên đơn vị diện tích cao nên những thời kỳ sinh trưởng quan trọng cần phải cung cấp đầy đủ nước. Ẩm độ thích hợp cho phát triển dưa lê là khoảng 75% – 80%. Thời kỳ cần nước là thời kỳ sinh trưởng thân lá, thời kỳ hình thành thân lá và thời kỳ quả phát triển. Ẩm độ đất cao trong giai đoạn chín sẽ làm giảm chất rắn hòa tan trong quả, dẫn đến chất lượng quả giảm. Ẩm độ đất cao trong giai đoạn phát triển sẽ làm tăng sâu bệnh.

Đất và dinh dưỡng

Dưa lê F1 Kim Hoàng Đế VA.73 thích hợp cho loại đất tơi xốp, tầng canh tác sâu, đất phù sa, thịt nhẹ, trong quá trình canh tác cần bón đầy đủ và cân đối NPK và phân chuồng. Cây yêu cầu nhiều nước và chất dinh dưỡng nhất là ở giai đoạn ra hoa và đậu). Sự tăng trưởng của dưa lê tốt hay xấu thay đổi theo cơ cấu của đất.

pH

Dưa lê phát triển tốt nhất trên đất thoát nước tốt như đất thịt pha cát có độ pH từ 6-6,5. Các loại đất có pH< 6 thì cây bị vàng lá và ít hoa cái.

4. Kỹ thuật gieo trồng

Ngâm ủ và gieo hạt: Hạt giống ngâm nước sạch trong 4 giờ, sau đó ủ 24 giờ, sau khi hạt nảy mầm gieo vào bầu đất 1 hạt/bầu. Sau khi gieo từ 8-10 ngày, khi cây có 1-2 lá thật đem trồng trên đồng ruộng.

Ươm giống nên gieo ươm cây trong khay hoặc bầu. Giá thể gồm: Phân chuồng, tro trấu hoai mục, đất xốp nhẹ đã xử lý sạch mầm bệnh, trộn đều nhau theo tỷ lệ 30% + 10% + 60%.

Mật độ và khoảng cách:

Trồng giàn: Cây cách cây 0,5 cm, hàng cách hàng 1,5 m. Trồng hàng đôi, mật độ cây từ 25.000 – 26.000 cây/ha.

Trồng bò trên mặt đất: Cây cách cây 0,5 cm, hàng cách hàng 4 m. Luống rộng 5 m. Trồng hàng đôi, mật độ cây từ: 9.000 – 10.000 cây/ha. Nên phủ mặt luống bằng nilon đen, mặt luống san phẳng, thoải đều về hai bên mép luống, nhất là vụ Xuân Hè để quả không bị thối hỏng khi gặp mưa.

5. Phân bón và cách bón phân

Bón lót: 15 – 20 tấn phân chuồng, 400-500 kg NPK 16-16-8

Lần 1: 18-20 ngày sau khi gieo: 40-50 kg NPK 16-16-8

Lần 2: 7-10 ngày sau khi đậu quả: 200-250 kg NPK 16-16-8

Lần 3: 16-18 ngày sau khi đậu quả: 100 kg KCl

Phân Urê và DAP có thể sử dụng để tưới dặm trong giai đoạn cây còn nhỏ.

6. Chăm sóc cây sau trồng

Tưới nước: Lượng nước tưới phụ thuộc vào cơ cấu đất, thời tiết và thời kỳ phát triển của cây, nên tưới vào lúc sáng hoặc chiều mát.

Bấm ngọn, tỉa nhánh, chọn trái:

Để một dây chính: Cây không cần bấm ngọn, định hướng dây bò theo hướng vuông góc với mặt luống. Dưa lê có đặc tính quả nằm trên dây chèo (dây phụ), muốn quả to, mỗi dây để một quả, cần cắt bỏ chèo trên dây chính từ lá thứ 10 trở vào gốc trước khi để quả. Vị trí để quả tốt nhất là từ lá thứ 10 đến lá thứ 15.

Để 2 dây chèo: Cây được 4-5 lá thật tiến hành bấm ngọn chính, sau khi bấm ngọn được 7 ngày đến 10 ngày, chọn 2 nhánh tốt nhất, định hướng dây bò theo hướng vuông góc với mặt luống. Mỗi gốc nên để một quả, cần cắt bỏ chèo trên cây nhánh từ lá thứ 7 trở vào gốc trước khi để quả. Vị trí để quả tốt nhất là từ lá thứ 7 đến lá thứ 10.

Làm giàn, kê, treo quả: Có thể trồng theo kiểu làm giàn hoặc thả bò trên luống.

Làm giàn: Làm giàn khi cây cao khoảng 30-35 cm. Do thân dưa leo vươn lưới rất nhanh nên phải buộc cây vào giàn dọc theo cây dèo/lưới, cứ 2 – 3 ngày buộc 1 lần.

Trong trường hợp cho dây dưa thả bò trên luống cần tiến hành kê/treo quả để quả không bị thối hỏng, hình dạng quả đều đẹp.

7. Cách phòng trừ sâu bệnh

Bọ trĩ: (rầy lửa) sống tập trung trên đọt non hay dưới mặt lá non. Chích hút nhựa làm đọt non chùn lại, không phát triển. Có thể sử dụng thuốc: Confidor 100SL, Admire 50EC, Oncol 20ND, Regent để phun trừ.

Rầy mềm, Bọ phấn trắng: Dùng Confidor, Actara…

Sâu vẽ bùa: Diệt trừ bằng các loại thuốc Trigard, Voliam Targo…

Để phòng trừ bệnh hại cần chú ý bón phân đầy đủ và cân đối, trồng với mật độ vừa phải, vệ sinh đồng ruộng cho thông thoáng, làm đất tơi xốp, thoát nước tốt, kịp thời cắt bỏ và tiêu hủy phần cây bị bệnh để tránh lây lan.

Bệnh chết cây con: Phun Ridomil Gold.

Bệnh thối thân, thán thư: Phun Copper B, Aliette, Antracol, Topsin, Ridomil Gold, Amista 250SC, Mancozep.

Bệnh nứt thân chảy nhựa: Phun Revus Opti 440SC, Score.

Bệnh phấn trắng: Dùng Anvil, Score, Dithand M-45, Anvil, Tilt super, Daconil…

8. Thu hoạch

【#4】Hướng Dẫn Cách Trồng Và Chăm Bón Rau Lang

Cũng như các loại rau thông dụng và phổ biến như rau muống, rau dền, rau mồng tơi,… thì rau lang cũng là loại rau được nhiều người ưa chuộng, rau lang là loại rau bình dân giá rẻ, dễ ăn, có thể ăn được cả thân lá và củ khoai lang, ngoài ra, rau lang còn chứa nhiều tác dụng không ngờ như giúp nhuận tràng, tốt cho hệ tiêu hóa, thanh nhiệt,….

Hướng dẫn cách trồng và chăm bón rau lang

Rau lang cũng rất dễ trồng và có thể trồng quanh năm, mọi người có thể trồng rau lang để ăn lá hoặc lấy củ. Tại bài viết này Hội nuôi trồng sẽ hướng dẫn cho bạn cách trồng rau lang chi tiết và hiệu quả.

Một số điều cần biết trước khi trồng rau lang

Rau lang là loại rau có thể trồng quanh năm và không cần phải chăm sóc nhiều, tuy nhiên thời vụ thích hợp nhất để trồng rau lang là vào vụ mùa xuân hè tháng 2, 3 và hè thu vào tháng 6, 7.

Địa điểm trồng rau lang có thể trồng trực tiếp ở đất ruộng với diện tích lớn, hoặc trồng tại nhà trong các thùng xốp, xô chậu.

Rau lang thích nghi tốt với khí hậu ấm áp, chịu lạnh kém, nhiệt độ thuận lợi nhất để rau lang phát triển tốt và cho năng suất cao là từ 15 – 35°C. Nếu trồng ở thời tiết mưa lạnh, đất trồng ẩm ướt thì rau lang sẽ không cho củ. Vì vậy nếu trồng rau lang muốn lấy củ thì nhiệt độ thuận lợi nhát là khoảng 26 – 30°C.

Làm đất trồng rau lang

Rau lang có thể được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên rau sẽ phát triển tốt nếu trồng ở các loại đất thịt pha cát, đất tơi xốp.

Trước khi trồng khoảng 1 tuần thì bón lót phân chuồng hoặc hỗn hợp phân lân, đạm và kali, sau đó cày xới kỹ và dọn sạch cỏ rác trong đất để trồng rau lang.

Lên luống để trồng rau, việc làm luống phụ thuộc vào loại đất trồng, mục đích trồng rau lang lấy lá hay lấy củ, nếu trồng lấy củ thì cần lên luống cao. Ngoài ra, việc lên luống sẽ giúp đất thoát nước tránh ngập úng. Trung bình có thể vun luống cao khoảng 30 – 40cm và rộng 1 – 1,5m.

Hướng dẫn chi tiết cách trồng rau lang

Trồng rau lang bằng phương pháp giâm cành dây lang

Chuẩn bị cây trồng

Rau lang có thể được trồng bằng phương pháp giâm cành dây lang hoặc từ củ khoai lang. Tuy nhiên, phổ biến và thuận tiện nhất thì chúng ta nên trồng bằng dây lang già. Vì vậy cần chuẩn bị những đoạn thân dây rau lang già nhưng chưa ra rễ và hoa, thẳng đẹp và khỏe mạnh, có từ 5 – 6 mắt thân và 3 – 4 lá ngọn, độ dài khoảng 25 – 30cm.

Nếu muốn trồng rau lang từ củ thì bạn có thể chọn những củ khoai già, không bị sâu bệnh để nơi có độ ẩm, đến khi nào củ mọc mầm thì đem giâm vào đất.

Trồng dây rau lang

Sau khi làm đất lên luống thẳng hàng thì bắt đầu tạo hố giâm cành dây lang vào đất với độ nghiêng khoảng 45°, lấp đất sâu đôn cho chặt gốc. Chú ý để lại 2 – 3 đốt và 3 lá ngọn phía trên mặt đất để cây mọc nhánh.

Trồng khoai lang lấy lá, ngọn thì khoảng cách trồng sẽ dày hơn trồng khoai lang lấy củ. Nếu trồng lấy lá, ngọn thì khoảng cách trồng mỗi dây cách nhau 10 – 15cm. Nếu trồng lấy củ thì khoảng cách xa hơn từ 20 – 30cm.

Sau khi trồng thì tưới nước và có thể độn rơm rạ, phân hữu cơ xanh, phân chuồng giữa luống để giữ ẩm cho đất và tạo độ râm mát cho dây lang hồi sức.

