Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Khoai Mì

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Bón Npk: Npk Lào Cai Chuyên Dùng Cho Cây Chè
  • Công Ty Tnhh Logistics Tín Đạt
  • Các Loại Phân Npk Trên Thị Trường
  • Phân Bón Npk Phát Triển Thân Lá Cành Minro 30
  • Top 6 Loại Phân Bón Npk Tốt Và Được Sử Dụng Nhiếu Nhất 2021
  • 1. KỸ THUẬT TRỒNG CÂY KHOAI MÌ 1.1 Chuẩn bị giống

    – Giống khoai mì có năng suất cao: KM 60, KM 95, SM 937-26; KM 98-1, KM 98-5, KM 140, KM94 (giống KM94 hiện nay đang bị nhiễm bệnh xì mủ nặng). – Hom khoai mì lấy từ 1/3 ở đoạn giữa thân, chiều dài 15 – 20 cm, đạt 4 – 6 mắt, dùng dao sắc để chặt và tránh làm hom bị dập.

    – Xử lý hom trước khi trồng bằng cách nhúng vào các dung dịch thuốc diệt nấm (Ridomil, Antracol…) hoặc nước vôi 5% trong 5 – 10 phút, sau đó vớt ra để ráo thuốc rồi đem trồng.

    1.2 Thời vụ trồng

    Trồng khoai mì có 2 vụ:

    * Vụ 1: Trồng từ tháng 4 đến tháng 5 và thu hoạch vào tháng 1 đến tháng 3 năm sau.

    * Vụ 2. Trồng vào tháng 10 đến tháng 11; thu hoạch vào tháng 9 , 10 năm sau.

    2. BIỆN PHÁP CANH TÁC

    2.1. Làm đất:

    – Đất trồng khoai mì nhất thiết phải được chuẩn bị kỹ trước khi trồng, các công việc bao gồm: thu dọn rễ cây và tàn dư thực vật, san lấp mặt bằng; xử lý cỏ dại.

    – Khoai mì cần đất tơi xốp, sâu để rễ, củ phát triển. Cày sâu 20 cm, cày 2 lần, mỗi lần cách nhau 10 – 15 ngày, bừa 2 lần (lần 1 sau khi cày lật đất lần 1 khoảng 7 – 15 ngày và lần 2 sau khi cày lần 2, khoảng 5 – 7 ngày). Kết hợp bón lót phân hữu cơ sinh học Hiếu Giang Better HG 01.

    – Không lên luống theo chiều dốc của đất, nước sẽ rửa trôi dinh dưỡng.

    2.2 Bảo vệ đất

    Việc chống xói mòn trên đất dốc trồng khoai mì là rất cần thiết, vì vậy khi trồng khoai mì trên đất dốc cần thực hiện các biện pháp chống xói mòn như: trồng theo đường đồng mức, trồng xen các cây họ đậu hay phủ rơm rạ ở gốc.

    2.3. Phương pháp và mật độ trồng.

    Phương pháp trồng:

    Trồng hom nằm ngang trên những diện tích đất tương đối bằng phẳng hoặc hom xiên

    Ngoài ra, nếu trồng vào vụ cuối mưa, ẩm độ đất thấp thì nên trồng hom đứng.

    Khoảng cách và mật độ trồng:

    – Đất tốt và trung bình trồng với khoảng cách 1,0 x 1,0 m (tương đương với 10.000 cây/ha),

    – Trồng xen có thể trồng với các khoảng cách giữa các hàng và cây khoai mì là 1,2 x 0,6 m/cây hoặc 1,2 x 0,8 m (tương đương với 11.000 cây và 14.000 cây/ha)

    3.1 Dặm hom

    Khoảng 20 ngày sau trồng nếu đất còn độ ẩm thì dặm lại các hom không nẩy mầm hoặc hom yếu.

    3.2 Bón phân

    Lượng phân sử dụng cho 1ha:

    – Phân hữu cơ sinh học Hiếu Giang Better HG 01 500 kg-1.000kg/ha. Bón phân hữu cơ sinh học Hiếu Giang Better, giúp cung cấp một lượng dinh dưỡng đồng thời giúp đất xốp, giữ nước, giữ phân tốt hơn.

    – Phân hóa học:

    Sử dụng loại phân bón Hiếu Giang Better NPK 16-12-8-11+TE và phân Better NPK 12-12-17-9+TE , thời gian và lượng phân bón sử dụng như sau:

    – Thời gian bón:

    + Bón lót toàn bộ phân hữu cơ sinh học Hiếu Giang Better HG01 + 100 kg super lân

    + Bón thúc lần 1 từ 25 – 30 ngày sau trồng (100-150kg Better NPK 16-12-8-11+TE)

    + Bón thúc lần 2 từ 50 – 60 ngày sau trồng ( 150-200kg Better 12-12-17-9+TE).

    – Thời điểm bón:

    Bón khi đất đủ độ ẩm, tránh bón phân vào lúc trời nắng hoặc mưa lớn.

    – Kỹ thuật bón:

    Phân lân + Hữu cơ sinh học Hiếu Giang Better HG 01 bón lót khi cày bừa hoặc bón theo hốc trước khi trồng; Phân NPK bón theo hốc (cách gốc hoặc hom khoai mì 15 – 20cm).

    3.3 Trừ cỏ dại

    – Phun thuốc diệt cỏ tiền nảy mầm Dual với lượng dùng là 1,5 lít/ha, phun ngay sau khi trồng. Kết hợp giữa làm cỏ bằng tay và phun thuốc

    4. SÂU HẠI và BỆNH HẠI

    – Bọ cánh cứng: Phun các thuốc thông thường điều trị như: Oncol, Lannate,

    – Nhện đỏ: Thường xuất hiện vào mùa khô gây cho khoai mì cháy khô từng vùng, dùng, Admire, Ortus, Pegasus, Danitol, Nissorun, Comite.

