Lan Cấy Mô Là Gì ? Lan Nuôi Cấy Mô Tế Bào

--- Bài mới hơn ---

  • Trồng Và Chăm Sóc Địa Lan Trần Mộng Nở Nhiều Hoa, Dân Trong Nghề Biết
  • Trầm Tím, Bán Trầm Tím Đài Loan, Dendrobium Nestor
  • Trầm Rồng Đỏ Lá Biên, Bán Trầm Rồng Đỏ Tại Hà Nội
  • Hoa Lan Trầm 5 Cánh Trắng Đài Loan Dl112 Cam Kết Chất Lượng Tại Phú Thọ
  • Trồng Kinh Tế Với Cây Con Lan Trầm Tím
  • Trồng lan không chỉ là thú vui mà còn là một nghề đang rất hot đem tới nguồn thu nhập cực lớn và ổn định cho người trồng.

    Một trong những phương pháp nhân giống lan hiện đại và tối ưu nhất hiện nay đó chính là nuôi cấy mô tế bào, đây chính là nguồn giống cung cấp chủ yếu cho hầu hết các nhà vườn trồng lan cung cấp cho thị trường hiện nay.

    Về phương pháp nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào

    Phương pháp nuôi cấy mô được phát triển dựa trên tính toàn năng của tế bào thực vật, tức là mọi tế bào thực vật đều có khả năng sinh sản vô tính. Trong quá trình nguyên phân, nhiễm sắc thể nhân đôi và phân li đồng đều do đó các tế bào mới hình thành đều có cùng hệ gen.

    Tế bào là đơn vị sống cơ bản, mô tế bào là tập hợp một nhóm các tế bào chuyên hoá có cùng chất gian bào để thực hiện một chức năng nhất định. Mô tế bào là một phần cấu tạo nên cơ thể nhưng nó cũng có tính độc lập riêng biệt. Dựa vào đặc điểm này, công nghệ nuôi cấy mô thực vật ra đời nhằm thực hiện mục đích nhân giống.

    Nuôi cấy mô tế bào là biện pháp duy trì sự sống và phát triển mô tế bào trong môi trường vô trùng và giàu dinh dưỡng để tạo nên cơ thể mới. Lan cấy mô là những cá thể lan được tạo ra bằng phương pháp nhân bản vô tính này.

    Quy trình nuôi cấy mô tế bào hoa phong lan

    Bước 1: Chọn mẫu và thực hiện vô trùng mẫu

    Chọn lấy mẫu từ những cây lan tốt, khoẻ mạnh, cho hoa đẹp bởi đây là yếu tố hàng đầu quyết định đến chất lượng của giống sau khi nuôi cấy. Mẫu thường dùng là đỉnh sinh trưởng (phần ngọn cây) hoặc một đoạn trên thân (lúc hoa chưa nở).

    Mẫu sau khi chọn được bóc lớp vỏ và khử trùng bằng cách ngâm trong cồn trong 30 giây. Tiếp tục rửa lại bằng nước cất, ngâm trong dung dịch Javel 50% trong khoảng 5 phút, tiếp tục trong muối HgCl2 khoảng 2 phút, cuối cùng rửa lại nhiều lần bằng nước cất. Lưu ý toàn bộ quá trình cần được thực hiện trong tủ cấy để đảm bảo vô trùng tuyệt đối.

    Bước 2: Nhân giống

    Mẫu được chọn sau khi vô trùng sẽ được đưa vào bình nghiệm để thực hiện nuôi cấy. Môi trường nuôi cấy trong bình nghiệm chứa các thành phần dinh dưỡng thiết yếu nuôi dưỡng mô phát triển. Các điều kiện cần cung cấp phải đảm bảo sự tuyệt đối và chính xác mới đạt được sự thành công khi nhân giống.

    Thực tế môi trường nuôi cấy thường được các chuyên gia điều chỉnh sao cho tốt nhất với từng loại lan và đặc điểm từng vùng. 2 môi trường phổ biến nhất đó là Knudson C Orchid Medium và MS (Murashige and Skoog medium), ngoài ra có thể thêm vào một số thành phần hữu cơ khác như: nước dừa, khoai tây, cao thịt,… với mục đích gia tăng hàm lượng acid amine.

    Nhiệt độ thực hiện nuôi cấy mô cần phải duy trì từ 22 – 25 độ C. Bên cạnh đó yếu tố ánh sáng cũng rất quan trọng. Giai đoạn này mô cần nhiều ánh sáng để thúc đẩy việc nhân bào nên có thể gia tăng ánh sắng bằng việc thắp đèn hoặc bố trí sao cho phòng nhận được nhiều ánh sáng nhất.

    Sau khi nuôi trong bình nghiệm khoảng 2-3 tuần ta sẽ thấy các thể li ti chính là những mầm non sau này sẽ phát triển thành cây được gọi là protocom. Từ một mẫu mô sẽ hình thành rất nhiều thể protocom do đó lượng cây mới tạo thành được là rất nhiều.

    Bước 3: Kích thích chồi

    Hay còn được gọi là giai đoạn tái sinh chồi. Các thể protocom sẽ được chuyển sang các bình môi trường chứa hormone tăng trưởng kích thích chúng phát triển phần thân. Hormone thường dùng là nhóm hormone Cytokinins bao gồm 6-BAP, TDZ, Kinetin… trong đó 6-BAP là phổ biến hơn cả bởi giá thành thấp hơn và dễ tìm hơn. Ngoài ra cũng có thể kích thích cây con ra rễ trước bằng dung dịch Auxin.

    Bước 4: Đưa ra vườn ươm

    Cây con khi phát triển được 5 – 7cm được đem ra vườn ươm. Có thể ngâm cùng với chất diệt nấm trước khi trồng trong chậu xơ dừa để tránh thối gốc. Chăm sóc cây con khi tách khỏi môi trường nuôi cấy ra môi trường tự nhiên rất quan trọng bởi đây là giai đoạn đoạn có sự thay đổi lớn, nếu không chú ý cây dễ mắc bệnh và chết.

    Cây con cần được tưới đủ ẩm từ 1 đến 2 lần mỗi ngày, tưới bằng cách phun sương để không làm hư cây. Sử dụng phân bón kích thích ra rễ và mọc cành, phòng trừ sâu bệnh giúp cây phát triển nhanh và khoẻ mạnh.

    Nhân giống lan bằng phương pháp nuôi cấy mô có ưu điểm là cho chất lượng cây tốt, ổn định, thời gian nhanh, số lượng lớn và hạn chế được sâu bệnh. Do đó ngày nay tại các trang trại nhà vườn, lan, cấy mô là nguồn cung cấp giống chủ yếu, phù hợp mô hình nuôi trồng công nghiệp, hiện đại.

    THÔNG TIN ĐỊA CHỈ MUA HÀNG

    TRUNG TÂM BẢO TỒN GIỐNG HOA LAN – HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

    Các bạn đặt hàng trực tuyến hoặc liên hệ Hotline:

    Trung tâm đảm bảo chuẩn chất lượng nguồn giống từ cái tâm của những người nghiên cứu và các nhà khoa học tâm huyết.

    UY TÍN – CHẤT LƯỢNG LÀM NÊN THƯƠNG HIỆU

    Bến Tre, Bình Định, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, Cà Mau, Cần Thơ, Cao Bằng, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Điện Biên, Đồng Nai, Đồng Tháp, Gia Lai, Hà Giang, Hà Nam, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng, Hậu Giang, hào Bình, Hưng Yên. Khánh Hòa, Kiên Giang, Kon Tum, Lai Châu, Lâm Đồng, Lạng Sơn, Lào Cai, Long An, Nam Định, Nghệ An, Ninh Bình, Ninh Thuận, Phú Thọ, Phú Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sóc Trăng, Sơn La, Tây Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế, Tiền Giang, TP. Hồ Chí Minh, Trà Vinh, Tuyên Quang, Vĩnh Long,Vĩnh Phúc, Yên Bái.

    Chia Sẻ Kiến Thức Trồng Lan Cấy Mô Quy Trình Nuôi Trồng Lan Cấy Mô – Kỹ Thuật Ra Chai

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trầm Hương Có Bao Nhiêu Loại?
  • Co Giật Tay: Những Điều Bạn Nên Biết Về Hiện Tượng Này
  • Như Làn Trầm Hương Ban Chiều
  • Hoa Lan Trầm ( Hd Trồng Và Chăm Sóc ) Các Loại Phổ Biến Nhất
  • Hoa Lan Trầm Loài Hoa Vạn Người Mê
  • Cách Trồng Lan Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trồng Lan Phi Điệp Cấy Mô
  • Cách Trồng Hoa Lan Cấy Mô
  • Phương Pháp Trồng Lan Hồ Điệp Cấy Mô
  • Cách Trồng Lan Vũ Nữ Treo Chậu
  • Mô Tả Và Cách Trồng Lan Hài
  • Bước 1: Vì trong phòng thí nghiệm cây lan con được nuôi trong điều kiện vô trùng nên khi mới lấy chai mô hay bịch mô hoa Lan từ phòng thí nghiệm ra ta cần đặt chúng vào vườn nơi chuẩn bị trồng ít nhất 3 ngày cho thích nghi dần với điều kiện môi trường mới. (Trong trường hợp mới mua về mà lớp thạch bị đảo lộn rồi thì ta cần tiến hành Bước 2 ra chai ngay)

    Bước 2: Đối với bịch mô: cắt nhẹ lớp ni lông nhẹ nhàng lấy cây lan con từ bịch mô cho vào thau nước sạch. Đối với chai mô: cho nước sạch vào chai lắc nhẹ để tách lớp thạch và cây. Sau đó dốc ngược vào thau nước sạch cho thạch và cây tuột ra khỏi chai.

    Bước 3: Rửa sạch môi trường bám trên cây lan con (đặc biệt là rễ lan) bằng cách rửa 2-3 lần nước sạch trong thau nhựa. Loại bỏ rễ hay lá bị hư thối, thao tác nhẹ nhàng hạn chế tối đa làm tổn thương đến rễ và lá. Không nên để cây lan con ngâm quá lâu trong môi trường nước vì rễ và lá bị thương sẽ dễ bị úng lá và thối rễ dẫn đến cây lan chết sau khi chuyển ra vườn ươm.

    Bước 4: Ngâm cây lan con vào thau nhựa chứa nước có pha thuốc nấm nồng độ 1-2‰ trong vòng 2 phút. Hoặc ngâm lan con vào nước vôi trong chuẩn bị trước để lắng vài ngày.

    Bước 5: Vớt cây lan con sau khi ngâm thuốc nấm hoặc nước vôi trong ra trải đều trên lớp giấy báo, sắp xếp các cây theo thứ tự lớn nhỏ để cho ráo nước và thông thoáng. Tiếp theo dùng giấy báo đã được làm ướt trải lên rổ nhựa có chứa cây lan con. (Điều này giúp cây lan con không bị khô hay thất thoát nước). có thể sử dụng màng nilon phủ trên mặt rổ .

    * Lưu ý trồng lan cấy mô: Không nên bó cây lan con ngay sau khi ra cây nên để sau 2-7 ngày mới bó cây, điều này giúp hạn chế việc cây lan con bị úng rễ do chưa làm quen kịp thời với môi trường bên ngoài sau khi trồng.

    Bước 6: Ngâm lan con vô chế phẩm kích rễ ( mình sử dụng Raykat star thấy rất tốt).Vắt khô miếng xơ dừa hoặc Dớn trắng đã được xử lý thuốc nấm rồi quấn quanh rễ cây lan con cho vừa tay. Sau đó cho vào vỉ trồng lan.