  • Có thể dùng thuốc Diazan 10H rắc vào luống trước khi trồng sẽ diệt mầm bệnh gây hại trong lòng đất.
  • Trồng rau lang vào thời điểm mát mẻ, trước khi trồng thì phải tưới nước cho đất ẩm.
  • Sau khi trồng thì tiến hành tưới nước cho rau lang mỗi ngày 2 lần vào sáng và chiều mát.
  • Nếu trồng trong chậu, thùng xốp thì cần phải mang vào nơi râm mát.

Chăm sóc rau lang

Tưới nước

Rau lang dễ sống và mọc nhanh, chỉ sau 2 – 3 ngày giâm cành thì dây lang sẽ mọc rễ, đặc biệt là vào mùa khô nắng cần tưới nhiều nước cho rau. Còn vào mùa mưa thì nên chú ý làm rãnh thoát nước và che phủ để hạn chế rau bị ngập úng gây hư thối.

Bón phân

Trồng rau lang không cần phải bón phân thường xuyên, chỉ cần bổ sung phân đạm, lân và urê để giúp rau phát triển tốt, cho lá và ngọn xanh tốt và củ lớn.

Sau khi trồng rau lang được 1 tuần thì cần sử dụng phân bón lá HVP 6-6-4 K-Humatphun phun lên lá hoặc tưới gốc để kích thích cây bén rễ và sinh trưởng nhanh.

Sau 20 – 25 ngày cần tiến hành bón thúc cho rau bằng cách pha 50% lượng đạm và 30% lượng kali với nước pha loãng rồi tưới đều trên rau lang vào buổi chiều mát. Việc này giúp hỗ trợ bộ rễ và thân lá được xanh tốt ở giai đoạn đầu. Chú ý vun xới đất và làm sạch cỏ dại ở gốc rau.

Sau trồng 40 – 45 ngày thì tiếp tục bón thúc lần 2 bằng cách pha 20% lượng phân đạm và 50% phân kali, tưới vào gốc rau.

Trồng rau ăn lá, ngọn thì nên sử dụng thuốc phun HVP 1601 phun định kỳ 7 – 10 ngày 1 lần để giúp thân lá rau lang phát triển tốt.

Phòng trị sâu bệnh ở rau khoai lang

Rau lang rất ít bị bệnh hại và hạn chế phun thuốc trừ sâu bệnh. Tuy nhiên có một số loại sâu bệnh có thể gây hại cho rau mà bạn cần chú ý như các loại sâu ăn lá, sâu ăn đọt, sâu sa, sâu khoang, bọ hà,… Biện pháp phòng trị các bệnh hại này là nên lên luống cao, thường xuyên vun xới gốc cho rau, tưới đủ nước. Nếu mật độ bệnh nặng thì có thể dùng một trong các loại thuốc trừ sâu như: Sherpa, Polytrin, Trebon,…

Thu hoạch

Tìm hiểu thêm

Tìm hiểu thêm cách trồng rau lang

cách trồng rau sạch

cách trồng rau tại nhà

cách trồng rau trong thùng xốp

hướng dẫn trồng khoai lang lấy lá

kinh nghiệm chăm sóc rau

【#5】Kỹ Thuật Trồng Dưa Hấu Vụ Thu Đông

Hiện đa số bà con trồng các giống dưa hấu lai F1 nhập từ Mỹ, Thái Lan, Đài Loan… sinh trưởng khoẻ, kháng được một số loại sâu, bệnh nguy hiểm, năng suất, chất lượng cao. Xin giới thiệu một số giống dưa hấu đang được nhiều nông dân ưa chuộng.

Giống Hắc mỹ nhân – 308: Năng suất trung bình 1,2-1,5 tấn/sào, thời gian sinh trưởng 75-85 ngày, quả hình ô van, vỏ mỏng, dai, cứng, dễ vận chuyển, da quả màu xanh sáng có sọc rõ, thịt quả màu đỏ tươi hấp dẫn, ít hạt, ăn rất ngọt. Trọng lượng quả trung bình 3-4kg. Kháng bệnh khá với các bệnh mốc sương, chạy dây.

Giống Thuỷ lôi: Năng suất trung bình 1-1,2 tấn/sào, thời gian sinh trưởng 85-90 ngày. Hình dạng giống quả thuỷ lôi. Da màu xanh nhạt, có sọc rõ. Thịt quả màu đỏ tươi, ăn vị ngọt đậm, vỏ mỏng cứng, ít giập vỡ khi vận chuyển đi xa. Trọng lượng trung bình 3-4 kg/quả.

Giống Huỳnh Châu 548 ruột vàng: Năng suất trung bình 1-1,2 tấn/sào. Thời gian sinh trưởng vụ thu đông 70-75 ngày, dạng quả dài, da màu xanh sáng, có sọc mờ, vỏ mỏng, dai, cứng, ít giập vỡ khi vận chuyển đi xa. Thịt quả màu vàng, ăn ngọt đậm, ít hạt, không chảy nước như các loại dưa hấu ruột đỏ. Trọng lượng trung bình 3-4 kg/quả. Giống có khả năng khángbệnh tốt với bệnh nứt thân và chạy dây.

Thời vụ: Trồng từ 20/8-20/9 trên chất đất hai lúa hoặc đậu tương hè. Lượng giống cần cho 1 sào là 15-20g.

Nên trồng trên đất luân canh lúa nước 2-3 vụ hoặc những cây trồng khác với họ bầu bí. Chọn đất thịt nhẹ, cát pha, chủ động nước. Lên luống cao 30-40cm, rộng 5-5,5m, trồng hai hàng ở giữa luống, cây cách cây 40cm, giữa các cây trên hai hàng đơn của một luống kép nên bố trí so le nhau để tận dụng ánh sáng mặt trời. Mỗi sào Bắc Bộ trồng 360-370 cây.

Lượng phân bón cho 1 sào Bắc Bộ: phân chuồng hoai mục 0,8-1 tấn, supe lân Lâm Thao 20-25kg, đạm urê 8-10kg, kali sunfat 12-15kg. Bón 20-25kg vôi bột trước khi bừa lần cuối nếu đất hơi chua. Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân, một nửa lượng đạm và kali cách gốc dưa 10-15cm.

Ngâm hạt trong nước sạch 5-6giờ, gói trong khăn ủ 25-30giờ đến nứt nanh hoặc ươm cây con trong bầu nylon được hai lá thật thì bứng đem trồng. Nếu dùng màng phủ nông nghiệp che mặt luống trước khi trồng thì hạn chế được cỏ dại và một số đối tượng sâu bênh, tăng năng suất thêm 25-30%. Trước khi phủ bạt nông nghiệp, cần bón lót toàn bộ các loại phân cách gốc 10-15cm, tiến hành phun thuốc trừ cỏ Ronstas hoặc Dual, dùng ống bơ cắt hình răng cưa chụp lỗ theo khoảng cách đã định rồi cấy cây giống hay gieo hạt giống vào đó.

Sau khi trồng 20-25 ngày bón thúc lần 1: 1/4 lượng đạm và kali, bón cách gốc 20cm, kết hợp vun xới và nhặt cỏ. Bón thúc đợt 2 khi quả lớn bằng nắm tay, bón nốt 1/4 đạm và kali còn lại.

Tiến hành thụ phấn bổ sung cho dưa vào 6-9 giờ trong ngày bằng cách chạm đầu nhị của hoa đực mới nở vào bầu nhuỵ của hoa cái vừa hé mở. Nên lấy trái ở vị trí nách lá thứ 9-10 trên thân chính và lá thứ 5-6 trên thân phụ thì quả mới to, đều, đẹp. Cần tưới ẩm cho dưa, nhất là ở giai đoạn quả đang lớn.

Diệt sâu xám hại cây con: dùng thuốc Basudin hạt mỗi hốc rắc 4-5 hạt xung quanh (0,5kg thuốc/sào). Rầy rệp – dùng thuốc Trebon, Actara. Sâu đục quả, sâu xanh sâu khoang hại lá – dùng thuốc Regent, Karate, Sherpa. Bệnh chạy day, sẹo quả, phấn trắng, mốc sương – dùng thuốc Carbezin, Canvill, Ricide, Tilt-super phun kết hợp hay luân phiên định kỳ 10-15 ngày/lần.

Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 34 (520), 21/8/2006, tr 14

【#6】Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Bưởi Hoàng

Hướng dẫn kỹ thuật trồng bưởi Hoàng

Bưởi Hoàng là loại bưởi được trồng tại Thôn Hoàng Trạch xã Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên. Giống Bưởi Hoàng là giống bưởi ngọt, không the, được thu hoạch vào tháng 10 – 11, cây giống sau 18 tháng có thể thu hoạch.

I. GIỚI THIỆU CHUNG

Bưởi Hoàng là loại bưởi được trồng tại Thôn Hoàng Trạch xã Mễ Sở, Văn Giang Hưng Yên. Là giống bưởi ngọt có từ lâu đời rồi mà chỉ có làng Hoàng trồng mới ra trái ngon và ngọt nhất. Quả bưởi rất to (gấp 3 quả bưởi Diễn), vỏ mỏng, múi to mọng, ăn ngọt dịu đậm đà, nhiều nước. Rất thích hợp trong những bữa tráng miệng gia đình hoặc làm quà biếu.Giống Bưởi Hoàng là giống bưởi ngọt, không the, được thu hoạch vào tháng 10 – 11, cây giống sau 18 tháng có thể thu hoạch.

Cây Bưởi Hoàng đang là một trong những hướng phát triển cây ăn quả lớn tại các tỉnh miền Bắc như Bắc Giang, Phú Thọ, …Và đặc biệt có thể RẢI VỤ thu hoạch bưởi trên vườn. Nhằm phát triển kinh tế trang trại, nâng cao thu nhập cho người nông dân.

II. KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Chọn giống:

– Cành chiết: Đối với cành chiết tốt nhất nên có độ tuổi từ 16 – 18 tháng tuổi, đường kính của cành 1,5 – 2,0 cm, các cành không bị sâu bệnh. Không nên chọn những cành dưới gốc, cành vượt và trên ngọn để chiết làm giống.

– Cây ghép: Mắt ghép phải được lấy đúng giống cây cần chọn, chồi ghép sinh trưởng khoẻ với chiều cao chồi (tính từ điểm ghép trở lên) là 30 – 40cm.