    – Bệnh thối đọt, cháy lá: Dùng Benlate, Benlate-C, Copper-B, Bavistin

    – Bệnh xì mủ: đây là bệnh mới đến nay vẫn chưa có thuốc trị.

    5. THU HOẠCH VÀ BẢO QUẢN

    – Tùy theo thời gian sinh trưởng của từng giống khoai mì mà định thời gian thu hoạch cho hợp lý, để đảm bảo năng suất và tỷ lệ bột cao như: giống khoai mì KM 94 có thể thu hoạch ở thời gian 7 – 11 tháng sau khi trồng, giống khoai mì KM 60 thu hoạch khoảng 6 – 8 tháng sau khi trồng sẽ cho chất lượng bột cao và chất lượng bột tốt.

    – Thu hoạch đến đâu chế biến hoặc vận chuyển đến các cơ sở chế biến, tránh để lâu hoặc phơi nắng ngoài đồng quá 24 giờ làm giảm hàm lượng tinh bột trong củ.

    Phân bón Hiếu Giang Better kính chúc bà con trúng mùa được giá!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Bón Cho Cây Khoai Mì (Sắn)
  • Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Khoai Lang
  • Cách Bón Phân Cho Cây Khoai Lang
  • Bón Phân Npk Văn Điển Cho Cây Khoai Lang
  • Bón Phân Đa Yếu Tố Npk Văn Điển Cho Cây Khoai Lang
  • Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Thâm Canh Mía Đường Công Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Phương Pháp Chăm Sóc Mai Vàng Nở Theo Ý Muốn
  • Công Ty Cổ Phần Phân Bón Miền Nam
  • Triển Khai Thành Công Giải Pháp Erp Tại Công Ty Cp Phân Bón Miền Nam
  • Bảng Giá Phân Bón Npk Phú Mỹ Hôm Nay
  • Sự Phát Triển Ngành Canh Tác Cần Sa Tại Các Tiểu Bang Của Hoa Kỳ (Nguyễn Văn Khuy/ Kỹ Sư Canh Nông)
  • Mía là cây công nghiệp lấy đường quan trọng của ngành công nghiệp đường, là loại cây công nghiệp khoẻ, dễ tính, không kén đất, vậy có thể trồng mía trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy nhiên ở những vùng địa bàn này cần bố trí các rãnh mía theo các đường đồng mức để tránh sói mòn đất. Ngành trồng mía chỉ có thể cho hiệu quả kinh tế cao nếu có đúng đắn. kỹ thuật trồng cây

    Cây mía không yêu cầu khắt khe về đất, tuy nhiên để thâm canh đạt năng suất cao yêu cầu về đất cótầng canh tác sâu, tơi xốp, giàu dinh dưỡng, pH trung tính, thoát nước tốt, độ dốc < 100.

    – Đất đồi, đất bãi và đất ruộng gồm các bước cày, bừa và rạch hàng để trồng:

    + Đất bãi và đất ruộng: Cày sâu 30 – 35 cm và bừa từ 2 đến 3 lần, rạch hàng 1 lần sâu từ 25 – 30 cm.

    + Đất đồi: Thiết kế hàng mía theo đường đồng mức (nơi có điều kiện áp dụng cày không lật với độ sâu 40 – 50 cm); làm đất trước khi trồng 40 – 60 ngày để phơi ải, diệt trừ nguồn sâu bệnh.

    – Đất trũng vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải lên líp (liếp) rộng 6,0 – 20 m, cao 25 – 35 cm. Rãnh trồng sâu 20 – 25 cm, đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 -1 0 cm. Đất bị nhiễm phèn thì liếp rộng 4,5 – 5 m, cao 25 – 35 cm. Đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 – 10 cm.

    Cần thiết kế hệ thống tưới tiêu nước để kịp thời thoát nước mùa mưa và tưới bổ sung khi gặp khô hạn.

    1. Giống mía: Bộ giống mía khuyến cáo nên áp dụng cho các vùng như sau:

    Tuỳ điều kiện đất đai từng vùng và nhu cầu nguyên liệu cụ thể cho từng nhà máy để bố trí tỷ lệ các nhóm giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn cho phù hợp.

    2. Chuẩn bị mía giống: Hom mía giống phải đạt các yêu cầu sau:

    + Có 2-3 mắt mầm tốt (mầm phía ngọn có đầy đủ bộ phận, có sắc tố đặc trưng; mầm phía gốc có vẩy mầm chưa hóa gỗ; mắt mầm không bị khô hoặc xây xát, dập nát), tỷ lệ rễ khí sinh dưới 10% số điểm rễ.

    + Không bị nhiễm sâu bệnh.

    + Có đường kính đạt trên 80% đường kính thân đặc trưng của giống và độ dài lóng không dài hoặc ngắn hơn quá 20% độ dài đặc trưng của giống.

    – Nếu có điều kiện hoặc ở trình độ thâm canh cao, có thể sử dụng cây giống nuôi cấy mô hoặc bầu hom 1 mầm để trồng, thay thế cho phương pháp trồng bằng hom 2 – 3 mắt mầm như trên và phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc của cơ sở cung cấp giống.

    – Mật độ: Tuỳ điều kiện đất đai và loại giống mía để bố trí mật độ, lượng hom giống cần từ 35.000 – 40.000 hom/ha (mỗi hom có 3 mắt), tương đương 8 – 10 tấn giống/ha.

    – Khoảng cách hàng: Tùy việc canh tác thủ công hoặc bằng máy để bố trí khoảng cách hàng đơn từ 0,8 – 1,2 m (canh tác thủ công), hoặc hàng kép từ 1,2 – 1,8m x 0,6 – 0,4m (canh tác bằng máy).