    * Lưu ý : thời điểm này tuyệt đối tránh nước mưa trực tiếp vào cây lan con.

    II. Chăm sóc hoa lan cấy mô

    1. Phương pháp tưới nước cho lan cấy mô

    Trong thời gian 15 đến 30 ngày đầu tiên sau khi chuyển cây lan con ra vườn ươm không nên sử dụng phân bón có thành phần chất kích thích và chứa hà lượng NPK cao chỉ tưới nước 2 lần/ngày (chủ động điều chỉnh liều lượng nước tưới tùy theo mùa nắng hay mùa mưa) 3-5 ngày phun một lần loãng chế phẩm kích thích ra rễ Raykat star.

    * Lưu ý: Chỉ phun sương cho ướt lá lan và không phun sau 4 giờ chiều.

    2. Phương pháp sử dụng phân bón cho lan cấy mô

    Trong khoảng 2 tuần đầu tiên ta chỉ tưới nước cho lan con nhằm tạo điều kiện cho cây lan cấy mô thích nghi với điều kiện bên ngoài.

    Tiến hành phun phân bón cho cây lan con: Tuần lễ thứ 3 sử dụng Vitamin B1 hoặc Atonik.

    Các tuần thứ 4 trở đi xịt phân bón lá 30-10-10 và Vitamin B1 từ 1-2 lần /tuần. Có thể dùng các loại phân Agrostim hoặc Atonik để thay thế sau khi sử dụng 4-5 lần phân 30-10-10.

    Nồng độ phân tưới cho lan con khoảng 1/2 – 1/4 lượng phân dùng cho cây lan lớn:

    Phân 30-10-10 dùng 0.5g/lít nước.

    Vitamin B1 dùng 0.5-1ml/lít nước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lan Ngọc Điểm Rừng: Cách Trồng Và Chăm Sóc
  • Cách Trồng Nấm Rơm Bằng Mùn Cưa
  • Phương Pháp Nuôi Trồng Nấm Ăn Dược Liệu Nấm Rơm Đông Trùng Hạ Thảo
  • An Toàn Với Cách Trồng Rau Tại Nhà
  • Tìm Hiểu Cách Trồng Rau Sạch Tại Nhà Không Cần Đất
  • Lan Hồ Điệp Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Chậu Lan Hồ Điệp Cao Su Cao Cấp
  • Lan Hồ Điệp Trắng 3 Cành
  • Chậu Lan Hồ Điệp 3 Cành Trắng Tím Vàng
  • Chậu Lan Hồ Điệp 3 Cành
  • Shop Hoa Lan Hồ Điệp Quận 3
  • Lan hồ điệp cấy mô có ưu điểm gì nổi bật so với lan hồ điệp nuôi bằng phương pháp truyền thống?

    Lan hồ điệp là loài hoa nổi bật bởi vẻ đẹp sang trọng, tinh tế, thanh lịch, được mệnh danh là “nữ hoàng của các loài lan”, được cả thế giới ưa chuộng. Ở Đài Loan – vương quốc lan hồ điệp, người ta đã áp dụng công nghệ nuôi cấy mô để có lan chất lượng cao xuất khẩu đi các nước. Doanh thu hồ điệp chiếm tới 70% doanh thu của toàn bộ đảo.

    Việt Nam cũng đã sử dụng phổ biến công nghệ này cho nhiều trang trại lan ở Di Linh, Bảo Lộc, Đà Lạt…, đưa ra thị trường những chậu lan hồ điệp đẹp, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Vậy lan hồ điệp nuôi cấy mô có ưu điểm gì nổi bật so với lan hồ điệp nuôi bằng phương pháp truyền thống?

    Người ta thấy rằng lan hồ điệp cấy mô có tuổi thọ cao hơn hẳn so với lan hồ điệp trồng tự nhiên. Một chậu lan hồ điệp thông thường tuổi thọ cao nhất khoảng 10 năm, đây là thời gian lâu nhất của hoa lan. Thế nhưng với lan hồ điệp cấy mô, tuổi thọ lên tới 18 năm nếu người trồng biết cách chăm sóc.

    Thời gian hoa tươi lâu, đều và mật độ hoa dày

    Khi nuôi lan hồ điệp theo phương pháp cấy mô, giai đoạn kích phát hoa trong phòng lạnh cho phép kìm hãm sự phát triển của những bông nhú sớm, kéo dài thời gian phát mầm, những mầm con mọc lên nhiều và đều, không có tình trạng hoa này tàn rồi hoa khác mới nở như lan ở trong tự nhiên. Hoa hồ điệp khi nuôi cấy mô cho bông to, đẹp, cánh dày đầy đặn, đều nhau nhờ được cung cấp chất dinh dưỡng hợp lý.

    Lan hồ điệp cấy mô có khả năng đề kháng tốt

    Hồ điệp nuôi cấy mô sử dụng mầm giống từ những cây mẹ có chất lượng tốt, sức đề kháng cao, bởi vậy nó đã có lợi thế hơn bình thường. Trong thời gian nuôi ở ống nghiệm, người ta cho các chất hoá học vào thân cây để giúp cây đề kháng tốt hơn với sâu bệnh gây hại. Sau khi mở ống nghiệm ra, người ta còn để mấy ngày cho cây “làm quen” môi trường xung quanh, loại bỏ những cây yếu ớt, hư hỏng. Do vậy hồ điệp cấy mô trên thị trường đều khoẻ mạnh và không có sâu bệnh.

    Có màu theo ý muốn với số lượng lớn

    Người ta dùng giống từ những cây lan hồ điệp có màu được ưa chuộng nhất. Ví dụ như màu trắng, tím, vốn dĩ trong tự nhiên không nhiều. Nhờ phương pháp nhân giống và nuôi cấy mô này, ai cũng có thể mua được chậu hoa đẹp với màu ưa thích.

    Làm ngắn thời gian ra hoa

    Lan cấy mô chỉ mất khoảng 8-9 tháng là ra hoa, trong khi đó cây lan thông thường mất khoảng 12 tháng. Nhờ cơ chế thúc đẩy hoặc kìm hãm, người ta giúp cây ra hoa đúng thời điểm mình cần và giảm ngắn thời gian ra thị trường, tiết kiệm chi phí cho các nhà vườn, thu hồi vốn nhanh và cải tiến giống nhanh chóng.

    Cũng bởi những ưu điểm trên, Hồ điệp cấy mô với bông to, đẹp, khoẻ khoắn được ưa chuộng và chiếm lĩnh thị trường của lan nuôi truyền thống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Shop Hoa Lan Hồ Điệp Phường Hiệp An, Cửa Hàng Hoa Lan Hồ Điệp Phường Hiệp An, Tiệm Hoa Lan Hồ Điệp Phường Hiệp An
  • Lan Hồ Điệp Tím 1 Cành
  • Lan Tiểu Hồ Điệp Apollo Giá Rẻ Phân Phối Toàn Quốc
  • Lan Hồ Điệp Đỏ Apollo Phân Phối Chất Lượng Giá Rẻ Trên Toàn Quốc
  • Lan Hồ Điệp Apollo Mua Bán Giá Rẻ Phân Phối Trên Toàn Quốc
  • Giống Hoa Lan Nuôi Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Bán Lan Cấy Mô Hồ Điệp – Lan Rừng
  • Loài Lan Hibiki – Đốm Lửa Đỏ Trỗi Dậy Từ Lòng Đất
  • Chậu Cây Lan Dendro Nhật Hibiki Bông Chùm Cực Đẹp
  • Dendrobium Farmeri Thực Vật Rừng
  • Hoa Lan Dendro Đang Nụ
  • CHÍNH THỨC MỞ BÁN HOA LAN HỒ ĐIỆP TẾT 2022 – LAN HỒ ĐIỆP NỤ SỈ TƯ 50 CÂY – LAN HỒ ĐIỆP NGỒNG SỈ TỪ 200 CÂY MỌI CHI TIẾT XIN LIÊN HỆ: THU HIỀN 0974.36.68.69

    Giống lan dendro thường có đặc điểm lá xanh quanh năm và hoa mọc ở gần ngọn, đã và đang được giới chơi lan săn lùng. Để có những chậu hoa lan đẹp…

    Trong những năm gần đây, giống lan Phi Điệp hay còn gọi là lan giả hạc ở miền nam đang được biết đến là dòng hoa lan sốt nhất và được nhiều người…

    Giống lan hoàng thảo (Dendrobium) là giống lan lớn thứ hai trong họ nhà lan với khoảng 1100 loài đã được đặt tên. Các thành viên của…

    Giống lan Hồ điệp là những loài Lan ưa bóng râm, khoảng 30-40% ánh sáng trực tiếp. Lan hồ điệp giống cần lượng ánh sáng ít hơn so với…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Lan Dendro Màu Nắng Dễ Trồng, Siêng Hoa, Giao Màu Ngẫu Nhiên, Không Lựa Màu
  • Khái Niệm Lan Dendro Nắng Là Gì
  • Hoa Lan Sonia Treo • Sài Gòn Hoa 2022
  • Lan Dendro Chớp Mini Enobi Singapore Đã Ghép Bảng Sẵn
  • Dendro Nắng Rồng Xanh
  • Kỹ Thuật Trồng Lan Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Lan Nuôi Cấy Mô
  • Lan Cẩm Cù Trồng Như Thế Nào Để Ra Hoa Nhiều?
  • Cách Trồng Lan Cầm Cù “cực Đơn Giản” Ai Cũng Có Thể Trồng
  • Địa Lan Bạch Phượng Tua, Mua Địa Lan Bạch Phượng Tua Ở Đâu?
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Cẩm Báo
  • Kĩ thuật trồng lan cấy mô và những lưu ý khi trồng

    Gần đây nhu cầu chơi phong lan ngày càng nhiều. Nhưng diện tích rừng nguyên sinh ngày càng thu hẹp. Lượng lan rừng khai thác tự nhiên còn rất ít. Để có được giống lan đặc biệt quí hiếm, nhiều nhà vườn nhân giống một số dòng lan dưới dạng cây gieo hạt cấy mô. Lan cấy mô mang đầy đủ đặc điểm của cây gốc, nhưng lan gieo hạt lại mang một nửa đặc tính của bố và mẹ. Khi bố mẹ là các cây lan thuần chủng được trồng lâu năm tại nhà vườn thì đặc điểm di truyền của các cây bố mẹ sang cho thế hệ con

    Dụng cụ

    – Lấy lan ra khỏi môi trường thạch để cấy móc

    – Dao cắt rễ

    – Cắt cành bằng kéo

    – Để moi lỗ trồng dùng cây mũi nhọn

    – Các chậu trồng cây mô

    Chất để trồng cây lan cấy mô

    Những chất để trồng cây đều được khử trùng ở nhiệt độ 120 độ C trong nồi hấp tiệt trùng và rửa lại nhiều lần với nước sạch. Than phải được ngâm trong nước khoảng 1 tuần trước lúc được đưa vào nồi hấp.

    Thí dụ: Than ở dưới đáy chậu là chung, dớn ở phía trên.

      Những lưu ý khi trồng lan cấy mô.

    Nên để chai tại vườn dự định ươm ít nhất 3 ngày trước khi lấy cây ra khỏi chai để cây quen với môi trường ánh sáng mới.

    Sau khi lấy cây lan cấy mô ra khỏi chai ta cần có những làm những việc sau:

    Làm sạch thạch bám trên rễ dưới dòng nước chảy và không được làm tổn thương rễ của cây.