2. Thời vụ trồng bưởi hoàng:

– Vụ Xuân: bắt đầu trồng từ tháng 2 đến tháng 4

– Vụ Thu đông: bắt đầu trồng từ tháng 8 đến tháng 10

Do vụ xuân có điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi cho cây trồng phát triển nên vụ Xuân là thời vụ trồng cây bưởi hoàng tốt nhất.

3. Chọn và làm đất:

– Cây bưởi hoàng thích hợp với các loại đất phù sa được bồi đắp hàng năm, đất phải thoát nước tốt, có tầng canh tác dày trên 1m, mực nước ngầm dưới 1,5m, hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất khá (hàm lượng mùn từ 1,5 – 2% trở lên), có đủ nguồn nước để tưới tiêu vào mùa khô hạn.

– Trước khi trồng khoảng 2 tháng phải tiến hành làm đất, cày bừa thật kỹ, làm sạch cỏ, gốc rễ cây (nếu đất khai hoang) và xử lý đất bằng vôi bột (500 kg/ha), Benlate (20 kg/ha), Basudin, Vibasu 10H (15 – 20 kg/ha).

4. Đào hố:

* Kích thước hố: Đối với vùng đất bằng 60cm x 60cm x 60cm, vùng đất đồi 80cm x 80cm x 80cm.

* Đào hố: Chú ý khi đào hố phải lấy lớp đất mặt đổ sang một bên và lớp đất phía dưới đổ sang bên khác.

5. Cách trồng bưởi hoàng:

– Cây giống là cành chiết: Đào 1 lỗ khoảng 30 x 30 cm xé bao nilong ngoài vỏ bầu rồi đặt nhẹ vào chính giữa tâm hố, gạt đất rồi nén chặt, tránh làm vỡ bầu đất. Dùng cọc và dây mềm cố định thân cây lại. Khi đặt cây cần chú ý tư thế của cây sao cho cây sau này tán phát triển thuận lợi, thân chính không bị nghiêng ngả. Trồng cây xong tưới nước đủ ẩm, ủ rơm rác xung quanh gốc cây đr giữu ẩm cho cây(tủ cách gốc 10 cm).

– Cây giống là cây ghép: Đặt cây để tư thế của cây sao cho cành ghép quay về hướng dưới gió để tránh gió to làm tách gãy cành ghép.

6. Chăm sóc, bón phân:

a, Bón phân

Đối với cây bưởi hoàng mới trồng, bón lót là 10kg phân chuồng, 0,5kg phân lân và 0,2kg vôi.

– Cây bưởi hoàng từ 1 – 3 năm tuổi, bón 1 – 3kg NPK, từ 0,5 – 1kg super lân.

– Cây bưởi hoàng từ 4 -6 năm tuổi, nên bón 4 -7kg NPK, từ 0,5 – 1kg super lân.

– Cây bưởi hoàng từ 7 -9 năm tuổi, bón 8 -15kg NPK và 0,5 – 1kg super lân.

b/ Làm cỏ:

Nên kết hợp các đợt bón phân để làm cỏ và vệ sinh vườn, cắt tỉa tạo tán, tạo hình cho tán cây để cây phát triển cân đối.

c/ Tưới tiêu:

– Chú ý tưới đủ ẩm cho cây vào những ngày nắng hạn, vì cây còn nhỏ, bộ rễ chưa ăn sâu, chống chịu kém.

– Cần có hệ thống tiêu thoát nước cho vườn cây vào mùa mưa.

7. Phòng trừ sâu bệnh cho Cây Bưởi Hoàng

* Sâu hại Bưởi

Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citriella):

– Đặc điểm gây hại:

Phá hoại ở thời kỳ vườn ươm và cây nhỏ 3 – 4 năm đầu mới trồng. Trên cây tập trung phá hoại thời kỳ lộc non, nhất là lộc xuân. Trưởng thành đẻ trứng vào búp lá non, sâu non nở ra ăn lớp biều bì lá, tạo thành đường ngoằn ngèo, có phủ sáp trắng, lá xoăn lại, cuối đường cong vẽ trên mặt lá có sâu non bằng đầu kim. Sâu phá hoại mạnh ở tất cả các tháng trong năm (mạnh nhất từ tháng 2 đến tháng 10).

– Phòng trừ: Phun thuốc diệt sâu 1 – 2 lần cho mỗi đợt lộc non bằng: Decis 2,5EC 0,1 – 0,15%; Trebon 0,1 – 0,15%; Polytrin 50EC 0,1 – 0,2%.

Sâu đục thân (Chelidonium argentatum), đục cành (Nadezhdiella cantori):

– Đặc điểm gây hại:

Con trưởng thành đẻ trứng vào các kẽ nứt trên thân, cành chính. Sâu non nở ra đục vào phần gỗ tạo ra các lỗ đục, trên vết đục xuất hiện lớp phân mùn cưa đùn ra.

– Phòng trừ:

+ Bắt diệt trưởng thành (Xén tóc)

+ Phát hiện sớm vết đục, dùng dây thép nhỏ luồn vào lỗ đục để bắt sâu non

+ Sau thu hoạch (tháng 11 – 12) quét vôi vào gốc cây để diệt trứng

+ Phun các loại thuốc xông hơi như Ofatox 400 EC 0,1%; Supracide 40ND 0,2% sau sau đó dùng đất dẻo bít miệng lỗ lại để diệt sâu.

Nhện hại:

– Đặc điểm gây hại:

+ Nhện đỏ (Panonychus citri): Phát sinh quanh năm hại lá là chính, chủ yếu vào vụ đông xuân. Nhện đỏ rất nhỏ, màu đỏ thường tụ tập thành những đám nhỏ ở dưới mặt lá, hút dịch lá làm cho lá bị héo đi. Trên lá nơi nhện tụ tập thường nhìn trên mặt lá thấy những vùng tròn lá bị bạc hơn so với chỗ lá không có nhện và hơi phồng lên nhăn nheo.

+ Nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus): Phát sinh chủ yếu ở trong những thời kỳ khô hạn kéo dài và ít ánh sáng (trời âm u hoặc cây bị che bóng bởi các cây khác). Nhện trắng là nguyên nhân chủ yếu gây ra rám quả, các vết màu vàng sáng ở dưới mặt lá.

– Phòng trừ: Để chống nhện (nhện đỏ và nhện trắng) dùng thuốc Comite, Ortus 50EC, Pegasus 250 pha nồng độ 0,1 – 0,2% phun ướt cả mặt dưới lá và phun lúc cây đang ra lộc non để phòng. Nếu đã bị nhện phá hại phải phun kép 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày bằng những thuốc trên hoặc phố trộn 2 loại với nhau hoặc với dầu khoáng trừ sâu.

Rệp hại: Chủ yếu hại trên các lá non, cành non, lá bị xoắn rộp lên, rệp tiết nước nhờn khiến lá bị muội đen.

– Đặc điểm gây hại:

+ Rệp cam: Chủ yếu gây hại trên các cành non, lá non. Lá bị xoăn, rộp lên. Rệp tiết ra chất nhờn (gọi là sương mật) hấp dẫn kiến và nấm muội đen.

+ Rệp sáp (Planococcus citri): Trên mình phủ 1 lớp bông hoặc sáp màu trắng, hình gậy, hình vảy ốc, có thể màu hồng hoặc màu xám nâu. Những vườn cam hoặc cây cam ở gần ruộng mía thường hay bị từ mía lan sang.

– Phòng trừ: Dùng Sherpa 25EC hoặc Trebon pha với nồng độ 0,1 – 0,2% phun 1 – 2 lần ở thời kì lá non. Khi xuất hiện rệp, muốn trị có hiệu quả cần pha thêm vào thuốc 1 ít xà phòng để có tác dụng phá lớp sáp phủ trên người rệp làm cho thuốc dễ thấm.

* Bệnh hại bưởi

Bệnh loét (Xanthomonas campestris)

Đặc điểm gây hại: Bệnh gây hại ở thời kì vườn ươm và cây mới trồng 1 – 3 năm, ở thời kỳ cây cho thu hoạch bệnh gây hại cả trên lá bánh tẻ, cành, quả non. Trên lá thấy xuất hiện các vết bệnh không định hình, mới mầu xanh vàng, sau chuyển thành màu nâu xung quanh có quầng vàng. Gặp điều kiện ẩm ướt gây thối rụng lá, gặp điều kiện khô gây khô giòn vết bệnh làm giảm quang hợp. Gây hại nặng trong điều kiện nóng, ẩm (vụ xuân hè).

Bệnh sẹo (Ensinoe fawcetti Bit. et Jenk)

Triệu chứng gây hại: Vết bệnh thường có mầu nâu nhạt nhô lên khỏi bề mặt lá. Có thể lốm đốm hoặc dày đặc trên mặt lá, hình tròn, bề mặt vết bệnh sần sùi, gồ ghề. Nếu bệnh xuất hiện trên cành sẽ nhìn thấy các đám sần sùi giống như ghẻ lở, màu vàng hoặc nâu. Cành bị nhiều vết bệnh sẽ khô và chết. Bệnh đặc biệt gây hại nặng trong điều kiện nống và ẩm (vụ xuân hè).

– Phòng trừ:

+ Cắt bỏ lá bệnh, thu gom đem tiêu huỷ

+ Phun thuốc: Boocđo 1 – 2% hoặc thuốc Kasuran 0,2%.

– Cách pha thuốc boocđô (pha cho 1bình 10 lít):

+ Dùng 0,1 kg Sunfat đồng + 0,2 kg vôi đã tôi (nồng độ 1/100), nếu nồng độ 2% thì lượng sunfat đồng và vôi tăng gấp đôi.

+ Lấy 7 lít nước pha với đồng sunfat, 3 lít còn lại pha với vôi, lọc bỏ cặn bã, sau đó lấy dung dịch đồng loãng đổ vào nước vôi đặc vừa đổ vừa quấy cho tan đều sẽ được dung dịch boocđô.

Bệnh chảy gôm (Phytophthora citriphora):

– Đặc điểm gây hại:

Bệnh thường phát sinh ở phần sát gốc cây cách mặt đất khoảng 20 – 30 cm trở xuống cổ rễ và rễ.

Giai đoạn đầu bệnh mới phát sinh thường vỏ cây bị những vết nứt và chảy nhựa (gôm). Bóc lớp vỏ ra, ở phần gỗ bị hại có màu xám và nhìn thấy những mạch sợi đen hoặc nâu chạy dọc theo thớ gỗ.

Bệnh nặng lớp vỏ bị hại thối rữa (giống như bị dội nước sôi) và tuột khỏi thân cây, phần gỗ bên trong có màu đen xám. Nếu tất cả xung quanh phần cổ rễ bị hại, cây có thể bị chết ngay, còn bị một phần thì cây bị vàng úa, sinh trưởng kém, bới sâu xuống đất có thể thấy nhiều rẽ cũng bị thối.