    – Cách trồng: Đặt hom theo rãnh hàng đơn (cách nhau 1 m) hoặc hàng kép (1,4m), phủ kín đất 3 – 5 cm (vụ trồng phụ) hoặc 7 – 10 cm (vụ trồng chính). Đất khô cần nén chặt cho hom tiếp xúc với đất. Trong vụ trồng chính nếu có điều kiện nên tưới ẩm sau khi trồng và sử dụng màng phủ nông nghiệp giữ ẩm và hạn chế cỏ dại cho mía.

    – Kỹ thuật dặm: Đào rãnh sâu ngang với đáy rãnh lúc trồng, đặt cây dặm và lấp kín gốc. Khi dặm đất phải đủ ẩm, cây đem dặm phải cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, nén chặt đất vào gốc cây dặm. Nếu có điều kiện cần tưới ngay sau khi dặm.

    a) Lượng phân bón cho 1 ha mía:

    – Vôi: Đất trồng mía có pHdưới 5, cần bón lót vôi bột (CaO) trước lần cày bừa cuối cùng, với lượng từ 800 – 1.000 kg/ha.

    – Phân hữu cơ: 10 – 20 tấn (phân chuồng, phân rác, bã bùn, tro,…) hoặc thay thế bằng 1 – 3 tấn phân hữu cơ vi sinh.

    – Phân hoá học: Tùy theo loại đất, vụ mía và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, trung bình cho vụ mía tơ như sau:

    – Lượng phân bón cho mía gốc tăng hơn mía tơ từ 10 – 20%.

    – Khi bón phân đơn hoặc phân NPK hỗn hợp, cần quy đổi hàm lượng N, P2O5, K2O tương đương với tỷ lệ nêu trên. Tuỳ theo mức độ thâm canh để đạt được năng suất mía khác nhau mà bón với lượng khác nhau. Ở những vùng có lượng mưa lớn, xói mòn mạnh nên bón bổ sung các phân có chứa trung và vi lượng như sắt, man-gan và ma-nhê.

    – Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ, phân lân, 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Trường hợp cần phải xử lý mối và bọ hung thì bón thêm thuốc trừ sâu được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Ngay sau khi bón lót, nên lấp 1 lớp đất mỏng 1 – 3 cm rồi mới đặt hom.

    – Bón thúc lần 1 (thúc đẻ): Khi mía 4 – 5 lá, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali.

    – Bón thúc lần 2 (thúc lóng): Khi mía 9 – 10 lá (khi mía có 1 – 2 lóng), bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Nếu đất khô hạn hoặc nhiễm phèn mặn thì nên bón bổ sung thêm 1 lần qua lá.

    – Chỉ tiến hành tưới nước bổ sung cho mía vào các giai đoạn khô hạn kéo dài, đặc biệt là giai đoạn mọc mầm, đẻ nhánh và bắt đầu vươn lóng. Dừng tưới cho cây mía trước khi thu hoạch 1 tháng.

    – Phương pháp tưới: Tùy theo điều kiện, có thể áp dụng các phương pháp tưới nước cho mía phổ biến như tưới thấm, tưới nhỏ giọt, tưới phun và tưới tràn theo rãnh mía.

    – Lượng tưới: 40-50 mm/lần tưới, tương ứng với 400 – 500 m3/ha/lần tưới. Tưới 1 – 2 lần/tháng.

    b) Tiêu nước: Mía cần nhiều nước nhưng chịu úng rất kém, đặc biệt là thời kỳ cây con và thời kỳ vươn lóng. Để tránh bị úng, ruộng trồng mía phải bằng phẳng, thiết kế hệ thống tiêu nước ngay sau khi trồng, xung quanh ruộng cần có rãnh, mương đấu nối với hệ thống thoát nước để tránh bị đọng nước sau khi mưa to. Không nên để mía bị ngập úng quá 1 tuần.

    – Những nơi có diện tích lớn, tập trung, ruộng bằng phẳng, có điều kiện cơ giới có thể dùng máy kéo liên hợp với máy xới như: máy xới răng nhọn, máy xới cánh én, máy xới kiểu đĩa,… để diệt cỏ giữa 2 hàng mía, đảm bảo cho đất tơi, xốp, thoáng khí, giúp mía sinh trưởng tốt.

    – Xới vun cho mía: Thực hiện 2 lần:

    + Lần 1: Khi mía kết thúc mọc mầm (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 30-40 ngày).

    + Lần 2: Khi mía kết thúc đẻ nhánh (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 60-80 ngày).

    – Chỉ dùng máy xới khi đất đủ ẩm, xới giữa 2 hàng mía cách gốc mía khoảng 20 cm.

    Lưu ý: Nếu trồng hàng kép cần tăng cường làm cỏ giữa 2 hàng kép.

    Cần tiến hành làm cỏ sớm, đặc biệt là ở giai đoạn mía dưới 4 tháng tuổi, phải đảm bảo ruộng mía luôn sạch cỏ dại.

    a) Biện pháp thủ công: Dùng cuốc, tay hoặc trâu, bò cày xới giữa hàng để diệt cỏ trong hàng mía.

    + Ngay sau khi trồng: Nếu đất có nguồn cỏ nhiều có thể phun một trong các loại thuốc tiền nảy mầm như: Gesapax 500FW (3-4 lít/ha), Ansaron 80WP (2-3 kg/ha), Mizin 80WP (3-6 kg/ha) hoặc Dual Gold 906EC (0,5-0,6 lít/ha), tiến hành phun phủ toàn bộ ruộng, trong phạm vi từ 2-5 ngày sau khi trồng. Chú ‎ý khi phun thuốc đất phải đủ ẩm.

    + Giai đoạn 30-40 ngày sau trồng: Có thể sử dụng thuốc Gesapax 500FW (3 -4 lít/ha), phun vào giữa các hàng mía ( tránh phun vào ngọn, lá mía).