    Cây lan cấy mô sau khi được rửa sạch đem đi ngâm vào dung dịch B1 pha 1ml/l nước trong 5 phút.

    Vớt lan để ráo nước. Việc này nên làm vào chiều tối rồi mang đi ươm.

    Để rễ lan nổi hẳn lên trên mặt giá thể và lấy 1 vài cọng rêu con để đỡ đứng cây lan.

    Sau khi trồng lan cấy mô cần phun thuốc diệt nấm ngay sau khi trồng.

    Tưới 1-3 lần 1 ngày tùy theo thời tiết để tưới.

    Nghiêm cấm không phun thuốc kích thích cho lan trong vòng 3 tuần đầu.

    Khi có rễ mới thì ta tưới phân hoặc B1 với nồng độ loãng rồi theo thời gian tăng liều lượng thuốc để cây phát triển 1 cách hoàn hảo.

    Phun thuốc diệt nấm vi khuẩn định kì 7-10 ngày 1 lần cho cây lan cấy mô

    Sản phẩm lan ngọc điểm cấy mô

    Chai mô lan ngọc điểm thái

    Sản phẩm lan hồ điệp cấy mô

    Các bạn đặt hàng trực tuyến hoặc liên hệ: Hotline, zalo: 0963 090 463

    Theo dõi chúng tôi trên facebook: https://www.facebook.com/hoalancaycanh1/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Mokara
  • Hướng Dẫn Chăm Sóc Lan Hoàng Thảo U Lồi
  • Hướng Dẫn Trồng Lan Dendrobium Thái
  • Kỹ Thuật Trồng Lan Thái Và Lan Đài Loan Nuôi Cấy Mô
  • Kinh Nghiệm Và Kỹ Thuật Trồng Lan Trầm Tím
  • Lan Ngọc Điểm Thái Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • “soái Ca” Hoa Lan Ở Đà Lạt
  • Lanhodiepdalat.vn Cung Cấp Hoa Lan Hồ Điệp Đà Lạt Giá Sỉ & Lẻ Tại Vườn
  • Shop Bán Chậu Lan Hồ Điệp Ở Hà Nội
  • Shop Hoa Lan Hồ Điệp Củ Chi
  • Top 5 Shop Hoa Lan Đà Nẵng Mời Bạn Đọc Xem Qua
  • Lan ngọc điểm thái cấy mô hiện nay được nuôi trồng nhiều trong các nhà vườn và hộ dân chơi lan.

    Ngọc điểm thái cấy mô có ưu điểm cây khỏe, sức sống mãnh liệt.

    So với hàng cấy mô tại Việt Nam thì ngọc điểm thái cấy mô có kích thước cây trong chai thường sẽ lớn hơn. Cây có kích thước đồng đều nhau. Sự chênh lệch không quá lớn. Cây lan ngọc điểm thái cấy mô sẽ có số lượng cây trong chai từ 30 cây/ chai.

    Khi mua chai lan ngọc điểm thái cấy mô về các bạn để chai mô ở khu vực mà bạn dự định trồng cây. Để cây tại khu vực đó trong thời gian từ 2-3 hôm rồi tiến hành khui cây ra khỏi chai.

    Tiến hành rửa sạch thạch bám trên rễ cây lan ngọc điểm thái. Trong quá trình rửa phải thao tác nhẹ nhàng. Tránh làm hư rễ cây, rửa cây trong 2-3 lần nước sạch.

    Khi rửa cây xong không tiến hành trồng cây ngay mà ta nên để cây trên giá có lót giấy báo. Tiến hành phun ẩm cho cây hàng ngày. Để cây trên giá trong vòng 5-7 hôm rồi mới tiến hành trồng cây vào giá thể. Giá thể dành cho cây lan ngọc điểm thái cây mô có thể là gỗ khô cắt thành từng khúc hoặc sơ dừa, rêu, vỏ thông. Tuy nhiên rêu ít được xử dụng do giá thành. Đồng thời rêu là giá thể giữ nước rất tốt nên dễ gây thối cho cây lan ngọc điểm nếu không kiểm soát vấn đề tưới nước được tốt.

    Trong giai đoạn cây lan ngọc điểm chưa ra rễ mới thì không nên tiến hành bón phân cho cây. Chỉ sử dụng nước và B1+ các chất kích thích sinh trưởng.

    Giai đoạn cây con bắt đầu nhú rễ mới thì tiến hành bón phân cho cây. Sử dụng các loại phân bón lá hoặc phân tan chậm cho cây lan ngọc điểm đều được. Lưu ý về nồng độ phân bón để tránh làm sót cây lan con.

    Chai mô lan ngọc điểm thái

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Lan Nào Đẹp Nhất Và Dễ Trồng Nhất Hiện Nay
  • Cách Chọn Giống Hoa Lan Mokara
  • Hoa Lan Mừng Sinh Nhật Tại Gò Vấp Hcm Hds 2204
  • Hoa Lan Mừng Sinh Nhật Hds
  • Hoa Lan Mừng Sinh Nhật
  • Nuôi Cấy Mô Lan Kim Tuyến

    --- Bài mới hơn ---

  • Lan Ngọc Điểm Thái Bóc Trụ.
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Cẩm Báo Hoang Dã
  • Hướng Dẫn Cách Cắm Hoa Vũ Nữ Đẹp Được Nhiều Người Say Đắm
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Lan Bình Rượu
  • Kinh Nghiệm Trồng Và Chăm Sóc Lan Trầm (Denrobium Parishii)
  • Trong bài viết này sẽ giới thiệu kỹ thuật nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô thực vật trên cây Lan Kim Tuyến hay còn được gọi với tên gọi khác là Lan Kim Tuyến lông cứng, Kim Tuyến, Kim Tuyến Tơ, Lan Gấm, Cỏ Nhung, Kim Cương hay Giải Thuỷ Tơ. Lan Kim Tuyến có danh pháp khoa học là Anoectochilus setaceus. Các môi trường sử dụng: MS vitamins, Knudson C Orchid, và môi trường SH( SCHENK & HILDEBRANDT BASAL SALT MEDIUM).

    Nuôi cấy mô Lan Kim Tuyến- Lan Gấm- Cỏ Nhung hay Kim Cương

    Lan Kim Tuyến được xem là một vị thuốc có tác dụng trị lao phổi, ho phế nhiệt, viêm khí quản, phong thấp, đau nhức khớp xương, đau do chấn thương, viêm dạ dày mãn tính, gan mãn tính, suy nhược thần kinh; ngoài ra còn giúp tăng cường thể lực, lưu thông khí quyết và có tính kháng khuẩn. Bởi trong thành phần của Lan Kim Tuyến có các hoạt chất như: quercetin, isoharmnetin-3-O-beta-D-glucopyranosid, kaempferol-3-O-beta-D-glucopyranosid, 5-hydroxy-3′-4′-7′-trimethoxyflavonol-3-O-beta-D-rutinosid và isorhamnetin-3-O-beta-D-rutinosid.

    Do nhu cầu bùng nổ các loại thuốc có nguồn gốc thực vật nên dẫn đến việc khai thác quá mức, làm đe doạ đến sự tồn vong của các loài cây quý trong đó có Lan Kim Tuyến. Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về nhân giống in vitro trong và ngoài nước trên đối tượng lan này như Shiau et al., (2002); Ket et al., (2003, 2004); Nhut et al., (2006); Phùng Văn Phê và cộng sự (2010); Nguyễn Quang Thạch và Phí Thị Cẩm Miện, 2012; Nguyễn Tuấn Anh và cộng sự (2013).

    Quá trình nhân giống Lan Kim Tuyến bằng phương pháp nuôi cấy mô thực vật được chia làm 3 bước:

    A. Giai khử trùng và vô mẫu:

    Lấy đoạn chồi ngâm trong xà phòng 20 phút, rửa bằng nước dưới vòi và đưa vào box cấy. Mẫu cấy tiếp tục được ngâm trong cồn 70 độ trong 30 giây, sau đó tiến hành khử trùng với nuối thuỷ ngân HgCl2 0,1% có nhỏ thêm 3 giọt Tween 20 trong 20 phút, rửa mẫu bằng nước cất vô trùng 5 lần rồi đưa vào môi trường nuôi cấy.

    Môi trường ở giai đoạn này ta sử dụng MS( Murashige and Skood medium , 1962); hoặc sử dụng Knudson C Orchid medium. Hầu hết các loại lan cần lượng khoáng rất ít nên ta sử dụng Knudson C, tuy nhiên môi trường MS quá phổ biến nên người ta thường sử dụng để nhân Lan.

    B. Giai đoạn nhân nhanh:

    Dùng Knudson thường + 0.6mg/L BAP hoặc 1mg/L Kinetin. Tuy nhiên BAP cho kết quả tốt hơn. Cũng có thể dùng 1/2MS vitamins + 0.6mg/L BAP.

    C. Giai đoạn tạo rễ:

    Trong quá trình tạo chồi cây cũng có rễ rồi nên không cần thiết phải thêm Auxins. Có thể thêm 100ml/L nước dừa cho quá trình kích thích tạo rễ.

    – Than hoạt tính nên thêm ở mỗi giai đoạn: từ 2-3g/L

    – Đường đối với Lan này thì 20g/L. Thông thường sử dụng 30g/L vẫn được.

    – pH 5.8

    Trong một bài nghiên cứu khác của Tiến Sỹ Dương Tấn Nhựt, sử dụng môi trường SH.

    A. Giai đoạn khởi tạo chồi: sử dụng SH + 1mg/L BA hoặc BAP sẽ cho kết quả tốt nhất.

    B. gian đoạn sinh trường và phát triển chồi ta sử dụng môi trường SH + 1mg/L BAP + 1mg/L NAA. Việc sử dụng riêng lẻ 1.g/L BAP cũng tạo ra rễ nhưng yếu hơn so với kết hợp NAA. Sự tổng hợp các diệp lục tố giúp sự quang hợp tốt hơn, chồi phát triển nhanh hơn, tăng kích thước và tạo nhiều rễ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Lan Gấm Làm Sạch Không Khí
  • Những Mẫu Hoa Lan Hồ Điệp Cam Siêu Đẹp Tại Hoa Lan Bảo Ngọc
  • Lan Nhện Là Gì Bạn Đã Biết Chưa? Mẹo Chăm Sóc Cây Lan Nhện Hay Bạn Cần Biết
  • Hoa Lan Hải Yến, Hải Yến Đẹp, Rhynchostylis Coelestis Giá Tốt Nhất
  • Cây Hoa Phong Lan Hồ Điệp
  • Cách Trồng Hoa Lan Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Trồng Lan Hồ Điệp Cấy Mô
  • Cách Trồng Lan Vũ Nữ Treo Chậu
  • Mô Tả Và Cách Trồng Lan Hài
  • Bí Quyết Trồng Và Chăm Sóc Cây Lan Giả Hạc Cho Hoa Đẹp
  • Cách Trồng Hoa Lan Hồ Điệp Sau Tết Cần Biết
  • + Vườn ươm cây lan phải đảm bảo sự thông thoáng, cao ráo và sạch sẽ. Trung bình, chiều cao của vườn phải từ 3 đến 3.5m.

    + Phải có lưới che ánh sáng cho vườn lan. Đảm bảo ánh sáng tự nhiên từ 30 đến 50%.

    + Có mái che cẩn thận để cho mưa lớn không thể hắt vào.

    + Trang bị hệ thống tưới phun sương cho cây.

    + Thau để chứa nước rửa cây lan con cho sạch khi vừa mang từ môi trường nuôi cấy ra.