– Phòng trừ:

Đẽo sạch lớp vỏ và phần gỗ bị bệnh, dùng Boocđô 2% phun trên cây và quét trực tiếp vào chỗ bị hại, nếu bệnh đã lan xuống rễ phải đào chặt bỏ những rễ bị bệnh rồi xử lý bằng boocđô.

Có thể dùng các loại thuốc khác như Aliette 80NP, Benlat C nồng độ 0,2 – 0,3% để phun và xử lý vết bệnh.

Bệnh Greening:

– Đặc điểm gây hại: Cây có múi nói chung và bưởi nói riêng có thể nhiễm bệnh Greening vào bất kỳ giai đoạn nào từ thời kỳ vườn ươm tới khi cây 10 năm tuổi. Tuy nhiên, bưởi ít nhiễm bệnh Greening hơn các giống cam quýt khác. Triệu chứng cho thấy: trước khi những lá non trở thành mầu xanh thì trở nên vàng, cứng lại và mất mầu. Mô giữa các gân lá chuyển xanh vàng hoặc hơi vàng và có đường vân. Đầu tiên các đọt và lá non bị bệnh sâu đó có thể biểu hiện trên cả tán. Cùng thời gian đó lá xanh và lá già chuyển xang mầu vàng từ sống lá và gân lá. Các lá bị nhiễm bệnh có thể bị rụng sớm, trong một vài tháng hoặc và năm tất cả các cành cây bị khô đi và tàn lụi.

– Phòng trừ:

+ Sử dụng cây giống sạch bệnh

+ Trồng sen ổi để xua đuổi rày chổng cánh.

+ Phun thuốc phòng trừ môi giới truyền bệnh (Rầy chổng cánh)

+ Cắt bỏ tất cả các cành bị bệnh đem đốt

+ Bón phân cân đối tăng sức đề kháng và chống chịu của cây

* Các bệnh do virus và viroid:Trên bưởi còn 2 loại bệnh khá nguy hiểm gây hại: bệnh vàng lá (do virus Tristeza gây hạ) và bệnh Exocortis (do viroids gây hại). Các bệnh này không chữa trị được bằng các loại thuốc hoá học như trên mà phải phòng trị bằng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp, bắt đầu từ khâu nhân giống sạch bệnh tới các kỹ thuật canh tác, vệ sinh đồng ruộng, diệt trừ môi giới truyền bệnh vv…

Chúc bà con thành công

【#7】Môi Trường Trồng Địa Lan Tốt Là Như Thế Nào?

Tìm hiểu môi trường trồng địa lan tốt

Sinh trưởng phát triển của địa lan phụ thuộc nhiều vào môi trường trồng địa lan. Bởi vậy muốn trồng địa lan phát triển tốt ta cần biết cách trồng, nắm chắc đặc điểm sinh trưởng của cây, môi trường sinh thái nào phù hợp với yêu cầu của lan, sau đó căn cứ vào đặc tính sinh trưởng, giai đoạn sinh trưởng phát triển mà lựa chọn cho lan môi trường sinh thái tự nhiên tốt nhất hoặc môi trường nhân tạo.

Thế nào là môi trường trồng địa lan phát triển tốt?

Địa lan thuộc cây thảo mộc lâu năm, cũng giống như các cây bụi có hạt khác, gồm có 6 phần: Rễ, thân, lá, hoa, quả và hạt

– Rễ

Rễ của địa lan rất phát triển, rễ nhiều hình trụ, mềm, to và mập. Phần lớn có màu tro nhạt. Rễ chính và rễ phụ đều có chóp rễ, đôi lúc có phân nhánh, cấu trúc bên trong điển hình của thực vật đơn tử diệp, biểu bì tương đối phát triển ký sinh ở thân cây hoặc cành, cũng đôi khi rễ chọc xuống, hình thành rễ khí. Rễ của địa lan không những có chức năng hút nước và dinh dưỡng mà còn có thể dự trữ nước và dinh dưỡng. Bộ phận biểu bì tiếp xúc với ánh sáng chuyển thành màu xanh để tiến hành quang hợp. Trong biểu bì và vùng rễ thông thường có khuẩn rễ cộng sinh. Hai bên cùng hút nước và dinh dưỡng trong tự nhiên để trao đổi và cùng tồn tại. Các sợi thực khuẩn thể sau khi thâm nhập vào bên trong rễ của lan sẽ dần dần bị phân giải để thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho cây lan sinh trưởng, phát triển.

Những cái rễ non của địa lan (ảnh: orchidboard.com)

– Thân

Thân của địa lan phình to, ngắn đa số hình trứng tròn, hình bầu dục, hình bán bầu dục, dạng trứng hoặc hình gậy và có tên gọi là giả hành, đây là bộ phận dự trữ nước của thân. Bình thường giả hành được phiến lá hoặc bẹ bao bọc cho đến khi già phiến lá rụng thì mới lộ ra. Thân hành thông thường chồng lên nhau, chỗ tiếp giáp chỉ có một đoạn thân ngầm rất ngắn, cũng có loài giả hành không rõ.

Giả hành của một loại địa lan (ảnh: chúng tôi

– Lá

Lá của địa lan phần nhiều có 6 – 8 lá chồng lên nhau (ảnh: chúng tôi

– Hoa

Toàn bộ địa lan là hoa bướm, thường có 10 đóa hoa bám vào cành, cành hoa dài 30 -100 cm, thẳng hoặc dài theo trạng thái tự nhiên, thông thường loại hoa địa lan to có đường kính khoảng 10 cm, loại hoa địa lan vừa 7-8 cm, loại nhỏ 3-4 cm. Kết cấu đóa hoa địa lan đơn giản, có 7 bộ phận cấu thành, tức là 3 đài hoa, 3 cánh hoa và 1 nhị cái, nhụy đài giống như cánh hoa. Trong 3 cánh hoa, mép của cánh hoa địa lan có hình thù khá đặc biệt, nhìn bên ngoài hết sức hấp dẫn, phía trên có rất nhiều u lớn, hơn nữa vị trí cũng thay đổi, lẽ ra mép hoa phải ở phần trên cánh hoa, nhưng cuống hoa tử phòng xoay chuyển quá phức tạp làm cho đóa hoa chuyển 180° làm cho mép của cánh hoa biến thành một cánh hoa. Còn nhị đực và nhị cái kết hợp với nhau hình thành vòi nhụy, đó là cơ quan sinh sản của địa lan, cũng là cấu tạo đặc biệt của họ lan. Bộ phận lõm xuống của đầu vòi nhụy có chất kết dính hoặc lồi lên, tức là khu vực đầu vòi nhụy, rất nhiều giống chỉ có một nhị đực có chứa phấn hoa, bên ngoài của phấn hoa có màng chùm lên, số lượng túi phấn tùy thuộc vào giống, thường 2 – 4 túi.

Địa lan thường có 10 đóa hoa bám vào cành, cành hoa dài 30 -100cm.

Đóa hoa địa lan là trung tâm ngưỡng mộ của mọi người, bởi vậy giống tốt hay xấu được quyết định bởi đóa hoa to hay nhỏ, hình dáng, màu sắc, chất lượng và thời kỳ ra hoa dài ngắn… Thông thường yêu cầu cánh hoa, đài hoa đều phải to, tốt nhất là phần giữa của 2 cánh hoa xếp chồng lên nhau, mép cánh hoa sau khi nở có hình ô van kẽ hở giữa 2 cánh hoa càng nhỏ càng tốt. Thường thường về màu sắc cánh hoa và đài hoa địa lan có màu sắc giống nhau nhưng mép hoa lại có màu khác và tốt nhất là màu sáng đẹp; nếu có vân hoặc vết thì hoa càng có giá trị Chất lượng và độ dày của cánh hoa thì tốt nhất là loại cánh nhẵn, dày và vân nhỏ. Loại cánh hoa địa lan dày chắc ít rụng, dùng được lâu dễ vận chuyển, thời gian ra hoa dài.

Những giống có hoa địa lan đẹp là những giống mà hoa xếp ngay ngắn, khoảng cách vừa phải, hình dáng đẹp.

– Quả và hạt địa lan

Quả của địa lan thuộc loại quả sóc, hình dáng to nhỏ tùy thuộc vào giống bố mẹ. Thông thường có hình trắng dài, dài từ 10 – 20 cm. Tử phòng ở phía dưới nối liền với cánh hoa, khó tách, một ngăn tử phòng. Mỗi quả có 3 cánh, 2 cánh tiếp giáp nhau phân hóa thành màng, vách ngăn thai, gồm 3 mảnh. Mỗi một khoang đầu thai tử phòng chọc thẳng lên đỉnh tạo thành bó nhô lên vách tử phòng, Vách tử phòng bao lấy khoang đầu thai, mỗi khoang đầu thai có nhiều phôi trụ, được thụ phấn bằng côn trùng nhân tạo các phôi trụ phát dục thành hạt. Thời gian từ thụ tinh đến hạt thành thục khoảng 6-10 tháng thậm chí dài hơn. Khi quả chín thì nứt dọc, hạt tung ra ngoài.

Quả của địa lan thuộc loại quả sóc, hình dáng to nhỏ tùy thuộc vào giống bố mẹ. (ảnh: botanyboy.org)

Hạt của địa lan rất nhỏ khoảng 0,5mm, rất nhẹ, nhưng rất nhiều. Phần lớn hạt địa lan có hình trứng tròn, giữa có một phôi nhỏ, ngoài có lớp tế bào mỏng trong suốt và có vân tròn làm tăng độ dày, trong vỏ hạt có nhiều không khí, cản trở hút nước, dễ phát tán theo nước và gió. Thông thường phôi phát dục không hoàn hảo, không có phôi nhũ, mà chỉ có tế bào phôi chưa phân hóa hình trứng tròn rất khó nảy mầm.

Hạt của địa lan rất nhỏ khoảng 0,5mm, rất nhẹ, nhưng rất nhiều. ảnh: hạt của Cym. iridioides (Lan Kiếm Hồng Hoàng)

Môi trường nào là tốt nhất cho địa lan?