    + Giai đoạn 2-4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy cỏ xuất hiện nhiều do làm cỏ không kịp hoặc do trước đó không trừ cỏ, có thể sử dụng thuốc trừ cỏ tiếp xúc Gramoxone 20SL, liều dùng từ 2-2,5 lít/ha (trừ cỏ lớn), trộn với 2-2,5 lít thuốc Gesapax 500FW hoặc 2-2,5 kg thuốc Ansaron 80 WP (trừ cỏ non và hạn chế cỏ mọc trở lại) phun vào giữa các hàng mía, tránh phun lên mía.

    + Giai đoạn trên 4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy có nhiều cỏ xuất hiện trở lại, có thể sử dụng thuốc Gramoxone 20SL để phun trừ như trên, với lượng dùng từ 2-2,5 lít/ha, nếu ruộng mía có nhiều cỏ 2 lá mầm, có thể trộn thêm khoảng 1 lít thuốc 2,4 D (Zico 48 SL). Ở giai đoạn này cần phải làm sạch cỏ để tránh lây lan sang vụ mía gốc.

    – Dùng thuốc Basudin 10G hoặc Diaphos 10H với liều dùng 20-30 kg/ha hoặc Padan 4G với liều dùng 30 kg/ha rải vào rãnh mía trước khi đặt hom hoặc rải vào sát gốc mía trước khi vun.

    – Cắt bỏ cây mầm bị sâu và làm sạch cỏ.

    – Khi có điều kiện thì thả ong mắt đỏ từ tháng thứ 3-8 sau trồng hoặc thu hoạch, định kỳ 15 ngày thả 1 lần với liều lượng thả là 50.000 ong/ha/lần.

    – Làm sạch cỏ, bóc và cắt lá già cho ruộng mía thông thoáng.

    – Khi thấy rệp xuất hiện, cần tổ chức diệt trừ dứt điểm không để lây lan bằng thuốc Trebon 10EC hoặc Supracide 40EC, pha nồng độ 0,1-0,15%, mỗi héc-ta sử dụng từ 1-1,5 lít thuốc, phun ướt đẫm đều khắp mặt lá, phun thật kỹ, tập trung những nơi có ổ rệp.

    c) Bọ hung đục gốc: Khi có nhiều bọ hung xuất hiện, trước khi vun gốc lần 1 rải thêm 25 – 30 kg thuốc Sago Super 3G vào gốc mía rồi vun đất.

    – Kịp thời nhổ bỏ và tiêu huỷ cây mía bị bệnh.

    – Ruộng mía bị bệnh nặng không nên để mía lưu gốc và phải luân canh cây họ đậu từ 1- 2 năm.

    – Cắt lá bệnh và tiêu huỷ.

    – Dùng thuốc boóc-đô hoặc sun-phát đồng trộn với vôi bột và đất bột theo tỷ lệ 10:40:50, rắc vào ngọn mía.

    e) Bệnh chồi cỏ, bệnh trắng lá:

    – Tổ chức hệ thống sản xuất, cung ứng và hoàn toàn sử dụng hom giống sạch bệnh 3 cấp.

    – Phun thuốc trừ sâu hoặc dùng bẫy đèn thu bắt, diệt côn trùng môi giới truyền bệnh.

    – Với đất tốt, cơ cấu chu kỳ luân canh 5 năm: 1 tơ + 3 gốc + 1 luân canh.

    – Với đất đồi, đất xấu chu kỳ luân canh 4 năm: 1 tơ + 2 gốc + 1 luân canh.

    Cây trồng luân canh với cây mía: sử dụng cây họ đậu để nhằm mục đích cải tạo đất.

    – Ngay sau khi trồng mía, tiến hành rạch 1-2 hàng dọc giữa 2 hàng mía, bón phân lót, gieo hạt, lấp đất đủ kín hạt.

    – Sau khi thu hoạch các cây trồng xen, nhanh chóng nhổ hết thân lá cây trồng xen, rải dọc theo chiều dài hàng mía, kết hợp bón phân thúc cho mía, xới giữa hai hàng mía để vùi lấp phân bón và thân lá cây trồng xen vào đất.

    – Cây trồng xen canh với cây mía: Sử dụng cây ngắn ngày, có thời gian sinh trưởng < 3 tháng như cây ớt, cây họ đậu, cây mè, dưa hấu,… ưu tiên cây họ đậu.

    – Chỉ lưu gốc những ruộng mía có năng suất cao, ít bị sâu bệnh, tỷ lệ mất khoảng < 20%.

    – Sau khi thu hoạch xong phải tiến hành vệ sinh đồng ruộng ngay. Dùng cuốc, dao để bạt (phạt) sát đất những gốc cao; loại bỏ cây mầm, cây bị sâu bệnh hay cỏ dại sót lại từ vụ trước.

    – Thu hoạch khi đất khô cần che phủ ruộng mía lưu gốc bằng nguồn ngọn, lá mía; gom ngọn lá mía xung quanh ruộng vào trong ruộng để tạo khoảng cách phòng chống cháy.

    – Thu hoạch khi đất đủ ẩm cần gom ngọn, lá mía từng hàng xen kẽ, kết hợp dùng trâu, bò cày xả hai bên luống để làm đứt các rễ già và xới vun luống, hoặc gom ngọn lá, mía cách 2 hàng kết hợp cày xả và xới vun luống bằng cơ giới, sau đó phủ ngọn lá mía trở lại toàn bộ mặt ruộng. Sau khi cày xả tiến hành bón phân lần 1 cho ruộng mía gốc với 100% phân lân phối trộn với 100% phân hữu cơ, 1/3 lượng phân đạm và 1/2 lượng phân kali, sau đó mới vun xới luống.