    + Giấy báo, khay để đựng lan.

    + Giá thể trồng lan có thể là xơ dừa, dớn đen hay dớn trắng tùy theo bạn trồng loại lan nào. Ví dụ như Cattleya sẽ thích hợp với giá thể là xơ dừa, còn Hồ Điệp lại phù hợp với dớn trắng.

    + Thuốc trừ nấm cho cây lan như Mancozeb, Dithan,…

    + Vỉ xốp hay vỉ nhựa có lỗ để trồng lan.

    Cây lan giống được nuôi trong chai cấy mô hay hộp nhựa. Sau khi cây đã được phát triển hoàn toàn, khoảng từ 3 đến 4cm, có bộ rễ cân đối với lá thì bạn có thể mang đi trồng.

    4. Các phương pháp tiến hành

    Trước khi trồng bạn phải xử lý giá thể. Tùy theo loại giá thể nào mà phương pháp xử lý cũng có sự khác nhau.

    + Giá thể xơ dừa

    Để trồng lan cấy mô thì xơ dừa bạn phải ngâm nước trong vòng 1 tuần để loại bỏ bớt chất tannin. Cắt thành từng miếng khoảng 5cm. Đập xơ dừa tơi ra và liên tục xả với nước 2 đến 3 lần. Sau đó, đem xơ dừa ngâm với thuốc nấm có nồng độ 1%. Ngâm thuốc nấm từ 3 đến 4 giờ thì bạn có thể sử dụng nó ngay.

    + Giá thể dớn trắng

    Dớn trắng bạn hãy đem ngâm với nước từ 1 đến 2 ngày. Sau đó ngâm thuốc nấm có nồng độ 1% là có thể dùng làm giá thể trồng lan rồi.

    Ngâm nước từ 1 – 2 ngày, sau đó ngâm thuốc nấm ở nồng độ 1% là có thể sử dụng làm giá thể cho cây lan con hậu cấy mô.

    5. Cách chăm sóc khi trồng lan cấy mô

    Trong thời gian 2 tuần đầu tiên sau khi chuyển cây con ra vườn ươm thì bạn không nên bón phân mà chỉ nên tưới nước 2 lần 1 ngày. Chủ động điều chỉnh lượng nước tưới nhiều hay ít tùy theo điều kiện thời tiết mùa mưa hay mùa nắng.

    Bón phân cho cây lan tốt nhất là vào buổi sáng bằng cách hòa với nước rồi phun cho cây. Tùy theo từng giai đoạn khác nhau mà bạn lựa chọn loại phân bón khác nhau.

    *Cây lan sau khi chuyển từ chai cấy mô ra ngoài thì 2 tuần đầu tiên chỉ tưới nước ngày 2 lần.

    *Đến tuần thứ 3 hãy phun vitamin B1 với nồng độ 1ml/lít nước. Thực hiện mỗi tuần 2 lần.

    *Đến tuần thứ 4 trở đi thì phun phân NPK 30-10-10 (nồng độ 0.5 đến 1g/lít nước) kết hợp cùng hữu cơ sinh học BiO-1 (nồng độ 1 đến 2ml/lít nước) và Vitamin B1 (nồng độ 0.5 đến 1ml/lít nước). Phun luân phiên từ 1 đến 2 lần trong tuần.

    Để phòng trừ sâu bệnh thì bạn phun thuốc định kỳ 15 ngày/lần. Loại thuốc trừ bệnh cho lan phổ biến có thể sử dụng như Rhidomil, Aliette, Score, Vicarben, Nativo,… Còn để trừ sâu gây hại cho lan có thể chọn Confidor, Supracide, Decis, B Thái Lan,…

    Sau 4 đến 6 tháng trồng thì cây lan tương đối phát triển và bạn có thể chuyển sang chậu lớn. Cho thêm than vào chậu rồi treo lên giàn, tiếp tục chăm sóc theo đúng hướng dẫn thì cây ra hoa như ý muốn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Trồng Lan Phi Điệp Cấy Mô
  • Cách Trồng Lan Cấy Mô
  • Lan Ngọc Điểm Rừng: Cách Trồng Và Chăm Sóc
  • Cách Trồng Nấm Rơm Bằng Mùn Cưa
  • Phương Pháp Nuôi Trồng Nấm Ăn Dược Liệu Nấm Rơm Đông Trùng Hạ Thảo
  • Quy Trình Nuôi Trồng Lan Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Chăm Sóc Hoa Lan Đai Châu Xanh Tươi Tốt Quanh Năm
  • Lan Đuôi Chồn: Cách Trồng Và Chăm Sóc Chuẩn
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Hoa Lan Đơn Giản Nhất
  • Lan Cù Lao Minh: Nhận Biết, Cách Trồng Và Chăm Sóc
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Hoa Lan Chuỗi Ngọc Như Người Chuyên Nghiệp
  • Tỷ lệ lan cấy mô sống sót sau khi ra chai có thể đạt tới trên 90% nếu chăm sóc đúng theo quy trình và những bước quan trọng trong quá trình nuôi trồng lan cấy mô trong chai và những bước sau khi ra chai sẽ được thể hiện qua bài viết sau.

    Quy trình nuôi trồng lan cấy mô từ chai

    Bước 1: Chọn chai mô giống

    Để có được những cây sau khi ra chai khỏe mạnh ta nên lựa chọn những cây lan có bộ rể dài và mập mạp, khi cây con khỏe mạnh sẽ có bộ rễ phát triển hoàn chỉnh

    Lá cây lan cấy mô có màu xanh đặc trưng của giống mà chúng ta lựa chọn

    Chiều cao cây từ 3-5cm, nếu nhỏ quá cây sẽ khó phát triển

    Cây con không bị bệnh ( không có nấm trắng, bên trong còn thạch) là tiêu chuẩn đầu tiên lựa chọn để ra chai

    Bước 2: Làm quen với mô trường sống bên ngoài vườn trồng

    – Khi đã lựa chọn được những chai giống tốt ta mang chai về và chưa cần phải cho ra chai ngay, nên để yên cây lan trong chai từ 5-10 ngày, nơi có ánh sáng vừa phải, tránh ánh nắng trực tiếp từ mặt trời.

    – Hàng ngày kiểm tra độ ẩm trong chai, xem tình hình sâu bệnh của cây giống.

    Bước 3: Tách cây lan giống ra khỏi chai

    Ở bước này rất quan trọng, bạn sẽ tiến hành lấy cây lan con ra, lúc này bạn có thể tiến hành như sau:

    Cho nước mát vào trong chai rồi lắc nhẹ để tách lớp thạch và cây ra và sau đó dốc ngược và trong thau nước sạch và cho cây tuột ra khỏi chai

    Hoặc có thể tiến hành phá vỡ lớp vỏ chai và lấy trực tiếp cây từ bên trong chai ra, nếu cây lớn trên 5cm thì ta chỉ có thể tiến hành đập chai đi và lấy cây con, tránh làm tổn thương tới bộ rễ

    Ta rửa sạch cả cây và bộ rễ qua nhiều lần nước sạch và hạn chế tối đa làm tổn thương tới bộ rễ, thân, lá.

    Ta nên tiến hành rửa một cách nhanh chóng, trong khoảng 5 phút và hạn chế để cây lâu ở môi trường nước, sẽ làm cho cây dễ bị úng, thối dẩn tới cây bị chết.

    Bước 4: Xử lý cây giống sau khi ra chai

    Ở bước này ta nên xử lý cây trước khi mang cây đi trồng để giúp cây khỏe mạnh và loại bỏ nguần bệnh hại cây.

    1. Thuốc trị nấm (Citizen 75WP ,Thuốc trị nấm bệnh Bordeaux M 25 WP …)

    Liều lượng: 0.5 gam/ 5 lít nước sạch

    2. Ngâm nước có pha kích thích rễ (Phân bón lá Root 2, Thuốc kích rễ N3M …)

    Liều lượng:

    Root 2: 0.8 ml / 5 lít nước sạch

    N3M: 1 gam/ 10 lít nước sạch

    Thời gian xử lý: Ngâm từ 5 – 7 phút

    Sau đó cây ra nhẹ nhàng để ráo nước trên rổ (giữ ẩm cho rễ và lá cây giống không bị héo).

    Bước 5: Chuẩn bị giá thể trồng lan cấy mô

    Ở bước này ta cần lựa chọn những giá thể như sau:

    • Ta nên dùng dớn để trồng lan cấy mô
    • Dớn chile là tốt nhất để trồng những cây lan cấy mô con.
    • Chuẩn bị thêm chậu mô
    • Khau mô là những dụng cụ cần thiết nhất.

    Xử lý giá thể trước khi trồng lan cấy mô:

    Đối với dớn chile sau khi mua về ta tiến hành ngâm giá thể vào trong nước rồi xả thành nhiều lần, đồng thời kết hợp ngâm với nước vôi trong 1 ngày để nước vôi diệt các loại côn trùng hại cây lank hi còn non và rửa lại với nước sạch.

    Bước 6: Trồng cây lan cấy mô vào chậu nhỏ

    Đối với bước này khá đơn giản nhưng cũng là bước cần phải chú ý nhất vì tránh làm tổn thương bộ rễ của cây.

    Sau đó cho các chậu cây vào khay đựng chậu lan mô.

    – Đem ra vườn ươm, (Có che nắng, mưa). Dùng bình xịt tưới nước 2-4 lần/ngày tuỳ theo mùa nắng hay mùa mưa. Chú ý chỉ tưới nước ướt lá, phun sương giữ ẩm cho cây ra rễ mới trong tuần đầu.

    Bước 7: Chăm sóc sau khi trồng lan cấy mô

    Liều lượng chung bón phân thuốc cho cây lan mô: Chỉ pha liều lượng 30% so với liều lượng của nhà sản xuất.

    Tất cả các loại phân thuốc có thể pha chung khi phun cho cây khi tưới.

    – Tuần 1: Phun kích rễ N3M.

    Lịch Phun: Cách 2 ngày tưới 1 lần, phun vào buổi sáng. Phun hết 1 tuần.

    Cách Phun: Phun mù nước cho lá ướt.

    – Tuần 2: Phun phân bón lá Grow more 30-10-10 + Thuốc kích thích rễ N3M.

    Lịch phun: Cách 2 ngày tưới 1 lần, phun vào buổi sáng. Phun hết 1 tuần

    Cách Phun: Phun mù nước cho lá ướt.

    – Tuần 3: Phun phân bón lá Grow more 30-10-10 + Thuốc kích thích rễ N3M + Atonik.

    Lịch phun: Cách 2 ngày tưới 1 lần, phun vào buổi sáng. Phun hết 1 tuần.

    Cách Phun: Phun mù nước cho lá ướt.

    – Tuần 4: Phun phân bón lá Grow more 30-10-10 + Thuốc kích thích rễ N3M + Phân bón lá Vitamin B1

    Lịch phun: Cách 2 ngày tưới 1 lần, phun vào buổi sáng. Phun hết 1 tuần.

    Cách Phun: Phun mù nước cho lá ướt.

    Phân bón cho cây lan cấy mô

    Lan giống cần nhiều đạm để sinh trưởng, nảy chồi ra lá, bón “Npk 30.10.10 + B1” định kỳ 5-7 ngày/ lần; có thể phun thay phiên với “Phân Bón Chuyên Lan” – sản phẩm của Lan Việt, có chứa Npk, Humic USA, môi trường dinh dưỡng cấy mô và một vài nguyên tố trung vi lượng.