Nguyên sản của giống địa lan ở phía Đông núi Hymalaya, Nam đến Trung Nam bán đảo Ấn Độ Dương, có độ cao so với mặt biển từ 1.000 – 3.000 m. Mùa đông khô lạnh nhưng không có sương muối, mùa hè ấm nhưng không oi bức, hình thành đặc tính ưa khí hậu ấm, mát mẻ, ẩm ướt, không khí trong lành. Địa Lan mùa đông thường sợ gió hanh lạnh, mùa hè sợ oi bức. Các con lai ở thế hệ sau vẫn mang đặc tính đó của bố mẹ, hình thành đặc tính sinh lý khác với quần thể lan châu Âu. Vậy môi trường nào là tốt nhất cho địa lan từ án sáng đến ẩm độ, nhiệt độ…

– Ánh sáng cho địa lan

Ánh sáng là tác nhân chủ yếu để địa lan tiến hành quang hợp. Không có ánh sáng, diệp lục của hoa lan không thể tiến hành quang hợp, tức là không có dinh dưỡng cần thiết để cung cấp cho địa lan, nhu cầu của hoa lan đối với ánh sáng tuỳ thuộc vào loại hoa lan, kể cả cùng một loại giống địa lan nhưng nhu cầu đối với ánh sáng ở mỗi giai đoạn cũng khác nhau. Nhìn chung địa lan cần lượng ánh sáng từ 15.000 – 70.000 lux. Khi lượng ánh sáng thoả mãn, địa lan sinh trưởng phát triển rất khoẻ, thân vươn dài lá ngắn rộng, thịt lá dày, màu lá xanh nhạt hoặc xanh vàng, thân giả chắc mập, nhiều hoa, tỷ lệ nở cao, màu hoa sặc sỡ, Nếu như độ chiếu sáng quá lớn (lớn hơn 70.000 lux) sẽ ức chế quang hợp nhất là mùa hè thu, thời tiết khá ấm, ẩm độ tương đối thấp, ánh sáng trực xạ mạnh sẽ làm tổn thương lá, Bởi vậy mùa hè và hè thu nên che nắng cho địa lan, giảm bớt lượng ánh sáng và tăng độ ẩm không khí, tránh làm tổn thương đến địa lan. Trái lại khi thiếu ánh sáng (<10.000 lux) quang hợp của địa lan sẽ giảm, không đủ dinh dưỡng thường dẫn đến mọc vống, lá nhỏ dài màu xanh sẫm, thịt lá mềm mỏng, lá chúc xuống, ra hoa ít, đoá hoa nhỏ, màu hoa kém sặc sỡ. Bởi vậy trong điều kiện thiếu ánh sáng đặc biệt là mùa Đông, Xuân cần phải bỏ ngay vật liệu che nắng để địa lan có nhiều ánh sáng mặt trời. Nếu như thời tiết âm u kéo dài khi cần biện pháp chiếu ánh sáng nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh trưởng phát triển của cây lan.

– Nhiệt độ cho địa lan

Tính thích ứng của địa lan đối với nhiệt độ là tương đối rộng, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng là 10 – 25°c, thông thường nhiệt độ bình quân khoảng 15°c là địa lan có thể ra mầm lá, 20 – 30°c cây sinh trưởng tương đôi nhanh, dưới 5°c và trên 30°c cây ở trạng thái ngủ nghỉ. Nếu nhiệt độ dưới 0°c trong thời gian ngắn chỉ có cây con bị chết rét đối với cây con đã lớn và cây trưởng thành ảnh hưởng khônglớn. Khi nhiệt độ cao hơn 30°c, mặc dù ảnh hưởng không rõ đến địa lan, nhưng hay sinh ra hiện tượng hình thành hoa từ sớm, mầm hoa thui chột. Trong thời gian cây sinh trưởng phát triển, điều kiện nhiệt độ nhiệt độ ban ngày 22 – 28°c không thấp hơn 18°c và không cao hơn 30°c, ban đêm là 18-22°C, tốt nhất không thấp dưới 15°c hoặc cao hơn 30°c. Trong thời gian phân hóa mầm hoa, nhiệt độ ban ngày là 18-22°c, tốt nhất là không dưới 15°c hoặc cao hơn 30°c ban đêm là 12-18°c tốt nhất không dưới 10°c hoặc cao hơn 18°c. Khi hoa nở nhiệt độ ban ngày 20-25°C tốt nhất không dưới 18°c hoặc cao hơn 28 c, nhiệt độ ban đêm 15 – 20°c tốt nhất không cao hơn 21 °c cũng không dưới 10 c.

– Ẩm độ cho địa lan

Đa số giống địa lan có nguồn gốc từ các đồi của núi Hymalaya thích hợp với môi trường sinh thái nhiều mưa. Vì vậy, phải thường xuyên tưới nước cho địa lan, giữ ẩm cho giá thể và phun nước thường xuyên, duy trì nhiệt độ không khí ở mức độ khá cao. Nếu giá thể quá khô rễ không thể hút được nước, trong khi cây lan không ngừng bốc hơi nước làm cho cây lan bị héo rũ; giá thể quá ẩm, chậu lan đọng nước, rễ thiếu không khí, cây thiếu Oxy dẫn đến ngạt thở. Nhưng nếu chỉ đảm bảo độ ẩm cho giá thể vẫn chưa đủ mà còn phải tìm mọi biện pháp để duy trì độ ẩm không khí, bởi vì độ ẩm không khí quá thấp, địa lan sinh trưởng kém, thường là rễ sinh trưởng yếu, nhỏ bé, lá hơi vàng. Bởi vậy tưới nước cho địa lan phải căn cứ vào chậu to hay chậu nhỏ, giá thể nhiều hay ít, độ to nhỏ của giá thể và khả năng giữ nước, điều kiện ánh sáng nhiệt độ của mùa sinh trưởng và nhu cầu sinh trưởng và phát triển của địa lan ở giai đoạn khác nhau mà cấp nước kịp thời, đầy đủ. Định kỳ tưới nước duy trì giá thể ẩm ướt, thường xuyên phun nước tăng cường độ ẩm không khí- Thông thường trong thời gian sinh trưởng địa lan cần nước đầy đủ và duy trì độ ẩm không khí khá cao, tốt nhất là từ 70-80%, tối thấp không thể thấp hơn 60%, tối cao không thể quá 95%. Thời gian hoa nở cần lượng nước vừa phải, nhiều nước quá sẽ dẫn đến trao đổi chất tăng, phát sinh nấm bệnh… làm cho thời gian hoa nở rút ngắn làm giảm giá trị cành hoa, cung cấp nước ít không thể thỏa mãn hoa nở, dễ dẫn đến rụng nụ, rụng hoa, đồng thời sẽ làm cho thời gian ra hoa ngắn lại. Độ ẩm không khí tốt nhất là 60-70%, tối cao không quá 80%, tối thấp không quá 50%.

– Thông gió cho địa lan

Nguyên chủng địa lan thuộc loại lan phụ sinh, bán khí dễ ưa môi trường thoáng gió, môi trường thoáng gió dễ dẫn đến tình trạng thiếu CO2, ảnh hưởng đến quang hợp và dễ phát sinh bệnh. Bởi vậy chọn môi trường trồng địa lan lý tưởng ngoài việc chú ý đến ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm còn phải chú ý đến thông gió, thoáng khí, giữ cho không khí trong lành, Trong cả quá trình sinh trưởng và phát triển của địa lan cần có gió (thông thường khí thấy đuôi lá lan bị gió lay là được) để cuốn đi hơi nước thoát ra từ lá và khí bị ô nhiễm, thúc đẩy sự tuần hoàn nước được đẩy từ rễ và bốc hơi qua lá, khiến cho cây sinh trưởng nhanh. Đặc biệt cũng cần chú ý tới độ đối lưu của không khí theo mùa sinh trưởng và trạng thái sinh trưởng và phát triển của địa lan, tránh sự đối lưu không khí quá nhanh làm tổn thương đến lá lan. Những nơi mùa đông giá lạnh cần chú ý sự xâm nhập của không khí lạnh, thường thường chỉ nên thay đổi không khí trong vườn hoa vào buổi trưa, khi trời râm sẽ đáp ứng sinh trưởng phát triển bình thường của địa lan.

Cần phải chỉ ra rằng tác dụng của 4 yếu tố môi trường là ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và thông gió luôn có sự hỗ trợ lẫn nhau, cùng thúc đẩy, cùng ức chế. Bởi vậy mấu chốt để nuôi tốt địa lan cần phải căn cứ vào các giai đoạn phát triển, điều tiết một cách linh hoạt các yếu tố nhằm bổ sung những mặt thiếu của môi trường nuôi dưỡng tạo ra môi trường sinh thái tốt nhất cho địa lan sinh trưởng phát triển bình thường.

【#8】Môi Trường Nào Là Tốt Nhất Cho Địa Lan. Tại Sao?

– Rễ

Rễ của địa lan rất phát triển, rễ nhiều hình trụ, mềm, to và mập. Phần lớn có màu tro nhạt. Rễ chính và rễ phụ đều có chóp rễ, đôi lúc có phân nhánh, cấu trúc bên trong điển hình của thực vật đơn tử diệp, biểu bì tương đối phát triển ký sinh ở thân cây hoặc cành, cũng đôi khi rễ chọc xuống, hình thành rễ khí. Rễ của địa lan không những có chức năng hút nước và dinh dưỡng mà còn có thể dự trữ nước và dinh dưỡng. Bộ phận biểu bì tiếp xúc với ánh sáng chuyển thành màu xanh để tiến hành quang hợp. Trong biểu bì và vùng rễ thông thường có khuẩn rễ cộng sinh. Hai bên cùng hút nước và dinh dưỡng trong tự nhiên để trao đổi và cùng tồn tại. Các sợi thực khuẩn thể sau khi thâm nhập vào bên trong rễ của lan sẽ dần dần bị phân giải để thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng cho cây lan sinh trưởng, phát triển.

Những cái rễ non của địa lan (ảnh: orchidboard.com)

– Thân

Thân của địa lan phình to, ngắn đa số hình trứng tròn, hình bầu dục, hình bán bầu dục, dạng trứng hoặc hình gậy và có tên gọi là giả hành, đây là bộ phận dự trữ nước của thân. Bình thường giả hành được phiến lá hoặc bẹ bao bọc cho đến khi già phiến lá rụng thì mới lộ ra. Thân hành thông thường chồng lên nhau, chỗ tiếp giáp chỉ có một đoạn thân ngầm rất ngắn, cũng có loài giả hành không rõ.