    – Sau khi áp dụng các biện pháp chăm sóc mía gốc ban đầu như trên và khi thấy mía tái sinh đều, cần tiến hành kiểm tra và dặm những chỗ mất khoảng 0,8 m. Phương thức dặm tương tự như ở vụ mía tơ, nhưng phải lưu ý đảm bảo đủ ẩm cho bụi mía sau khi trồng dặm.

    – Lượng phân và cách bón phân cho ruộng mía gốc:

    + Lượng bón: Tùy theo loại đất và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp, trung bình như sau:

    + Kỹ thuật bón:

    Lần 1: Sau thu hoạch khoảng 1 tháng (đối với đất chủ động tưới) hoặc đầu mùa mưa (đối với canh tác nhờ nước trời): Bón 100% lượng lân, 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

    Lần 2: Khi mía bắt đầu vươn lóng hoặc sau lần thúc 1 khoảng 40-60 ngày, bón 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

    – Các biện pháp chăm sóc, làm cỏ, xới xáo, phòng trừ sâu bệnh thực hiện tương tự vụ mía tơ.

    1. Xác định mía chín để thu hoạch

    – Theo cảm quan khi mía chín: Lá mía sít lại, ngả màu hơi vàng nhạt, các đốt phần trên ngọn ngắn lại.

    – Dùng máy kiểm tra: Lấy mẫu ngẫu nhiên đem phân tích, khi mía đạt CCS ³ 9,0% mới bắt đầu thu hoạch.

    – Theo loại mía: Mía gốc thu hoạch trước, mía tơ thu hoạch sau.

    – Theo loại giống: Giống chín sớm thu hoạch trước, rồi đến giống chín trung bình và cuối cùng là giống chín muộn.

    2. Ước lượng năng suất, chất lượng mía trước thu hoạch

    – Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) được xác định bằng công thức:

    Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) = Mật độ cây hữu hiệu (1.000 cây/ha) x khối lượng cây trung bình (kg/cây).

    Trong đó, mật độ cây hữu hiệu và trọng lượng cây được xác định bằng việc lấy mẫu trung bình ngoài đồng ruộng.

    – Ước lượng chất lượng mía trước thu hoạch:

    + Sử dụng Brix kế cầm tay, xác định độ Brix (Bx%) của mía. Khi đó có thể ước lượng được chữ đường (CCS%) bằng công thức:

    + Lấy mẫu mía đem phân tích trong phòng có thể xác định được chính xác chữ đường (CCS%).

    3. Chặt và vận chuyển mía sau thu hoạch

    – Yêu cầu khi thu hoạch: Phải chặt sát gốc, không dập gốc, chặt ngọn ló “mặt trăng”. Róc sạch rễ lá, đạt tiêu chuẩn mía nguyên liệu.

    – Dụng cụ thu hoạch: Sử dụng dao hoặc rìu chặt mía chuyên dùng, được mài sắc trước mỗi lần sử dụng.

    – Mía được làm sạch tạp chất (lá, bẹ, rễ…) bó thành từng bó từ 10-15 kg và gom thành từng đống 30-50 bó nhằm giúp quá trình bốc xếp thuận lợi.

    – Thu hoạch xong nên dùng bạt che phủ tránh nắng bốc hơi, giảm lượng đường và phải vận chuyển ngay đến nơi chế biến trong vòng 24 giờ.

    – Hạn chế các phương tiện vận chuyển đi vào các ruộng mía lưu gốc.

    – Thời gian thu hoạch mỗi ruộng mía không quá 5 ngày tạo sự nảy mầm đồng đều để dễ chăm sóc mía gốc.

    – Sử dung vi sinh vật phân hủy lá mía hoặc tủ gốc để giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và tăng hữu cơ cho đất./.

    Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Bón Và Cách Bón Phân Cho Mía
  • Cách Chăm Sóc Mai Vàng Ra Hoa Đúng Tết Nguyên Đán
  • Chăm Sóc Mai Vàng Ra Nhiều Hoa
  • Cách Phòng Trị Sâu Ăn Lá Cây Mai
  • Đoán Nhu Cầu Phân Bón Qua Lá Cây
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Măng Tây Xanh

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Lưu Ý Trong Kỹ Thuật Trồng Nấm Rơm Trong Nhà
  • Hạt Giống Dưa Chuột Chùm Siêu Trái
  • Trọn Bộ Trồng Và Chăm Sóc Giống Dưa Chuột Chùm
  • Trọn Bộ Trồng Và Chăm Sóc Dưa Chuột Chùm
  • Quy Trình Trồng Khổ Qua Lai F1 Vifa66
  • Đất trồng cây Măng tây xanh cần phải được cải tạo bằng phẳng, có độ dốc thoát nước tưới và phải có mương tiêu thoát nước bao quanh để chống ngập khi cần thiết.

    Trồng cây Măng tây xanh ở nơi bị bóng cây che rợp, hoặc vùng đất có mật độ mưa nhiều, hiệu suất quang hợp với ánh nắng thấp, cây sẽ kém phát triển, năng suất và chất lượng măng sẽ giảm đáng kể.

    Trong vùng khí hậu nhiệt đới, nhiệt độ trung bình cao 20 oC-30 o C như ở nước ta, các loại đất thích hợp để trồng cây Măng tây xanh là đất đỏ bazan, đất cát pha nhẹ, đất phù sa, đất xám hoặc các loại đất có độ tơi xốp cao, giàu chất hữu cơ, có mật độ mưa ít, thế đất cao ráo, tiêu thoát nước tốt, có tầng canh tác dày 40-50cm, mực nước ngầm sâu dưới mặt đất 50cm, độ ẩm của đất trung bình 65-70%, độ pH 6,5-7,5, không bị phèn chua, không bị ngập úng trong mùa mưa hoặc triều cường, đồng thời chủ động được nước tưới trong mùa nắng.