    (Lưu ý: liều lượng pha giảm còn 30% so với hướng dẫn, sau 2-4 tuần tăng dần lên 50% ; 70% ; 100%).

    – Bên cạnh phân vô cơ, cũng cần dùng thêm phân hữu cơ giúp lan giống phát triển toàn diện, hấp thụ phân vô cơ tốt hơn; hiện tại dưới vườn Lan Việt đang phun luân phiên với ” Rong biển Seaweed” (dạng gói nhỏ và dạng chai 500ml) và “Humic USA” (dạng bột, tan 100%, 95% humic nguyên chất) thấy cây mau nảy mầm, xanh lá và bộ rễ ra nhanh, khỏe hơn; định kỳ 7-10/ lần.

    – Cuối cùng, đừng bổ sung trung vi lượn giúp cây tránh thiếu chất, không chỉ cây giống mà cả cây trưởng thành cũng cần “Cam Bi Nhật” 3-4 tuần/ lần; các bác muốn lá to có thể bổ sung “Terra – Sorb Foliar”.

    – Ngoài ra có thể cho cây giống ăn thêm phân tan chậm (phân chì Nhật 14.13.13 ; 13.11.11+TE hoặc phân dê).

    Thuốc phòng trừ bệnh cho lan cấy mô

    – Phun luân phiên các loại thuốc trừ nấm sau Ridomil ; Coc85 hoặc Citizen (tránh kháng thuốc) giúp cây giống phòng một số bệnh do nấm; mùa khô định kỳ 3-4 tuần/ lần; mùa mưa định kỳ 1-2 tuần/ lần

    Điều kiện vườn lý tưởng

    + Ngoài yếu tố chăm sóc thì điều kiện vườn cũng rất quan trọng để lan giống phát triển nhanh, khỏe.

    + Tưới nước: mùa khô ngày tưới 2 lần, tưới đẫm vào buổi sáng, chiều khô rồi tưới lại; mùa mưa 1-2 ngày tưới 1 lần.

    + Độ nắng sáng cho vườn giống lan cấy mô là 60-70%; thoáng gió, độ ẩm vừa phải.

    + Có tôn sáng che mưa, các bác có thể ra ngoài mua loại tôn sáng mỏng hoặc nilon che mưa, che thêm một lớp lưới thưa che nắng.

    chúng tôi là trang chia sẻ kiến thức về hoa lan, kinh nghiệm về chơi lan, về trồng lan tại Việt Nam và các nước trên thế giới. Ngoài ra đây còn là trang giới thiệu đến quý khách hàng các giống lan được Trung tâm nông nghiệp Công nghệ cao tại Trường HVNNVN bảo tồn và lai tạo. Chúng tôi cũng cung cấp các sản phẩm giá thể trồng lan, vật tư trồng lan với mức giá tốt nhất trên thị trường. Mời bạn tham khảo TẠI ĐÂY !

    XEM THÊM BÀI VIẾT:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Làm Giàu Nhờ Mô Hình Trồng Hoa Lan
  • Làm Giàu Nhờ Trồng Hoa Lan
  • Anh Văn Thắng Chia Sẻ Cách Làm Giàu Từ Trồng Hoa Lan Đột Biến
  • Kỹ Thuật Trồng Lan Mặt Khỉ Độc, Lạ, Đẹp Lôi Cuốn Để Chưng Tết
  • Hoa Lan Có Hình Mặt Khỉ Dracula Simia
  • Nuôi Cấy Mô Invitro Lan Hài Paphiopedilum

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Giống Lan Hài Đỏ Paphiopedilum Delenatii
  • Phát Triển Cây Giống Năng Suất Cao Từ Công Nghệ Nuôi Cấy Mô Thực Vật
  • Kinh Nghiệm Trồng Lan Hài
  • Bí Kíp Trồng Lan Hài Hiệu Quả Cho Người Mới Nhập Môn
  • Khám Phá Vẻ Đẹp Mới Lạ Của Lan Hài Vân Bắc
  • Nhân giống invitro lan Hài Paphiopedilum:

    Paphiopedilum là một trong những loài lan nổi tiếng và cũng khá hiếm. Các thành viên của loài này được bán và trưng bày dưới dạng chậu cây cảnh và hoa cắt cành. Các quần thể hoang dã của Paphiopedilum đang bị đe doạ bởi sự tuyệt chủng do sự khai thác quá mức và mất môi trường sống thích hợp.

    Xem tất cả bài viết vềinvitro Hoa Lan

    Việc giảm giá trị thương mại thông qua việc nhân giống trong ống nghiệm với quy mô lớn là một giải pháp để giảm áp lực từ việc khai thác bất hợp pháp, cố gắng đáp ứng các nhu cầu thương mại và thiết lập lại các loài bị đe doạ để đưa trở lại hoang dã. Mặc dù Paphiopedilum được nhân giống thương mại hóa thông qua việc nảy mầm không cộng sinh, nhưng vẫn được xem là khó nhân giống in vitro, đặc biệt là sự tái sinh cây con từ nuôi cấy mô. Đánh giá này nhằm mục đích đề cập đến các khía cạnh quan trọng nhất và cập nhật nghiên cứu tiến bộ trong nhân giống in vitro Paphiopedilum đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải tiến thêm các quy trình nuôi cấy mô từ các mẫu cấy ex vitro.

    Giới thiệu phương pháp nhân giống in-vitro Lan Hài Paphiopedilum

    Paphiopedilum Pfitzer (Orchidaceae) thường được biết đến là lan hài vì hoa của chúng có hình cái túi giống như chiếc hài của phụ nữ. Các thành viên của chi này là một trong những loài hoa lan phổ biến nhất và được thương mại hóa dưới dạng những chậu hoa kiểng và hoa cắt cành vì chúng có rất nhiều hình dạng hoa, kích cỡ và màu sắc, đã thu hút sự quan tâm của nhiều người trồng lan và những người chơi lan. Paphiopedilum là một trong những giống lan phổ biến và hiếm được bán và trưng bày ngày nay (Cribb, 1998, Liu và cộng sự, 2009, Sheehan & Sheehan, 1994). Chi Paphiopedilum có khoảng 96-100 loài và phạm vi phân bố của nó trải dài từ phía đông Ấn Độ qua miền Nam Trung Quốc đến Philippines, Đông Nam Á và quần đảo Mã Lai đến New Guinea và quần đảo Solomon (Cribb, 1998; Liu và cộng sự, 2009, World Checklist of Selected Plant Families, 2014, Wu và cộng sự, 2009). Các quần thể tự nhiên đang bị đe doạ bởi sự tuyệt chủng do hậu quả của việc khai thác quá mức và mất môi trường sống thích hợp, và tất cả các loài Paphiopedilum được liệt kê trong Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Phụ lục I. Theo CITES, việc buôn bán các loài này là bị cấm (Zeng và cộng sự, 2012).

    Đến nay đã có 75 nghiên cứu được báo cáo về sự nhân giống in vitro các loài Paphiopedilum và cây trồng, trong đó có gần 32 loài bản địa và hơn 30 giống lai. Tuy nhiên, có 58 nghiên cứu được báo cáo cho sự nảy mầm bằng hạt và hình thành PLB (Protocorm Like Bodies: thể tiền chồi) sau đó. Hầu hết các mẫu nuôi cấy của quá trình vi nhân giống Paphiopedilum được sử dụng có nguồn gốc từ nguyên vật liệu in vitro của giống lai Paphiopedilum và chỉ có ba báo cáo có nguyên vật liệu nguồn gốc từ các mẫu cấy ex vitro.

    Sự nảy mầm không cộng sinh

    Cho đến gần đây, do sự hạn chế trong các quy trình nuôi cấy mô, sự nhân giống thương mại Paphiopedilum của người trồng vẫn còn hoàn toàn thông qua việc nảy mầm không cộng sinh (Hong và cộng sự, 2008). Sự nảy mầm không cộng sinh từ hạt giống Paphiopedilum trưởng thành thường gặp nhiều khó khăn và khác biệt (Pierik et al., 1988, Stimart & Ascher, 1981). Sự nẩy mầm và phát triển của hạt Paphiopedilum chịu ảnh hưởng đáng kể bởi một số yếu tố, bao gồm sự trưởng thành của hạt, tiền xử lý hạt, thành phần môi trường nuôi cấy, điều kiện nuôi cấy và phương pháp nuôi cấy. Một số kết quả thí nghiệm, chẳng hạn như tỷ lệ nảy mầm của hạt giống của cùng một loài trên cùng một môi trường, đã được chứng minh là không nhất quán, ví dụ tỷ lệ nảy mầm của 120 ngày sau khi thụ phấn (DAP) của hạt P. armeniacum là 25.2% (Chen và cộng sự, 2004b) và 18.4% (Ding và các cộng sự, 2004) trên môi trường Robert Ernst (RE, Arditti và cộng sự, 1982).

    Sự nảy mầm từ hạt và sự phát triển mầm đốt thân của Paphiopedilum

    Sự nảy mầm, tăng trưởng của cây con và sự phát triển trong ống nghiệm của Paphiopedilum thường được chia thành 5 giai đoạn: (1A-F, Zeng và cộng sự, 2012): (1) quá trình tách vỏ hạt giống bằng cách phình to của phôi (quá trình nảy mầm); (2) sự xuất hiện của chồi (mô phân sinh non) và/hoặc rễ giả; (3) sự xuất hiện và sự kéo dài của lá thứ nhất; (4) sự hiện diện của một lá và một hoặc nhiều rễ; (5) sự hiện diện của hai hoặc nhiều lá và rễ, hình thành cây con. Tốc độ nảy mầm có thể đơn giản được tính trong mỗi giai đoạn phát triển (tức là mỗi đơn vị thời gian) bằng cách chia số lượng hạt cho số lượng các mầm đốt thân.

    Ảnh hưởng của hạt giống trưởng thành và quá trình tiền xử lý đối với sự nảy mầm không cộng sinh

    Ở hoa lan, phôi hợp tử biệt hóa rất kém, và những mô phân sinh và lá mầm thường không có mặt tại thời điểm sự phát tán hạt (Yeung và cộng sự, 1996). Hiện nay, thông tin về sự phát triển phôi ở các loài Paphiopedilum là rất hạn chế, và chỉ có một vài báo cáo về P. insigne (Nagashima, 1982, Zinger & Poddubnaya-Arnoldi, 1966), P. godefroyae (Ren & Wang, 1987), P Delenatii (Lee và cộng sự, 2006) và P. hirsutissinum, P.appletonianum và P. armeniacum (Zhang và cộng sự, 2013). Những quan sát quan trọng và chi tiết được thực hiện bởi Lee et al. (2006), người phát hiện rằng thụ tinh xảy ra ở khoảng 60 và 75 DAP, hợp tử và mầm phôi có thể được quan sát trong các túi nang, mặc dù kết quả không được định lượng. Trong giai đoạn đầu của hình dạng cầu (90 DAP), sự phân chia tế bào bổ sung đã xảy ra ở lớp bên trong cũng như lớp bề mặt, dẫn đến sự phát triển của phôi hoàn thiện. Tầng nguyên bì rõ rệt đã được tìm thấy ở khoảng 105 DAP, khi 105 DAP, những bào quan nhỏ với các hạt tinh bột, ty thể, lipid và những không bào nhỏ đã được nhìn thấy dễ dàng trong các tế bào của phôi hoàn thiện. Khi phôi đạt đến giai đoạn hình cầu hoàn toàn (150 DAP), hoạt động phân bào ngừng lại. Một lượng lớn không bào trong tế bào chất giảm xuống và tế bào chất trở nên đậm đặc. Lớp vỏ hạt có nguồn gốc từ các tế bào bên trong và bên ngoài của noãn. Các tế bào của các lớp bên trong của vỏ hạt đã hình dạng mảnh mai, trong khi các lớp bên ngoài lại rộng hơn. Trong giai đoạn hình cầu của phôi (150 DAP), lớp ngoài của vỏ bắt đầu co lại và teo lại dần dần, và lớp biểu bì bao phủ toàn bộ phôi và vỏ bên trong noãn và phôi, tạo ra một hàng rào không thấm nước và sự hấp thu chất dinh dưỡng ở hạt giống P. delenatii trưởng thành. Giống như các loài lan khác, không thấy nội nhũ vì vỏ hạt của hầu hết cây lan thường xuất phát từ phần ngoài (Yeung và cộng sự, 1996) mặc dù vỏ hạt của P. delenati có nguồn gốc từ cả phần tế bào bên trong và bên ngoài. Ngoài ra, các hình thái đặc trưng của tế bào vận chuyển và không có lớp biểu bì trong thành tế bào sợi treo đã chứng minh giả thiết rằng sợi treo là điểm hấp thụ dinh dưỡng chính cho phôi phát triển ở P. delenatii (Lee và cộng sự, 2006).