Giả hành của một loại địa lan (ảnh: chúng tôi

– Lá

Lá của địa lan phần nhiều có 6 – 8 lá chồng lên nhau (ảnh: chúng tôi

– Hoa

Toàn bộ địa lan là hoa bướm, thường có 10 đóa hoa bám vào cành, cành hoa dài 30 -100 cm, thẳng hoặc dài theo trạng thái tự nhiên, thông thường loại hoa địa lan to có đường kính khoảng 10 cm, loại hoa địa lan vừa 7-8 cm, loại nhỏ 3-4 cm. Kết cấu đóa hoa địa lan đơn giản, có 7 bộ phận cấu thành, tức là 3 đài hoa, 3 cánh hoa và 1 nhị cái, nhụy đài giống như cánh hoa. Trong 3 cánh hoa, mép của cánh hoa địa lan có hình thù khá đặc biệt, nhìn bên ngoài hết sức hấp dẫn, phía trên có rất nhiều u lớn, hơn nữa vị trí cũng thay đổi, lẽ ra mép hoa phải ở phần trên cánh hoa, nhưng cuống hoa tử phòng xoay chuyển quá phức tạp làm cho đóa hoa chuyển 180° làm cho mép của cánh hoa biến thành một cánh hoa. Còn nhị đực và nhị cái kết hợp với nhau hình thành vòi nhụy, đó là cơ quan sinh sản của địa lan, cũng là cấu tạo đặc biệt của họ lan. Bộ phận lõm xuống của đầu vòi nhụy có chất kết dính hoặc lồi lên, tức là khu vực đầu vòi nhụy, rất nhiều giống chỉ có một nhị đực có chứa phấn hoa, bên ngoài của phấn hoa có màng chùm lên, số lượng túi phấn tùy thuộc vào giống, thường 2 – 4 túi.

Địa lan thường có 10 đóa hoa bám vào cành, cành hoa dài 30 -100cm. Kết cấu hoa địa lan đơn giản, có 7 bộ phận cấu thành.

Đóa hoa địa lan là trung tâm ngưỡng mộ của mọi người, bởi vậy giống tốt hay xấu được quyết định bởi đóa hoa to hay nhỏ, hình dáng, màu sắc, chất lượng và thời kỳ ra hoa dài ngắn… Thông thường yêu cầu cánh hoa, đài hoa đều phải to, tốt nhất là phần giữa của 2 cánh hoa xếp chồng lên nhau, mép cánh hoa sau khi nở có hình ô van kẽ hở giữa 2 cánh hoa càng nhỏ càng tốt. Thường thường về màu sắc cánh hoa và đài hoa địa lan có màu sắc giống nhau nhưng mép hoa lại có màu khác và tốt nhất là màu sáng đẹp; nếu có vân hoặc vết thì hoa càng có giá trị Chất lượng và độ dày của cánh hoa thì tốt nhất là loại cánh nhẵn, dày và vân nhỏ. Loại cánh hoa địa lan dày chắc ít rụng, dùng được lâu dễ vận chuyển, thời gian ra hoa dài.

Những giống có hoa địa lan đẹp là những giống mà hoa xếp ngay ngắn, khoảng cách vừa phải, hình dáng đẹp.

– Quả và hạt địa lan

Quả của địa lan thuộc loại quả sóc, hình dáng to nhỏ tùy thuộc vào giống bố mẹ. Thông thường có hình trắng dài, dài từ 10 – 20 cm. Tử phòng ở phía dưới nối liền với cánh hoa, khó tách, một ngăn tử phòng. Mỗi quả có 3 cánh, 2 cánh tiếp giáp nhau phân hóa thành màng, vách ngăn thai, gồm 3 mảnh. Mỗi một khoang đầu thai tử phòng chọc thẳng lên đỉnh tạo thành bó nhô lên vách tử phòng, Vách tử phòng bao lấy khoang đầu thai, mỗi khoang đầu thai có nhiều phôi trụ, được thụ phấn bằng côn trùng nhân tạo các phôi trụ phát dục thành hạt. Thời gian từ thụ tinh đến hạt thành thục khoảng 6-10 tháng thậm chí dài hơn. Khi quả chín thì nứt dọc, hạt tung ra ngoài.

Quả của địa lan thuộc loại quả sóc, hình dáng to nhỏ tùy thuộc vào giống bố mẹ. (ảnh: botanyboy.org)

Hạt của địa lan rất nhỏ khoảng 0,5mm, rất nhẹ, nhưng rất nhiều. Phần lớn hạt địa lan có hình trứng tròn, giữa có một phôi nhỏ, ngoài có lớp tế bào mỏng trong suốt và có vân tròn làm tăng độ dày, trong vỏ hạt có nhiều không khí, cản trở hút nước, dễ phát tán theo nước và gió. Thông thường phôi phát dục không hoàn hảo, không có phôi nhũ, mà chỉ có tế bào phôi chưa phân hóa hình trứng tròn rất khó nảy mầm.

Hạt của địa lan rất nhỏ khoảng 0,5mm, rất nhẹ, nhưng rất nhiều. ảnh: hạt của Cym. iridioides (Lan Kiếm Hồng Hoàng)

Môi trường nào là tốt nhất cho địa lan?

Nguyên sản của giống địa lan ở phía Đông núi Hymalaya, Nam đến Trung Nam bán đảo Ấn Độ Dương, có độ cao so với mặt biển từ 1.000 – 3.000 m. Mùa đông khô lạnh nhưng không có sương muối, mùa hè ấm nhưng không oi bức, hình thành đặc tính ưa khí hậu ấm, mát mẻ, ẩm ướt, không khí trong lành. Địa Lan mùa đông thường sợ gió hanh lạnh, mùa hè sợ oi bức. Các con lai ở thế hệ sau vẫn mang đặc tính đó của bố mẹ, hình thành đặc tính sinh lý khác với quần thể lan châu Âu. Vậy môi trường nào là tốt nhất cho địa lan từ án sáng đến ẩm độ, nhiệt độ…

– Ánh sáng cho địa lan

Ánh sáng là tác nhân chủ yếu để địa lan tiến hành quang hợp. Không có ánh sáng, diệp lục của hoa lan không thể tiến hành quang hợp, tức là không có dinh dưỡng cần thiết để cung cấp cho địa lan, nhu cầu của hoa lan đối với ánh sáng tuỳ thuộc vào loại hoa lan, kể cả cùng một loại giống địa lan nhưng nhu cầu đối với ánh sáng ở mỗi giai đoạn cũng khác nhau. Nhìn chung địa lan cần lượng ánh sáng từ 15.000 – 70.000 lux. Khi lượng ánh sáng thoả mãn, địa lan sinh trưởng phát triển rất khoẻ, thân vươn dài lá ngắn rộng, thịt lá dày, màu lá xanh nhạt hoặc xanh vàng, thân giả chắc mập, nhiều hoa, tỷ lệ nở cao, màu hoa sặc sỡ, Nếu như độ chiếu sáng quá lớn (lớn hơn 70.000 lux) sẽ ức chế quang hợp nhất là mùa hè thu, thời tiết khá ấm, ẩm độ tương đối thấp, ánh sáng trực xạ mạnh sẽ làm tổn thương lá, Bởi vậy mùa hè và hè thu nên che nắng cho địa lan, giảm bớt lượng ánh sáng và tăng độ ẩm không khí, tránh làm tổn thương đến địa lan. Trái lại khi thiếu ánh sáng (<10.000 lux) quang hợp của địa lan sẽ giảm, không đủ dinh dưỡng thường dẫn đến mọc vống, lá nhỏ dài màu xanh sẫm, thịt lá mềm mỏng, lá chúc xuống, ra hoa ít, đoá hoa nhỏ, màu hoa kém sặc sỡ. Bởi vậy trong điều kiện thiếu ánh sáng đặc biệt là mùa Đông, Xuân cần phải bỏ ngay vật liệu che nắng để địa lan có nhiều ánh sáng mặt trời. Nếu như thời tiết âm u kéo dài khi cần biện pháp chiếu ánh sáng nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh trưởng phát triển của cây lan.

– Nhiệt độ cho địa lan

Tính thích ứng của địa lan đối với nhiệt độ là tương đối rộng, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng là 10 – 25°c, thông thường nhiệt độ bình quân khoảng 15°c là địa lan có thể ra mầm lá, 20 – 30°c cây sinh trưởng tương đôi nhanh, dưới 5°c và trên 30°c cây ở trạng thái ngủ nghỉ. Nếu nhiệt độ dưới 0°c trong thời gian ngắn chỉ có cây con bị chết rét đối với cây con đã lớn và cây trưởng thành ảnh hưởng khônglớn. Khi nhiệt độ cao hơn 30°c, mặc dù ảnh hưởng không rõ đến địa lan, nhưng hay sinh ra hiện tượng hình thành hoa từ sớm, mầm hoa thui chột. Trong thời gian cây sinh trưởng phát triển, điều kiện nhiệt độ nhiệt độ ban ngày 22 – 28°c không thấp hơn 18°c và không cao hơn 30°c, ban đêm là 18-22°C, tốt nhất không thấp dưới 15°c hoặc cao hơn 30°c. Trong thời gian phân hóa mầm hoa, nhiệt độ ban ngày là 18-22°c, tốt nhất là không dưới 15°c hoặc cao hơn 30°c ban đêm là 12-18°c tốt nhất không dưới 10°c hoặc cao hơn 18°c. Khi hoa nở nhiệt độ ban ngày 20-25°C tốt nhất không dưới 18°c hoặc cao hơn 28 c, nhiệt độ ban đêm 15 – 20°c tốt nhất không cao hơn 21 °c cũng không dưới 10 c.

– Ẩm độ cho địa lan

Đa số giống địa lan có nguồn gốc từ các đồi của núi Hymalaya thích hợp với môi trường sinh thái nhiều mưa. Vì vậy, phải thường xuyên tưới nước cho địa lan, giữ ẩm cho giá thể và phun nước thường xuyên, duy trì nhiệt độ không khí ở mức độ khá cao. Nếu giá thể quá khô rễ không thể hút được nước, trong khi cây lan không ngừng bốc hơi nước làm cho cây lan bị héo rũ; giá thể quá ẩm, chậu lan đọng nước, rễ thiếu không khí, cây thiếu Oxy dẫn đến ngạt thở. Nhưng nếu chỉ đảm bảo độ ẩm cho giá thể vẫn chưa đủ mà còn phải tìm mọi biện pháp để duy trì độ ẩm không khí, bởi vì độ ẩm không khí quá thấp, địa lan sinh trưởng kém, thường là rễ sinh trưởng yếu, nhỏ bé, lá hơi vàng. Bởi vậy tưới nước cho địa lan phải căn cứ vào chậu to hay chậu nhỏ, giá thể nhiều hay ít, độ to nhỏ của giá thể và khả năng giữ nước, điều kiện ánh sáng nhiệt độ của mùa sinh trưởng và nhu cầu sinh trưởng và phát triển của địa lan ở giai đoạn khác nhau mà cấp nước kịp thời, đầy đủ. Định kỳ tưới nước duy trì giá thể ẩm ướt, thường xuyên phun nước tăng cường độ ẩm không khí- Thông thường trong thời gian sinh trưởng địa lan cần nước đầy đủ và duy trì độ ẩm không khí khá cao, tốt nhất là từ 70-80%, tối thấp không thể thấp hơn 60%, tối cao không thể quá 95%. Thời gian hoa nở cần lượng nước vừa phải, nhiều nước quá sẽ dẫn đến trao đổi chất tăng, phát sinh nấm bệnh… làm cho thời gian hoa nở rút ngắn làm giảm giá trị cành hoa, cung cấp nước ít không thể thỏa mãn hoa nở, dễ dẫn đến rụng nụ, rụng hoa, đồng thời sẽ làm cho thời gian ra hoa ngắn lại. Độ ẩm không khí tốt nhất là 60-70%, tối cao không quá 80%, tối thấp không quá 50%.