    + Đất đã trồng qua cây cao su, cây thuốc lá, đất nhiễm dioxin (chất độc da cam) hoặc chất thải công nghiệp độc hại thì không nên trồng cây Măng tây xanh vì các chồi măng non rất dễ bị nhiễm độc tố.

    Đất trồng cây Măng tây xanh cần phải được cải tạo bằng phẳng, có độ dốc thoát nước tưới và phải có mương tiêu thoát nước bao quanh để chống ngập khi cần thiết. Trước khi trồng, phải cày sâu 20-25cm hai lần cách nhau khoảng 10 ngày. Tuỳ theo chất đất, dùng1.200-1.500 kgvôirải đều, rồi bừa, xới đất 2-3 lần cho thật tơi xốp, kết hợp làm cỏ thật sạch, phun thuốc Dual diệt mầm cỏ và thuốc phòng trừ sâu hại, mầm bệnh thật kỹ. Ban phẳng mặt đất trồng, rồi tùy theo mật độ trồng đã định trước (18.000 cây/ha = 120cm x 45cm), căng dây lấy mực cho thẳng để vét rãnh thoát nước rộng 20cm x sâu 20cm (đủ để thoát nước trời mưa lớn), lấy đất lên liếp rộng 100cm x cao 30cm,rồi phơi nắng 30 ngày để hạn chế mầm bệnh, sâu hại. Cần chú ý tạo mặt liếp dốc nghiêng về 2 bên mép liếp để không ứ đọng nước mưa, nước tưới.

    3. Trồng cây ra đất sản xuất:

    Ở giữa mặt liếp đất trồng đã chuẩn bị sẵn, tiến hành cuốc đất thành một rãnh dài hố trồng rộng 50cm x sâu 25cm, rồi đảo trộn đều đất với phân hữu cơ bón lót trong hố (có thể bón lót 1 lần đủ dinh dưỡng từ 1-5 năm tùy khả năng người trồng). Cẩn thận rạch bỏ bao nilon bầu giống, giữ nguyên bầu giá thể cây con đặt ngay ngắn vào hố trồng, mặt bầu ngang với mặt đất trồng, cây cách cây 45cm.

    Sau khi trồng cây xong, cần lấy đất 2 bên mép liếp đất trồng để phủ một lớp đất mặt dày khoảng 8-10cm cho những gốc cây đã trồng, kết hợp tạo mặt liếp đất trồng dốc nghiêng về hai bên mép liếp để thoát nước, rồi tiến hành tưới nước hàng ngày bằng phương pháp tưới thấm qua rãnh hoặc tưới phun sương để giữ ẩm.

    Nguồn: sưu tầm

    Tìm bài này trên Google:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Dưa Gang Trong Nhà Lưới Cho Năng Suất Cao
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Dưa Chuột Đơn Giản Tại Nhà
  • Kỹ Thuật Trồng Giống Dưa Chuột 179 Và Tn 883
  • Cách Làm Dưa Hấu Vuông, Bưởi Hồ Lô Ra Sao?
  • Bán Cây Cẩm Nhung Nhiều Màu Sắc
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Dừa Cạn

    --- Bài mới hơn ---

  • Kĩ Thuật Nhân Giống Dừa Sáp
  • Trà Vinh: Đẩy Mạnh Trồng Dừa Sáp Bằng Nguồn Cây Giống Nuôi Cấy Phôi
  • Bệnh Thối Đọt Ở Cây Dừa
  • Làm Sao Để Chăm Sóc Dưa Hấu Bội Thu Vào Dịp Tết
  • Kỹ Thuật Trồng Dưa Lê Siêu Ngọt Năng Suât Cao Đơn Giản Nhất
  • DỪA CẠN

    Tên khoa học: Catharanthus roseus (L.) G.Don.

    Họ: Trúc đào (Apocynaceae).

    Tên khác: Bông dừa, hoa hải đằng, trường xuân hoa, phjắc pót đông (tày).

    Phần I: Đặc điểm chung

    a. Nguồn gốc, phân bố

    Chi Catharanthus G. Don có nguồn gốc ở Madagasca với 8 loài, trừ loài C. pusillus (Murr) G. Don có thể tìm thấy ở Ấn Độ, Srilanca. Từ Madagasca loài dừa cạn được di nhập sang nhiều nước nhiệt đới Nam Á cũng như Đông Nam Á trong đó có Việt Nam và đảo Hải Nam Trung Quốc.

    b. Đặc điểm thực vật

    Dừa cạn là cây thảo sống lâu năm, cao 40 – 60 cm, phân nhiều cành. Thân mọc thẳng, hình trụ, nhẵn, lúc non màu xanh lục nhạt, sau

    chuyển màu đỏ hồng. Lá mọc đối, hình bầu dục, gốc thuôn đầu tù hoặc hơi nhọn, dài 4 – 6 cm, rộng 2 – 3 cm, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt. Hoa màu hồng hoặc trắng, mọc riêng lẻ ở kẽ lá gần ngọn; đài 5 thùy, hình ống ngắn, tràng có 5 cánh hợp, ống tràng hẹp phình ra ở dưới các cánh hoa; nhị 5 đính vào họng của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn; bầu gồm 2 lá noãn dính nhau ở vòi. Quả gồm 2 đại dài 2,5 – 3 cm, mọc thẳng hơi choãi ra; hạt nhỏ, hình trứng, màu nâu nhạt hoặc nâu đen. Mùa hoa quả tháng 4 – 5 và tháng 9 – 10.

    c. Điều kiện sinh thái

    Dừa cạn là loại cây ưa sáng, ưa ẩm và có khả năng chịu được hạn. Dừa cạn ra hoa quả nhiều hàng năm. Cây mọc từ hạt trong tự nhiên vào khoảng 40%. Nếu được xử lý có thể tăng lên 90%. Cây trồng từ hạt có thể ra hoa quả sau 4 – 5 tháng. Trong thời kỳ sinh trưởng mạnh, nếu bị cắt cây tái sinh cây chồi khỏe.

    d. Giá trị làm thuốc

    Bộ phận sử dụng: Lá hoặc rễ dừa cạn phơi khô hay sấy khô.