    Dưới các điều kiện nảy mầm thích hợp, phôi hoàn toàn hình thành và vỏ hạt có thể không bị hóa gỗ, cho phép nó có thể thẩm thấu được nước và các chất dinh dưỡng. Hạt 90-DAP chưa trưởng thành của Paphiopedilum wardii không nảy mầm và hóa nâu ngay sau khi cấy và hạt 120-DAP cần khoảng thời gian dài hơn 150-DAP để nảy mầm hoặc để trưởng thành hơn, cho thấy rằng những noãn lan còn non không thích hợp cho sự nảy mầm và có thể cần thời gian cho sự hình thành bộ phận hoặc tổng hợp các chất dinh dưỡng hoặc để giúp phôi nhận ra các chất kích thích có trong môi trường, do đó cho phép chúng nảy mầm (Nhut et al., 2005, Zeng và cộng sự, 2012). Ngoài ra, phôi có thể kém phát triển để hấp thụ chất dinh dưỡng từ môi trường (Long và cộng sự, 2010). 180 hạt DAP của P. wardii có thể nảy mầm tốt nhờ sự huy động protein hiệu quả trong quá trình bù nước và vỏ phôi chưa phát triển (Bảng 1, Rasmussen, 1995, Zeng và cộng sự, 2012). Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Paphiopedilum trưởng thành: vỏ hạt không thấm nước (Van Waes & Debergh, 1986a), sự có mặt của các chất ức chế hóa học như abscisic acid (ABA), hoặc thiếu hormone kích thích sự nẩy mầm (Van der Kinderen, 1987). Trong các điều kiện nảy mầm thích hợp, phôi bào tử của hầu hết các hạt trưởng thành hoàn toàn và vỏ hạt có thể không bị hóa gỗ, cho phép nó có thể thẩm thấu được nước và các chất dinh dưỡng trong khi các hạt trưởng thành có thể có khả năng nhân giống và bảo quản lớn hơn do lớp vỏ hạt đã hoàn thiện và lượng nước thấp hơn (Miyoshi & Mii, 1998, Zhang và cộng sự, 2013).

    Sự nảy mầm của hạt Paphiopedilum và sự phát triển mầm đốt thân được kích thích bằng phương pháp tiền xử lý phù hợp, bao gồm natri hypochlorite (NaOCl) hoặc NaOH (Lee, 2007, Liao & Chen, 2006, Zeng và cộng sự, 2012). Loại, nồng độ của dung dịch tiền xử lý và thời gian tiền xử lý là những yếu tố chính. Zeng và các cộng sự (2012) báo cáo rằng việc xử lý trước hạt giống P. wardii (360 DAP) với dung dịch NaOCl có chứa 0.5% Clo trong 60 phút hoặc 1.0% Clo trong 40 phút làm tang đáng kể tỷ lệ nảy mầm (70.33 và 67.67%) so với các phương pháp tiền xử lý khác và việc kiểm soát (dung dịch 0.1% HgCl2) và tất cả phương pháp tiền xử lý đã rút ngắn đáng kể thời gian cho sự nảy mầm. Việc tiền xử lý bằng NaOCl, NaOH hoặc Ca(OCl)2 có thể đã ăn mòn vỏ hạt và tăng tính thẩm thấu của hạt với oxy và các chất dinh dưỡng (Major & Wright, 1974, Rasmussen, 1995 Van Waes & Debergh, 1986 a, b), trong khi các chất ức chế như ABA có thể bị giảm trong hạt (Lee, 2007, Van der Kinderen, 1987). Tỷ lệ nảy mầm của hạt thấp hoặc không nảy mầm có thể là vì hạt bị hư hại do thời gian xử lý với NaOCl quá dài (Kaneko & Morohashi, 2003).

    Hình 1. Nuôi cấy in vitro, phát triển cây con và đưa Paphiopedilum wardii Sumerh trở lại môi trường tự nhiên. (A) giai đoạn 0, hạt giống, không nảy mầm. (B) Giai đoạn 1, tvỏ hạt bị vỡ. (C) Giai đoạn 2, xuất hiện của rễ giả. (D) Giai đoạn 3, sự xuất hiện và sự kéo dài của lá thứ nhất. (E) Giai đoạn 4, một lá và xuất hiện rễ. (F) Giai đoạn 5, có hai hoặc nhiều lá. (G) Sự nảy mầm không cộng sinh trên môi trường 1/2 MS được bổ sung với NAA 0.5 mg/L, 10% CW (v/v) và 1.0 g/L AC. (H) và (I) Phát triển cây con trên môi trường Hyponex N026 bổ sung với NAA 1.0 mg/L, 10% CW và 1.5 g/L AC. (J) Sự phát triển của cây con trên môi trường Hyponex N016 chứa 1.0 mg/L NAA, 50 g/L BH và 1.5 g/L AC. (K) Cây hoa từ cây con in vitro trong nhà kính. (L) Thiết lập các cây con in vitro trong 12 tháng sau khi tái giới thiệu.

    Ảnh hưởng của môi trường nuôi cấy lên sự nảy mầm không cộng sinh

    Ảnh hưởng của môi trường cơ bản và pH

    Bảng 1. Ảnh hưởng của mức độ trưởng thành hạt giống của Paphiopedilum lên sự nảy mầm trong ống nghiệm.

    Xem ở bài viết gốc: https://khonggiansinhhoc.com/nhan-giong-vitro-lan-hai-paphiopedilum/

    Tác động của nhiều môi trường khoáng chất cơ bản đã được thử nghiệm trên sự nảy mầm in vitro của hạt Paphiopedilum. Sự nảy mầm của hạt và phát triển cây con của Paphiopedilum bị ảnh hưởng mạnh bởi thành phần khoáng chất của môi trường cơ bản (Bảng 2). Hầu hết các loài Paphiopedilum thích môi trường khoáng thấp để nảy mầm hạt và sự ức chế nảy mầm của Paphiopedilum trên môi trường Murashige và Skoog (MS, Murashige & Skoog, 1962) có thể là do hàm lượng khoáng cao (Chen et al., 2004a; Ding et. Al., 2004, Long et al., 2010, Pierik và cộng sự, 1988), như là 1/2, 1/4, 1/6, 1/5 hoặc 1/8 MS (nghĩa là /2, 1/4, 1/6, 1/5 hoặc 1/8 lượng chất dinh dưỡng vi chất và vĩ mô) đã được chứng minh phù hợp hơn (Ding và cộng sự, 2004, Lee & Lee, 1999, Zhou và cộng sự, 2013).

    Môi trường lý tưởng cho sự nảy mầm của cùng một loài Paphiopedilum là khác nhau. Ví dụ, Nhut et al. (2005) báo cáo hạt giống 9 tháng tuổi của P. delenatii được nuôi cấy trên môi trường Knudson C (KC) (Knudson, 1946), là tối ưu cho sự nảy mầm in vitro so với môi trường MS hoặc 1/2 MS. Tương tự, đối với P. wardii cho thấy sự nảy mầm là thấp hơn đáng kể trên môi trường MS so với môi trường MS 1/2 (Zeng et al., 2012). Tuy nhiên, khoáng chất không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến sự nảy mầm của P. wardii bởi vì tỷ lệ nảy mầm của hạt thấp hơn đáng kể ở môi trường 1/4 MS – chứa hàm lượng khoáng chất thấp hơn so với môi trường 1/2 MS. Tuy nhiên, thành phần môi trường chính xác và tỷ lệ các khoáng chất khác nhau cũng có một ảnh hưởng đáng kể đến sự nảy mầm hạt P. wardii và phát triển cây con của P. wardii. Chẳng hạn, sự nảy mầm của hạt giống cao nhất là trên môi trường Vacin và Went (VW, Vacin & Went, 1949), nhưng chỉ có 14% mầm đốt thân phát triển thành cây con ở giai đoạn 5, thấp hơn đáng kể so với môi trường 1/2 MS và Hyponex N026, trong đó 52% các mầm đốt thân ở giai đoạn 2 đã chết (Zeng và cộng sự, 2012).

    Pierik et al. (1988) báo cáo sự nảy mầm của P. ciliolare cao nhất trên môi trường KC và 1/4 MS và thấp hơn nhiều trên môi trường MS; KC dẫn đến cái chết của thực vật. Môi trường Thomale GD1 (Thomale, 1954) được sửa đổi đã cho thấy sự phát triển mầm đốt thân và tăng trưởng cây non cao hơn môi trường 1/4 MS. Sự nảy mầm của hạt P. ciliolare thấp hơn đáng kể trên môi trường 1/4 MS, mà chứa 3/4 hoặc toàn bộ muối vi lượng (trừ sắt) so với môi trường không có vi chất dinh dưỡng, nhưng sự nảy mầm của P. ciliolare không khác biệt đáng kể ở 1/4 MS chứa 1/4-, 1/2-, 3/4- hoặc toàn bộ các chất dinh dưỡng vi lượng. Sự nảy mầm của P. ciliolare không ảnh hưởng đáng kể bởi nồng độ NaFeEDTA, ở nộng độ 25 mg/L là tối ưu. Sự phát triển của cây được thúc đẩy mạnh mẽ bởi sắt, và tất cả các mầm đốt thân và cây con chết trong quá trình xử lý ánh sáng trong môi trường không chứa sắt.

    Trong hầu hết các nghiên cứu Paphiopedilum, sự nảy mầm của hạt có thể đạt được ở pH 5.0-6.0 (Ernst, 1975, 1980, Fast, 1971, Flamee, 1978; Thomale, 1957, Zeng và cộng sự, 2012). Pierik et al. (1988) báo cáo rằng pH (5.5, 6.0, 6.5 và 7.0) của môi trường hầu như không ảnh hưởng đến sự nảy mầm của P. ciliolare, phản ứng tốt hơn ở pH 5.5 và 6.0, mặc dù không đáng kể, so với pH 6.5 và 7.0 . Hơn nữa, phát triển dưới ánh sáng rõ ràng là tốt hơn ở pH thấp, và pH 7.0 gây ức chế mạnh mẽ đến sự phát triển của cây con (Pierik và cộng sự, 1988).