– Thông gió cho địa lan

Nguyên chủng địa lan thuộc loại lan phụ sinh, bán khí dễ ưa môi trường thoáng gió, môi trường thoáng gió dễ dẫn đến tình trạng thiếu CO2, ảnh hưởng đến quang hợp và dễ phát sinh bệnh. Bởi vậy chọn môi trường trồng địa lan lý tưởng ngoài việc chú ý đến ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm còn phải chú ý đến thông gió, thoáng khí, giữ cho không khí trong lành, Trong cả quá trình sinh trưởng và phát triển của địa lan cần có gió (thông thường khí thấy đuôi lá lan bị gió lay là được) để cuốn đi hơi nước thoát ra từ lá và khí bị ô nhiễm, thúc đẩy sự tuần hoàn nước được đẩy từ rễ và bốc hơi qua lá, khiến cho cây sinh trưởng nhanh. Đặc biệt cũng cần chú ý tới độ đối lưu của không khí theo mùa sinh trưởng và trạng thái sinh trưởng và phát triển của địa lan, tránh sự đối lưu không khí quá nhanh làm tổn thương đến lá lan. Những nơi mùa đông giá lạnh cần chú ý sự xâm nhập của không khí lạnh, thường thường chỉ nên thay đổi không khí trong vườn hoa vào buổi trưa, khi trời râm sẽ đáp ứng sinh trưởng phát triển bình thường của địa lan.

Cần phải chỉ ra rằng tác dụng của 4 yếu tố môi trường là ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và thông gió luôn có sự hỗ trợ lẫn nhau, cùng thúc đẩy, cùng ức chế. Bởi vậy mấu chốt để nuôi tốt địa lan cần phải căn cứ vào các giai đoạn phát triển, điều tiết một cách linh hoạt các yếu tố nhằm bổ sung những mặt thiếu của môi trường nuôi dưỡng tạo ra môi trường sinh thái tốt nhất cho địa lan sinh trưởng phát triển bình thường.

Còn tiếp…

Phần 3: ” Cách chăm sóc địa lan Cybidium sau khi đem về “

【#9】Địa Lan Rừng Hình Dạng Như Thế Nào?

Đối với cây địa lan mỗi bộ phận của nó đều có giá trị thưởng thức cao, tuy nhiên bông hoa lại có vị trí quan trọng hơn cả, nó khẳng định đẳng cấp của cây địa lan, dĩ nhiên người trồng lan sẽ căn cứ vào yếu tố này để lựa chọn. Bởi vậy tôi xin được phân tích chi tiết hơn kết cấu và phẩm chất của bông hoa

Hoa địa lan bao gồm 5 cánh (trên thực tế là 6 cánh, 1 cánh đã biến đổi thành cánh môi còn gọi là lưỡi hoa).

– 3 cánh đài (cánh ngoài) hình thuôn đầu nhọn thẳng, hơi cong hoặc cong dài khoảng từ 3-7cm, bản nhỏ từ 3-9mm thông thường mọc đều tạo thành hình tam giác đều có cạnh nối từ các đầu cánh hoa với nhau. Tuy nhiên trong thực tế có một số cây lại có cánh chia vị trí không đều nhau, 2 cánh nằm ngang có thể cụp xuống thường gọi là Vai xuôi, 2 cánh ở vị trí ngang hẳn gần như song song với mặt đất còn gọi là Vai ngang, 2 cánh ngang có xu hướng hướng lên trên còn gọi là vai bay(loại này cực hiếm).

– 2 cánh đỡ tâm (cánh trong) mọc song song với nhau đầu cánh hơi cong xòe hướng về phía trước, nếu nhìn qua ta có cảm giác như 2 cánh hoa này chưa nở hết nhưng trong thực tế nó chỉ nở đến thế(trường hợp đặc biệt có thể xòe rộng hơn nhưng tạo thành 1 góc không quá 45 độ so với 3 cánh ngoài), thông thường 2 cánh trong có mầu nhạt hơn so với cánh ngoài, nếu cánh trong có mầu giống hệt hoặc chỉ chênh lệch 1 chút với cánh ngoài là bạn đang sở hữu 1 cây hoa có mầu sắc đồng đều hiếm có đấy.

Lưỡi hoa (cánh môi) nằm ở phí dưới bông hoa nhìn từ phía trước, lưỡi hoa có thể được coi như 1 cánh hoa đã được biến đổi 1 cách đặc biệt. Nếu quan sát 1 bông hoa chúng ta sẽ thấy lưỡi hoa là 1 điểm nhấn quan trong nhất, bởi nó là bộ phận có nhiều sự khác biệt nhất khi so sánh 2 bông hoa với nhau. Thông thường lưỡi hoa có chiều dài từ 3-4cm nhưng quăn lại, chiều ngang từ 8-13mm. Mầu sắc và kết cấu của lưỡi hoa rất đang dạng, có thể khẳng định không có 2 bông hoa nào có lưỡi giống nhau nếu không ở trên cùng 1 ngồng hoa hoặc được tách triết từ 1 cây mẹ. Tuy nhiên chúng ta có thể tạm chia chúng thành các nhóm sau:

Xét về kết cấu

– Lưỡi quăn vuông: Lưỡi quăn tạo thành 1 đường thẳng nằm ngang song song với mặt đất.

– Lưỡi quăn khum: Lưỡi quăn tạo thành đường cong như dây cung.(loại này hiếm và đẹp)

– Lưỡi quăn vặn: Lưỡi quăn như hình lò xo hoặc lệch sang 1 bên.

– Lưỡi thẳng (duỗi): Lưỡi không quăn lại như bình thường mà duỗi thẳng hoặc hơi cong.(Loại này cực hiếm).

Xét về mầu sắc

– Lưỡi đa điểm(khảm): bao gồm rất nhiều các điểm chấm mầu sậm trên nền lưỡi, các chấm có to nhỏ và hình dạng tròn méo khác nhau.

– Lưỡi đa điểm đều: Là lưỡi có điểm mầu kích thước gần bằng nhau phân bố đồng đều trên nền lưỡi.( Loại này tương đối đẹp)

– Lưỡi nhất điểm: Là lưỡi chỉ có 1 điểm mầu trên nền lưỡi, có thể to hoặc nhỏ, hình dạng dài, ngắn, tròn…ở vị trí trung tâm của lưỡi.

– Lưỡi nhung: Là lưỡi được khảm bởi rất nhiều điểm chấm màu nhỏ li ti trên nền lưỡi, tạo cảm giác như tuyết nhung hoặc vân mây rất đẹp(loại này hiếm)

– Lưỡi khảm kín: Là loại lưỡi được khảm mầu kín hoặc gần kín(kín 70% là đạt yêu cầu). Loại này rất hiếm nên sưu tầm để thưởng thức.

– Lưỡi trơn: Là loại lưỡi không có điểm mầu nào trên nền lưỡi. Loại này rất hiếm đặc biệt với nền lưỡi càng sáng mầu càng quí.

Ngoài ra chúng ta còn thấy rất nhiều biến thể của lưỡi, chúng có mầu sắc, hình thể rất đa dạng và phong phú. Tôi đã từng sưu tầm được những cây hoa có lưỡi hình quả lê, lưỡi điểm hình trái tim, lưỡi trơn nền vàng… nhìn rất đẹp và quyến rũ.

Trụ nhị(mũi hoa): Là bộ phận nằm ở trung tâm bông hoa có hình khum như vỏ quả lạc úp xuống. thực tế đây là bộ phận sinh dục của bông hoa là nơi hoa thụ phấn. Mũi hoa cũng là bộ phận quan trọng của bông hoa, ở vị trí chung tâm nó tạo nên sự cân đối cho bông hoa. Thông thường mũi hoa có khảm mầu hoặc trơn, nhưng phía đầu mũi(hạt nhỏ bằng hột đỗ xanh phía ngoài cùng) luôn có mầu sáng(trắng ngà hoặc vàng) trường hợp đặc biệt có mầu nhưng rất hiếm.

Họng hoa: Là bộ phận hình ống ở phía trong bông hoa nối liền với lưỡi hoa, họng hoa có thể trơn, khảm mầu vân sọc như mang cá hoặc khảm kín 1 màu (loại này cực hiếm).

Hưong thơm:Tại sao tôi lại phải nhấn mạnh yếu tố này bởi 1 bông hoa “hữu sắc” nhưng “vô hương” thì không khác gì 1 người đàn bà đẹp nhưng không có tâm hồn. Mọi tinh túy của nghê chơi đều nằm cả ở đây, vì 1 lý do hết sức đơn giản thôi: Hương thơm không thể tả được mà chỉ cảm được. Ai cảm thấy người ấy là vua, là người hạnh phúc nhất. Cũng như người đàn bà khi xa chồng thường mang áo của chồng ra ngửi, ấp ủ bên gối đã là quá đủ và sẽ có cảm giác hạnh phúc thực sự đấy mặc dù cái áo ấy toàn mùi mồ hôi vậy (Tôi không phải là phụ nữ, không biết nói thế có đúng không, chỉ đoán mò thôi. hihi). Xin lỗi chị em phụ nữ khi tôi xin phép được so sánh hương thơm của hoa địa lan với thơm trên thân thể các chị….nhưng đó là sự thực 100%. Hương thơm này sẽ được biến đổi theo các cảm xúc tâm lý, mỗi lúc 1 khác, khi muốn thì không thấy, bất chợt thì lại thấy, có muốn ngửi thêm cũng không được, khi không nguốn ngửi cũng phải ngửi…

Bằng tất cả những gì có thể cảm được, tôi chỉ có thể đưa ra 1 số đặc điểm như sau:

Mùi hương thoang thoảng, không sắc, không giống 1 loại nước thơm hóa học nào (Chị em bây giờ toàn xịt nước hoa thôi.hic)

Độ phát tán phụ thuộc vào nhiệt độ, đổ đậm đặc của không khí, ánh sáng, khả năng lưu thông gió (không có luồng gió = không có hương thơm).