    Công dụng: Dừa cạn được dùng để thông tiểu tiện, chữa bệnh đi tiểu đỏ và ít, kinh bế, huyết áp cao. Có nơi dùng làm thuốc đắng, chát, ra mồ hôi. Chữa tiêu hóa kém và lỵ (cấp và mãn tính). Điều trị bệnh Hodgkin, bệnh bạch cầu lympho cấp. Vinblastin từ lá dừa cạn ở Việt Nam đã được chiết xuất dùng chữa bệnh bạch cầu.

    Phần II. Kỹ thuật trồng trọt

    a. Chọn vùng trồng

    a) Việt Nam, dừa cạn mọc tự nhiên khá nhiều ở vùng bãi cát ven biển từ Hải Phòng đến Kiên Giang. Nơi tập trung nhiều nhất thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa. Ngoài ra còn có ở Côn Đảo, Phú Quốc. Cây còn mọc ở những vùng đồi, trên đất pha cát hoặc sỏi đá, độ cao tới 1500 m. Trong điều kiện trồng trọt cây sinh trưởng mạnh, khối lượng chất xanh thu được có thể cao gấp đôi cây mọc tự nhiên.

    b. Giống và kỹ thuật làm giống

    Tiêu chuẩn hạt giống:

     Khối lượng 1000 hạt 2 – 3 gam.

     Nhiệt độ nẩy mầm tối ưu: 20 – 22oC.

     Tỷ lệ nẩy mầm: Trên 75%.

    Dừa cạn có thể nhân giống bằng cả hữu tính (từ hạt) và vô tính (giâm cành) nhưng khi sản xuất thường nhân giống bằng hạt. Mỗi hecta cần gieo 500 – 700 g hạt. Mỗi hecta vườn ươm gieo 3 – 4 kg hạt để trồng cho 7 – 8 ha dược liệu. Ngâm hạt 3 – 4 giờ, vớt ra để ráo rồi gieo lên luống vườn ươm, phủ rơm, rạ và tưới nước. Sau khoảng một tuần, hạt mọc, cần dỡ bỏ rơm rạ. Khi cây có 3 – 4 đôi lá thật (từ 40 – 45 ngày sau khi gieo) bứng đi trồng. Có thể gieo thẳng nhưng cách này tốn công chăm sóc hơn.

    c. Thời vụ trồng

    Thời vụ gieo hạt vào tháng 9 – 10 hoặc tháng 2 – c. Gieo vào mùa đông hạt lâu nẩy mầm vì thời tiết quá lạnh, nhiệt độ thấp. Gieo muộn hơn vào tháng 3 – 4, thời gian sinh trưởng bị rút ngắn, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng dược liệu dừa cạn sau này.

    d. Kỹ thuật làm đất

    Dừa cạn ưa đất cát pha, đất phù sa, chịu hạn nhưng kém chịu úng.

    Đất sau khi được chọn, cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo trồng. Chia đất thành từng luống rộng 80 – 90 cm, lên luống cao 20 – 25 cm, rãnh rộng 25 – 30 cm.

    e. Mật độ, khoảng cách trồng

    Mật độ 110.000 cây/ha.

    Khoảng cách trồng 30 x 30 cm.

     Bón lót: Toàn bộ phân chuồng hoai mục và supe lân. Bón vào hốc hoặc bón theo rạch.

     Bón thúc: Toàn bộ phân đạm urê. Bón làm 2 – 3 lần.

     Lần thứ nhất tiến hành sau khi cây bén rễ.

     Các lần sau cách nhau 25 – 30 ngày cho đến khi cây bắt đầu ra hoa. Tùy tốc độ sinh trưởng của cây, có thể bón thúc thêm phân kali trước khi cây ra hoa.

    g. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

    Kỹ thuật trồng

    Khi cây có 3 – 4 đôi lá thật (từ 40 – 45 ngày sau khi gieo) được bứng đi trồng. Tưới nước đủ ẩm ngay sau khi trồng và duy trì đến khi cây bén rễ, hồi xanh. Có thể gieo thẳng theo rạch hoặc gieo vãi nhưng cách trồng này tốn công chăm sóc hơn.

    Chăm sóc

    Cần làm cỏ, xới đất, vun gốc, kết hợp với bón thúc. Mặc dù dừa cạn là cây chịu hạn nhưng cũng phải giữ đủ ẩm thường xuyên. Chú ý tháo nước khi gặp mưa lớn.

    h. Phòng trừ sâu bệnh

    Dừa cạn ít bị sâu bệnh phá hại. Chủ yếu chỉ có sâu xám (Agrotis ipsilon) gây hại ở giai đoạn khi mới trồng. Đặc điểm gây hại và biện pháp phòng trừ như sau:

    Đặc điểm gây hại: Thường gây hại ở thời kỳ cây con. Loài sâu này thường gây hại vào ban đêm, ăn lá non hoặc cắn đứt ngang các thân và cành non. Sâu non màu xám đen hoặc màu nâu xám dọc theo hai bên thân có những chấm đen mờ.

    Biện pháp phòng trừ

     Cày, phơi ải đất trước khi trồng 2 tuần để tiêu diệt trứng và nhộng. Làm đất kỹ, sạch cỏ trước khi trồng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.