    Nguồn carbon

    Carbohydrate như một nguồn năng lượng trong môi trường nuôi cấy vừa và chất thẩm thấu có ảnh hưởng đáng kể đến sự nảy mầm của Paphiopedilum và sự phát triển mầm đốt thân. Sự nảy mầm của hạt Paphiopedilum không xảy ra nếu không có đường (Fast, 1971, Pierik và cộng sự, 1988). Sucrose là nguồn carbon sử dụng nhiều nhất cho sự nảy mầm của cây lan Paphiopedilum (Chen và cộng sự, 2004a, Ding và cộng sự, 2004, Hossain và cộng sự, 2013, Zeng và cộng sự, 2012). Tuy nhiên, các nguồn carbon khác bao gồm glucose, fructose, maltose và mannitol, cũng được sử dụng trong một số nghiên cứu (Long et al., 2010 Pierik et al., 1988). Pierik et al. (1988) báo cáo rằng sự nẩy mầm cao nhất (48%) trên môi trường Thomale đã biến đổi với nồng độ đường thấp nhất (0.5% glucose + 0.5% fructose), cao hơn đáng kể so với môi trường với 1.0% glucose + 1.0% fructose (37%) hoặc trên môi trường có 1.25% đường glucose + 1.25% fructose (29%), nhưng không cao hơn đáng kể so với môi trường 0,75% glucose + 0.75% fructose (41%). Long et al. (2010) báo cáo tỷ lệ nảy mầm cao hơn đáng kể (19%) của P. villosum var. densissimum trên môi trường bổ sung 2 g/L glucose so với môi trường bổ sung 2 g/L sucrose, hoặc môi trường bổ sung maltose 2 g/L hoặc malnose (0.08%). Maltose là một nguồn đường hiệu quả cho sự tăng trưởng của cây Oncidium “Vũ nữ” (Jheng et al., 2006) mặc dù Long et al. (2010) nhận thấy rằng maltose ít hiệu quả hơn glucose hoặc sucrose trong việc thúc đẩy sự nảy mầm của Paphiopedilum.

    Chất điều hòa tăng trưởng thực vật

    Các chất điều hòa tăng trưởng thực vật khác nhau có những ảnh hưởng khác nhau đến sự nảy mầm của các loài lan khác nhau (Teixeira da Silva, 2013a). Hầu hết hạt giống Paphiopedilum có thể nảy mầm bình thường khi không có PGR( plant growth) ngoại sinh. Hegarty (1955) đã quan sát tác động kích thích của indolo-3-butyric acid (IBA) đối với sự nảy mầm của giống lai Paphiopedilum, Pierik et al. (1988) cũng nhận thấy auxin (0,001-1,0 mg/L indolo-3-acetic acid (IAA) và 0.001-1.0 mg/L IBA] có tác dụng kích thích nhẹ, nhưng không có cytokinin và những hợp chất khác như PBOA (phenylboronic acid), đã được sử dụng để kích thích sự hình thành mô sẹo và PLB (Lin et al., 2000, Long và cộng sự, 2010, Luan và cộng sự, 2012, Stewart & Button, 1975). PGRs phù hợp nhất là 2,4-D, TDZ hoặc sự kết hợp của chúng. Stewart & Button (1975) đã báo cáo rằng chồi đỉnh có thể tạo ra mô sẹo trên môi trường Heller (Heller, 1965) có chứa 1,0 mg/L 2,4-D có hoặc không có 0,5 mg/L BA. Lin và cộng sự (2000) báo cáo rằng mô sẹo toàn năng của một giống lai Paphiopedilum (P. callosum ” Oakhi ” P. lawrenceanum ” Tradition “) có thể được kích thích từ mầm đốt thân của hạt giống trên môi trường 1/2 MS bổ sung 1-10 mg/L 2,4-D và 0,1-1 mg/L TDZ trong bóng tối. Luan và cộng sự (2012) cũng báo cáo ở môi trường 1/2 MS bổ sung 10 mg/L 2,4-D và 0,1 mg/L TDZ là phù hợp nhất cho sự kích thích mô sẹo của P. delenatii và P. callosum. Trong nghiên cứu của Lin và cộng sự (2000), trên môi trường không có PGR, mô sẹo nuôi cấy cấp 2 cho thấy sự phát triển nhỏ và cuối cùng bị nâu và hoại tử. Các hiện tượng tương tự đã được quan sát thấy trong mô sẹo được duy trì trên môi trường chỉ chứa TDZ hoặc 2,4-D; các mô sẹo nuôi cấy cấp 2 bắt đầu tăng sinh và tăng trọng lượng, sau đó bị hóa nâu và hoại tử. Mô sẹo nuôi cấy trên môi trường chứa cả 2,4-D và TDZ tăng sinh tốt và sau đó được tái sinh trên môi trường được thiết lập để tái tạo cây con. Những môi trường được bổ sung với 5 mg/L 2,4-D và 1 mg/L TDZ đã được chọn làm môi trường duy trì tiêu chuẩn cho sự tăng sinh của mô sẹo toàn năng vì có tốc độ tăng trưởng tốt nhất. Mô sẹo toàn năng có thể phát triển trên môi trường duy trì này trong 3 năm mà không bị mất khả năng tái sinh chồi. Các mô sẹo đã phát triển, hình thành các PLBs và cuối cùng là các cây con mà có thể được chuyển vào chậu và phát triển tốt. Những mô sẹo nhỏ hình thành trên môi trường có chứa 1 mg/L 2,4-D hoặc 100 mg/L PBOA một mình, thì không tăng sinh và cuối cùng chết trong các lần nuôi cấy tiếp theo. Trong tất cả các sự kết hợp khác của PBOA và TDZ, đều không có sự hình thành mô sẹo. Chỉ một mình TDZ không thể kích thích mô sẹo. Tuy nhiên, những mẫu mô của thân, đầu rễ và lá của bất cứ cây lai Paphiopedilum nào (P. henryanum ‘# 19’ ‘P. philippinense’ ‘# 10’ ‘) cũng không tạo ra mô sẹo hữu hiệu khi được nuôi cấy trên các môi trường nói trên cũng như trên các môi trường nuôi cấy khác (Lin và cộng sự, 2000).

    Hong và các cộng sự (2008) báo cáo rằng hạt giống từ quả nang xanh 5 tháng tuổi của một loài lan Maudiae, P. Alma Gavaert, có thể hình thành mô sẹo toàn năng trên môi trường 1/2 MS bổ sung với 22,60μM 2,4-D (5,0 mg/L) và 4,54 μM (1,0 mg/L) TDZ trong bóng tối. Mô sẹo được tăng sinh và duy trì mà không có bất kỳ hình thái học nào khác trên cùng một môi trường với khoảng thời gian 2 tháng nuôi cấy cấp 2 trong hơn 2 năm.

    Ng & Saleh (2011) báo cáo sự kích thích của mô sẹo từ các mẫu mô đốt thân của của cây con P. rothschildianum in vitro được nuôi cấy trên 1/2 MS bổ sung 4 μM (0,86 mg/L) Kn và 2 g/L peptone. Các mô sẹo được kích thích có thể tăng sinh và hình thành PLBs từ bề mặt của mô sẹo tăng sinh khi được nuôi cấy cấp 2 trên cùng một môi trường. Số lượng trung bình cao nhất của PLB thứ cấp được tạo thành trên môi trường 1/2 MS bổ sung 4.0 μM (0.86 mg/L) Kn là 4.1 PLBs/ mẫu mô sau 8 tuần nuôi cấy. Ngược lại, việc bổ sung BA đã ức chế sự kích thích của sự hình thành PLB thứ cấp. PLBs thứ cấp tiếp tục tăng sinh và hình thành 9.5-12.1 PLBs/PLB thứ cấp sau khi nuôi cấy lần 2 trên môi trường 1/2 MS không PGR được bổ sung với 60 g/L BH.

    Ng & Saleh (2011) đã thử nghiệm môi trường 1/2 MS với các nồng độ khác nhau của BH, PH và TH (tương ứng 15, 30, 45 hoặc 60 g/L) hoặc 5, 10, 15 và 20% CW trên sự hình thành PLB. Ở nồng độ 20% (v/v) CW là sự bổ sung hữu cơ hiệu quả nhất để tạo điều kiện cho sự hình thành PLB ở P. rothschildianum và sự biệt hóa thành các cây con sau đó.

    Nhân chồi

    Các PGR bao gồm auxin (2,4-D và NAA), cytokinin (BA, TDZ, zeatin và Kn) và các hợp chất khác như 2iP được sử dụng để nhân chồi. Huang (1988) đã báo cáo rằng chồi bất định và cây con có thể phát triển từ những đỉnh chồi của giống lai Paphiopedilum (P. philippinense P. Susan Booth) in vitro và môi trường MS bổ sung với 3.0 mg/L 2iP, 0.1 mg/L NAA, 30 mg/L adenine sulfate và 15% CW có hiệu quả cho sự hình thành và phát triển các mẫu mô vô trùng, trong khi môi trường MS có bổ sung 100 mg/L BA (mức BA này là độc đối với hầu hết các cây) có thể được dùng để nhân chồi bằng cách gia tăng phân nhánh ở nách (Huang, 1988, Wu và cộng sự, 2012).

    Huang và cộng sự (2001) phát hiện ra rằng TDZ không hiệu quả hơn BA cho sự tăng sinh chồi và sự hình thành rễ của ba giống lai Paphiopedilum (P. philippinense x P. Susan Booth, P. bellatulum ” Big spot ” x P. Jo Ann Wine, P. micranthum x P. Glaucophyllum). Số lượng chồi giống lai Paphiopedilum tăng gấp đôi mỗi 12 tuần khi xử lý với 13 µM (2.93 mg/L) BA và NAA 1.6 µM (0.3 mg/L), trong khi đó TDZ ức chế sự tang sinh chồi của các giống lai tương tự. NAA cũng không có lợi cho sự hình thành chồi, nhưng hơi ức chế khi ở nồng độ cao nhất (1.0 mg/L).

    Chen và cộng sự (2002) báo cáo rằng môi trường nuôi cấy 1/2 MS được bổ sung TDZ nồng độ 0.45 hoặc 4.45 µM (0.1 hoặc 1.0 mg/L), hoặc 4.52 hoặc 45.25 µM (1.0 hoặc 10.0 mg/L) 2,4-D, một mình hoặc kết hợp, có thể kiểm soát sự phát triển của quá trình nhân chồi từ các mẫu mô đốt thân của giống lai P. philippinense (PH59, PH60). Môi trường 1/2 MS bổ sung với sự kết hợp của 4.52 µM (1.0 mg/L) 2,4-D và 0.45 µM (0.1 mg/L) TDZ kích thích tỷ lệ phần trăm cao hơn của các mẫu mô với chồi và tăng số lượng chồi/mẫu mô nhiều hơn so với môi trường không có PGR ở giống lai PH59. Ở giống lai PH60, mặc dù tỷ lệ phần trăm của các mẫu mô tạo thành các chồi đã tăng lên đáng kể trên môi trường nuôi cấy 1/2 MS được bổ sung với 4.52 µM 2,4-D (1.0 mg/L) và 0.30 µM (0.1 mg/L) TDZ, số lượng chồi/mẫu mô cao nhất có thể đạt được với 4.52 µM (1.0 mg/L) 2,4-D, nhưng không có TDZ. Tuy nhiên, Luan và cộng sự (2012) cho thấy môi trường 1/2 MS được bổ sung 0.5 mg/L TDZ và 0.1 mg/L NAA là phù hợp nhất cho sự tăng sinh chồi nụ của P. delenatii và P. callosum.