Thay đổi theo độ chín của hoa, sức khỏe của cây.

Phụ thuộc vào không gian,thời gian thưởng thức. Tất nhiên phải có trà ngon và bạn hiền rồi.

Đây là dòng Mạc lan (đại mạc – có nơi gọi là Mặc lan) màu nâu ánh đỏ (tạm gọi là màu nâu đỏ) sinh trưởng tại vùng rừng núi ven biển thuộc tỉnh Quảng Ninh và một số vùng lân cận.

Dạng cây bụi, đa thân rễ chùm sống ở nơi đất ẩm ven suối hoặc các gộp đá, chịu nước, ưa bóng mát. Có thể ươm trồng trong chậu, nhân giống chủ yếu bằng phương pháp tách chồi và gieo hạt.

Lá dài khoảng 30-90cm, bản nhỏ 2-3cm đầu nhọn, mép lá có gai rất nhỏ, có nhiều gân chạy dọc (1 gân chính ở giữa), xếp so le 2 bên giả hành (củ) hình trứng (hoặc bầu dục), mỗi giả hành thường có từ 3-6 lá. Thân là đoạn nối giữa các giả hành nhỏ và ngắn thường nằm chìm dưới đất. Lá thường chia thành nhiều loại: lá ngắn, dài, thẳng, cong đều, cong gẫy, vặn (phản kiếm), bản to, bản nhỏ…Giả hành có các loại: hình trụ, hình trứng, hình tròn (gần như tròn), hình dẹt…

Rễ chùm hình trụ mọc ra từ giả hành, đường kính 3-4mm, rễ trưởng thành có thể dài tới hàng m, đầu rễ nhọn hình nón hơi tù. Rễ thường có mầu trắng, vỏ xốp có gân chính giữa.

Hoa thơm có ngồng mọc ra từ giả hành dáng thẳng đứng nhỏ dần lên phía trên dài khoảng 30-90cm, mỗi ngồng hoa thường có từ 5-15 bông hoa xếp so le phía trên còn gọi là phát hoa(vị trí mọc hoa). Trên ngồng hoa thường có 2-3 bao hoa giống như lá nhưng ngắn và nhỏ hơn nhiều có tác dụng bao bọc và bảo vệ ngồng hoa lúc nhỏ. Nụ hoa lúc chưa nở hình trụ(giống mỏ chim) dài khoảng 1-3cm, cuống hoa – phần nối giữa bông hoa và ngồng hoa hình trụ nhỏ dài khoảng 2-4cm có bao nhỏ ở vị trí nối với ngồng hoa. Bông hoa thường đạt khích thước từ 4-9cm(nở căng) tính từ 2 đầu cánh hoa.

Theo thành viên Longqaz trên diễn đàn chúng tôi

【#10】Đáng Nể Vườn Địa Lan Hoàng Vũ Ở Nam Định Đạt Kỷ Lục Lớn Nhất Nước

Vườn lan Hoàng Vũ của ông Trần Phi Công được Hội đồng biên soạn Tổ chức kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục là “Vườn địa lan Hoàng Vũ tư nhân lớn nhất cả nước” vào ngày 19/1/2017.

Ông Công đến với nghề trồng lan Hoàng Vũ cũng thật bất ngờ. Bố vợ ông là cụ Nguyễn Văn Nâm, một trong những người ở Nam Định đam mê thú chơi lan Hoàng Vũ nên ông Công cũng “nhiễm” địa lan từ cụ. Và, từ đó ông tâm huyết với loài cây này không kém bố vợ mình.

Kỷ lục gia Trần Phi Công bên vườn lan Hoàng Vũ của mình

Hàng ngày, ông qua nhà bố vợ học hỏi kinh nghiệm chăm sóc và tìm hiểu thú chơi về loài “Nữ hoàng địa lan” này. Nắm bắt thị trường lan Hoàng Vũ ở trong nước rất lớn nhưng còn thiếu những vườn có quy mô lớn, giống lan quý hiếm để đáp ứng nhu cầu người chơi. Sau nhiều ngày tính toán, bàn bạc với gia đình, ông Công quyết định trồng lan Hoàng Vũ.

Năm 2007, ông Công bỏ ra 85 triệu đồng để mua 10 chậu lan Hoàng Vũ về gây dựng và hàng trăm triệu đồng để xây dựng nhà xưởng trồng lan tại chợ Dần (xã Trung Thành, huyện Vụ Bản). Tích góp dần dần, vườn lan của ông Công ngày càng lớn mà diện tích lại càng ít đi. Để mở rộng diện tích, năm 2011, ông đã mạnh dạn mua đất, xây dựng vườn tại xã Mỹ Phúc.

Vườn rộng trên 5.000m2, trong đó có 2 khu vực trồng lan Hoàng Vũ rộng trên 1.000m2 được rào kiên cố bằng sắt, lưới thép bao xung quanh, trên mái được che chắn bằng lưới nilon, có hệ thống tưới nước tự động.

Sau 10 năm gây dựng, ông Công đang sở hữu gần 2.300 chậu lan Hoàng Vũ

Bao quanh toàn bộ khu vườn là hệ thống mương nước có tác dụng tạo không khí ẩm cho cây lan phát triển, có khu vực ủ phân bón, làm đất. Tổng giá trị đầu tư vườn địa lan Hoàng Vũ khoảng 3,5 tỷ đồng.

“Ngày xưa các cụ trồng lan Hoàng Vũ là chỉ để chơi, thưởng thức mùi hương và giao lưu chứ không phải mục đích trồng để làm kinh tế. Nhận thấy nhu cầu chơi lan Hoàng Vũ ngày càng nhiều, tương lai phát triển rất rõ mà quy mô trồng không nhiều nên tôi đã mạnh dạn đầu tư trồng giống lan này”, ông Công chia sẻ.

Sau 10 năm gây dựng, đến nay ông Công đang sở hữu 2.300 chậu lan Hoàng Vũ, trong đó có 1.000 chậu hoa giống và 1.300 chậu hoa chuẩn bị bán thương phẩm. Đến đầu năm 2021, vườn địa lan Hoàng Vũ Thành Công của ông mới chính thức bán sản phẩm lan giống và lan thương phẩm ra thị trường.

Hiện tại, lan Hoàng Vũ của gia đình ông được bán với giá dao động từ 300 – 600 nghìn đồng/chậu hoa giống và 10 – 20 triệu đồng/chậu hoa thương phẩm, tùy thuộc vào cây to, khỏe, hoa đẹp.

Còn hơn 1 tháng nữa, mới đến tết Nguyên đán nhưng thị trường hoa lan Hoàng Vũ ở Nam Định đã bắt đầu sôi động. Nhiều người yêu hoa lan Hoàng Vũ ở các tỉnh, thành phố phía Bắc như Hà Nội, Hà Nam, Quảng Ninh, Ninh Bình… đang đua nhau về vườn lan nhà ông Công để chiêm ngưỡng và đặt hàng.

Văn hóa chơi lan

Dẫn chúng tôi đi tham quan vườn lan Hoàng Vũ của gia đình, kỷ lục gia Trần Phi Công bảo, lan Hoàng Vũ được người yêu hoa đánh giá là “Nữ hoàng địa lan”, là đỉnh cao trong các loài hoa, bởi loài này đẹp tổng thể từ thân, lá, độ cao của hoa, cho đến màu sắc, hương thơm. Lá của cây lan Hoàng Vũ mềm, mướt, luôn vặn kiếm, đầu nhọn, tỏa ra ôm trọn lấy chậu rất đẹp.

Hoa lan Hoàng Vũ màu vàng, to nhất trong các loại lan, các cánh hoa lúc nào cũng hướng về ánh sáng, mềm mại như đang múa. Thân cây cứng cáp, hương thơm man mác. Không chỉ đẹp, lan Hoàng Vũ còn đòi hỏi người trồng, chăm sóc phải có kinh nghiệm, kỳ công nên có giá trị kinh tế cao.

Hội đồng biên soạn Tổ chức kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục

Để chơi lan Hoàng Vũ đúng cách trong dịp tết, theo ông Công, người chơi lan Hoàng Vũ phải tinh tế, hiểu được văn hóa chơi cũng như cái đẹp, giá trị của loài lan này. Nên bỏ chậu lan Hoàng Vũ lúc đẹp nhất (khi hoa đang nở rộ) vào nhà chơi tết và khi nào lan sắp tàn thì nên đem ra ngoài.

Ông Công lý giải: “Lan Hoàng Vũ thường được chơi vào những ngày tết, nó tượng trưng cho những gì tinh túy nhất trong những ngày đầu năm mới. Vì vậy, khi đưa chậu lan vào nhà phải trọn vẹn, lan đang thời kỳ nở rộ, ý muốn nói năm mới luôn đầy sức sống, mãnh liệt và khi đón tết xong thì nên bỏ chậu lan ra ngoài, ý muốn nói phải trân trọng và nhớ đến loài hoa này. Chứ chơi tàn hết hoa mới đem ra ngoài thì không còn đọng lại cảm xúc…”.

Đặc biệt, một chậu lan Hoàng Vũ đầy đủ ý nghĩa nhất, chơi trong những ngày tết phải đủ 3 thế hệ hay còn gọi là gia đình “Tam đại đồng đường” gồm lan mẹ, lan con, lan cháu, ý muốn nói sự sum họp của gia đình trong ngày Tết, thể hiện lối sống mẫu hệ, một gia đình nương tựa vào nhau mà sống.

Cũng theo ông Công, chậu hoa lan Hoàng Vũ đủ 3 năm thì sẽ cho hoa chất lượng nhất, hương thơm ngào ngạt. Mỗi chậu hoa nên giữ khoảng 7 – 9 ngồng hoa là đẹp nhất, không bị rối mắt.

Nói về kỹ thuật trồng lan Hoàng Vũ, ông Công chia sẻ, trồng loài lan này phải đòi hỏi kỹ thuật cao hơn các loài hoa khác như dễ mắc bệnh (bệnh thối rễ, thối nõn) mà mắt thường không nhìn thấy. Ngoài ra, chế độ chăm sóc luôn được đặt lên hàng đầu, đây là vấn đề cốt lõi, người trồng phải đầu tư đủ thời gian cho cây, tìm hiểu đặc tính của loài hoa này…

Share FB »