    Hong và các cộng sự (2008) đã báo cáo một quy trình thích hợp cho sự kích thích PLB của chúng tôi Gavaert từ mô sẹo có nguồn gốc từ hạt trên môi trường 1/2 MS với 2.69 µM (0.5 mg/L) NAA kết hợp với 0.45 µM (0,1 mg/L) TDZ. Khi chuyển sang môi trường 1/2 MS bổ sung NAA 26.85 µM (5.0 mg/L), trung bình đạt 4.4 PLB/chồi nụ được hình thành từ mỗi mẫu mô sau 120 ngày nuôi cấy. Nồng độ PGR thích hợp để nhân chồi là 4.65 µM (1.0 mg/L) Kn, mà trung bình có thể kích thích 3.0 chồi từ một chồi non duy nhất sau 60 ngày nuôi cấy.

    Long và các cộng sự (2010) báo cáo rằng chiều dài và số lượng chồi của bốn loài Paphiopedilum spp. bị ảnh hưởng bởi nồng độ và sự kết hợp của cytokinin và auxins được thêm vào môi trường. Không có lợi thế bằng cách thay thế BA bằng TDZ cho kích thích sự hình thành chồi ở cả 4 loài. Một nồng độ BA tương đối cao làm tăng số lượng chồi ở P. villosum var. densissimum và P. armeniacum nhưng giảm số lượng chồi ở P. insigne. BA ở nồng độ 3.5 mg/L gây hoại tử lan rộng ở mẫu mô P. insigne. Cơ chế hình thành cơ quan cao nhất của Paphiopedilum spp. xảy ra với sự kết hợp khác nhau của cytokinin và auxin trong môi trường. Số lượng chồi cao nhất của P. armeniacum với 4.0 mg/L BA và 0.1 mg/L NAA, với 1.0 mg/L BA và NAA 0.5 mg/L đối với P. insigne, với 3.0 mg/L BA và 1.0 mg/L NAA hoặc với 6.0 mg/L BA và 0.1 mg/L NAA cho P. villosum var. densissimum và với 5.5 mg/L BA và 0.5 mg/L NAA cho P. bellatulum.

    Nhut và các cộng sự (2007) đã báo cáo rằng TDZ kích thích ra chồi gây ra ở P. delenatii có hiệu quả hơn BA hoặc zeatin, với 75% các đoạn đốt thình thành các chồi khi nuôi cấy trên môi trường MS biến đổi bổ sung với 1.5 mg/L TDZ sau 30 ngày nuôi cấy. Khi các mẫu mô cấy được nuôi cấy trên môi trường MS biến đổi bổ sung với BA 2.0 mg/L hoặc 1.5 mg/L zeatin, 54.5 và 58% các mẫu mô, hình thành chồi tương ứng.

    Liao và các cộng sự (2011) báo cáo rằng lát cắt ngang của các giống lai Paphiopedilum (P. Deperle và P. Armeni White) có thể kích thích chồi bất định và tái sinh thành toàn bộ cây trên môi trường MS biến đổi bổ sung với 4.43 µM (1.0 mg/L) BA và 4.52 µM (1.0 mg/L) 2,4-D, hoặc trên môi trường MS biến đổi bổ sung với 44.39 µM (10.0 mg/L) BA và 26.85 µM (5.0 mg/L) NAA. Liao và các cộng sự (2011) phát hiện ra rằng các phần của nụ hoa dài từ 1.5-3.0 cm P. Deperle có thể tạo ra chồi, nhưng chỉ có các phần của nụ hoa ≥ 2.5 cm từ P. Armeni White có thể tái sinh. Các quan sát bằng kính hiển vi cho thấy lá bắc nhỏ ở cuống hoa bao bọc một nụ hoa thu nhỏ mới mà phát triển thành nụ hoa hoàn chỉnh với các mô tương tự như mô phân sinh dạng vòm có thể dẫn đến sự kích thích của thực vật. Sự lặp lại mô hình này đã dẫn đến cấu trúc cụm hoa duôi bò cạp ở loài Paphiopedilum đa hoa, và không cho kết quả lặp lại như trên đối với một hoa đơn lẻ.

    Nhut và các cộng sự (2005) báo cáo rằng trạng thái vật lý của môi trường (lỏng hoặc bán rắn) ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành chồi ở các cây con bị thương in vitro của P. delenatii. Khi không bị chìm hoàn toàn trong môi trường nuôi cấy, cây con bị thương có thể lấy thành phần dinh dưỡng và PGR dễ dàng hơn trong môi trường lỏng. Điều này đã kích thích sự biệt hóa của mô bị ảnh hưởng và kết quả là số lượng chồi/mẫu mô ra nhiều hơn từ những cây con bị thương in vitro của P. delenatii. Trong môi trường bán rắn có chứa NAA 0.5 mg/L, số lượng chồi được hình thành mới có xu hướng giảm (từ 2.3 đến 0 chồi/mẫu mô) khi nồng độ TDZ tăng lên (0.25-2.5 mg/L). Ngược lại, số lượng chồi được hình thành trong môi trường lỏng tăng lên (từ 1.2 đến 3.0 chồi/mẫu mô) đáng kể khi mức độ TDZ tăng lên. Kết quả cho thấy những ảnh hưởng của TDZ đối với các mẫu mô phụ thuộc đáng kể vào các tính chất vật lý của môi trường. Trên môi trường lỏng hoặc bán rắn chứa 0.5; 1.0 hoặc 3.0 mg/L TDZ, không có auxin NAA, ảnh hưởng của môi trường lỏng lên sự tái sinh chồi tốt hơn môi trường bán rắn. Khi TDZ được sử dụng ở mức 1.0 mg/L, số lượng chồi/mẫu mô được hình thành (5.2 chồi/mẫu mô) trong môi trường lỏng lớn gấp gần 5 lần so với môi trường bán rắn (1.1 chồi/mẫu mô) và lớn hơn hai lần (2.2 chồi/mẫu mô) so với môi trường có chứa auxin, cho thấy rằng auxin có thể đóng vai trò ức chế trong môi trường lỏng.

    Nhut và các cộng sự (2005) thấy rằng không có chồi nào được hình thành trong kiểm soát việc xử lý với các chồi không bị thương trong ống nghiệm của cây con P. delenatii trong tất cả các loại môi trường thử nghiệm. Trung bình có 2.3 chồi khỏe mạnh thu thập được từ những cây con đã được nuôi cấy trên môi trường MS rắn có chứa 0.25 mg/L TDZ và NAA 0.5 mg/L, bước tạo vết cắt trên chồi là điều kiện tiên quyết cho sự hình thành chồi ở cây con. Các tế bào bị thương ở khu vực bị hư hỏng có thể đã phản ứng dễ dàng hơn với các tác nhân kích thích như PGRs nhất định có trong môi trường, cho phép biệt hóa thành những chồi bất định.

    Ng và các cộng sự (2010) báo cáo rằng thể chồi có thể được kích thích thành công từ các mô đốt thân và mô chồi đơn của P. rothschildianum được nuôi cấy trên môi trường 1/2 MS không có PGRs và nitơ hữu cơ (kiểm soát). Số lượng thể chồi tăng thêm bằng cách bổ sung vào môi trường nuôi cấy với nitơ hữu cơ (peptone và tryptone-peptone). Số lượng chồi nhân nhiều nhất đã hình thành trên các mô đốt thân được nuôi cấy trên môi trường 1/2 MS và bổ sung 1.0 g/L peptone với trung bình 2.9 chồi/mẫu mô sau 16 tuần nuôi cấy; Tuy nhiên, số lượng chồi cao nhất được hình thành trên môi trường bổ sung với 2.0 g/L tryptone-peptone với trung bình 2.8 chồi hình thành trên mỗi mẫu chồi đơn. Ngược lại, peptone không kích thích hiệu quả sự hình thành thể chồi từ các mẫu chồi non, trừ ở nồng độ thấp (0.5 gg/L). Việc bổ sung một lượng peptone lớn hơn (1.0 và 2.0 g/l) đã ức chế sự hình thành thể chồi.

    Kích thích rễ

    Sự kích thích rễ dễ dàng đạt được trong quá trình nuôi cấy in vitro của Paphiopedilum, và có thể được thúc đẩy bằng cách bổ sung chất hữu cơ và/hoặc PGRs (Huang và cộng sự, 2001, Zeng và cộng sự, 2013). Hong và các cộng sự (2008) báo cáo rằng PGR thích hợp cho sự ra rễ là NAA 26.85 µM (5.0 mg/L). Huang và cộng sự (2001) thấy rằng sự ra rễ đã được tăng mạnh bởi 1.6 µM (0.3 mg/L) và NAA 5.4 mM (1.0 mg/L). Huang và cộng sự (2001) cũng báo cáo rằng CW và HC làm tăng sự hình thành rễ, 15% (v/v) CW và 1.0 g/L HC là phù hợp nhất. Sucrose là tốt hơn cho sự ra rễ so với maltose, sự ra rễ ít xảy ra ở tất cả các nồng độ maltose, trong khi sucrose tăng cường ra rễ ở 0.18 M (62 g/L), nhưng đã ức chế ra rễ ở nồng độ cao hơn (0.26 M hoặc 89 g/L).

    Thiết lập chế độ chăm sóc ex vitro và vườn ươm

    Các bình nuôi cấy có chứa cây con hoặc cây con Paphiopedilum vi nhân giống in vitro thường được chuyển sang điều kiện tự nhiên từ buồng nuôi cấy trong khoảng 1-2 tuần trước khi chúng được đưa ra vườn ươm, mà có thể tăng khả năng thích ứng với môi trường bên ngoài, điều này rất hữu ích cho các dự án đưa loài lan Paphiopedilum trở lại tự nhiên (Chen và cộng sự, 2004b, Zeng và cộng sự, 2012). Các môi trường nuôi cấy cho lan thường bao gồm những viên gạch vỡ, đá núi lửa, rong rêu, than bùn, đá Zhijing (có tính chất giữ nước tốt hơn đá bình thường), vỏ cây và các môi trường hỗn hợp khác. Trong môi trường nhà kính có độ ẩm không khí cao, khoảng 60% cây con P. villosum var. Densissimum sống sót trên nền giá thể than bùn với rêu (Long et al., 2010). Zeng và các cộng sự (2012) báo cáo rằng môi trường hỗn hợp hoặc là sự kết hợp cả hai (Norikane và cộng sự, 2013), có thể tạo điều kiện nảy mầm hạt giống và kích thích tạo sinh khối ở hoa lan, điều này có thể rất hữu ích cho việc nhân giống in vitro Paphiopedilum do tốc độ nhân giống in vitro và tăng trưởng chậm của Paphiopedilum. Tuy nhiên, vẫn chưa có báo cáo về phương pháp sử dụng đèn LEDs và làm giàu CO2 được áp dụng trên nuôi cấy in vitro của Paphiopedilum.

    Thông tin liên hệ

    SBC Scientific

    Hotline: 0945677929

    Email:[email protected]

    Oleh Nuôi Cấy Mô Thực Vật

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Tồn Lan Hài Việt Nam
  • Phân Tích Phong Lan Hạc Vỹ Và Các Giá Trị Ẩn Chứa Bên Trong
  • Tư Vấn Cho Bạn Về Loài Hoa Phong Lan Hạc Vỹ Có Những Đặc Thù Riêng Biệt Nào
  • Lan Hạc Vĩ Rủ Đẹp Như Trong Như Vườn Cổ Tích Ở Điện Biên
  • Cây Hoa Lan Hạc Vỹ: 7 Yếu Tố Quan Trọng Khi Chăm Sóc Cây Khỏe Mạnh
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100