     Đối với những ruộng có diện tích nhỏ có thể bắt sâu bằng tay vào buổi sáng sớm hay chiều tối bằng cách bới đất quanh gốc cây bị sâu cắn để bắt sâu.

     Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm. Cách làm bẫy: Cho 4 phần

    đường + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước vào trong bình đậy kín, sau 3 – 4 ngày khi thấy mùi chua ngọt thì thêm vào 1% thuốc trừ sâu. Quấn giẻ hay bùi nhùi rơm rạ vào đầu gậy nhúng vào bả cắm trên bờ ruộng. Sau 2 – 3 ngày nhúng lại 1 lần. Bướm trưởng thành sẽ bay vào ăn bả chua ngọt và chết.

    * Ruộng bị sâu hại nặng có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: Thiamethoxam (ví dụ Actara 25WG, 350FS), Abamectin (ví dụ Shertin c.6EC, e.0EC). Hòa thuốc với nước theo tỷ lệ khuyến cáo ở bao bì, phun vào chiều tối. Nếu mật độ sâu cao nên phun kép hai lần cách nhau 5 ngày.

    i. Chế độ luân canh

    Có thể trồng luân canh với các cây thuốc ngắn ngày như: Mã đề

    ============================

    Kỹ thuật trồng cây thuốc (2013) TSKH Nguyễn Minh Khởi, TS Nguyễn Văn Thuận – ThS. Ngô Quốc Luật cùng các nhà khoa học khác của Viện dược liệu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kĩ Thuật Trồng Dừa Xiêm Lùn Đỏ
  • Cách Để Cam Ra Hoa Trái Vụ Không Sử Dụng Thuốc Kích Thích
  • Giới Thiệu Giống Cam Mật
  • Kĩ Thuật Trồng Cây : Kĩ Thuật Trồng Cam Cara Ruột Đỏ
  • Kỹ Thuật Trồng Cam Cara Ruột Đỏ
  • Kỹ Thuật Trồng Dừa Nước (Nypa Fruticans),,cây Khác,kiến Thức Trồng Trọt

    --- Bài mới hơn ---

  • Trồng Ớt Kiểng Tại Nhà
  • 02 Gói Hạt Giống Ớt Kiểng Nhiều Màu Vtp80
  • Kỹ Thuật Trồng Ớt Có Hình Thù Kỳ Quái Thu Hút Người Mua Với Hiệu Quả
  • Hướng Dẫn Kĩ Thuật Trồng Rau Tần Ô Lá Tròn (Cây Rau Cải Cúc Nếp)
  • +27 Cách Trồng Rau Ăn Lá Tại Nhà Dễ Làm Cho Thu Hái Quanh Năm ?
  • 12:04 PM, 2021-01-25

    Dừa nước (Nypa frutican) cũng là một đại diện ở vùng cửa sông, nhưng chúng thường đứng ở sâu hơn về phía đất liền, ở phía sau đai rừng bần.

    1. Kỹ thuật tạo cây con

    1.1. Vườn ươm

    – Vườn ươm phải gần nơi trồng rừng và thuận lợi cho việc vận chuyển cây con.

    – Vườn ươm bố trí và lựa chọn cẩn thận ở nơi ngập triều trung bình trong năm, tốt nhất ở nơi ngập triều trung bình từ 20 – 25cm, độ mặn nước biển từ 5 – 15%o, ít chịu tác động của sóng biển, có bờ ao xung quanh để bảo vệ.

    – Vườn phải đặt xa nơi nguồn bệnh và tách rời xa khu canh tác nông nghiệp, nơi chăn thả gia súc, tránh nơi thuỷ triều rút quá nhanh, nơi hay bị phù sa bồi lắng.

    1.2. Giống

    a. Kỹ thuật thu hái

    – Nguồn giống được thu, hái trong rừng ngập mặn nơi có Dừa nước phân bố tự nhiên. Mùa quả chín từ tháng 8 – 10.

    – Thu lượm trụ mầm chín trên mặt nước, khi thuỷ triều đưa ra biển rồi dạt vào những bờ biển thoai thoải hoặc chặt các buồng quả già. Buồng quả già khi chín có mầu nâu thẫm.

    Một số thông số cơ bản:

    – Khi chín quả dài 10 – 12 cm, đường kính quả từ 5 – 6,0 cm.

    – Số lượng quả trên một buồng quả: 38 – 63 cũng có khi 50 – 120 (Bến Tre).

    – Tỷ lệ nảy mầm 85 – 90%.

    b. Phân loại, bảo quản

    – Quả sau khi thu hái về phải tiến hành phân loại. Loại bỏ những quả còn non, những quả bị sâu bệnh. Những quả từ buồng quả dùng tay tách rời quả.

    – Khi không cấy kịp vào bầu cần bảo quản bằng cách ngâm trong nước lợ hoặc để nơi râm mát hàng ngày tưới nước, thời gian không để quá 1 tháng.

    1.3. Tạo bầu

    a. Vỏ bầu

    – Loại vỏ bầu PE mầu trắng đục hay đen. Bảo đảm độ bền cao để khi đóng bầu, chịu được ngâm trong nước biển hoặc quá trình chăm sóc vận chuyển cây con đi trồng rừng không bị hư hỏng.

    – Sử dụng túi bầu có đáy, kích thứơc D = 15cm, H = 20cm, đục các lỗ nhỏ có D = 0,5cm xung quanh để thoát nước.

    b. Thành phần hỗn hợp ruột bầu

    – Sử dụng loại đất cát pha ngập thuỷ triều hàng ngày để đóng bầu (đất được lấy ở tầng mặt có độ sâu 0 – 20cm, pH = 6,0 – 6,5; nơi có độ mặn nước biển 5 – 15%o, cát 1 – 2%, sét 63 – 74%, limon 35 – 36%).

    c. Xếp bầu trên luống và kỹ thuật đảo bầu

    – Trang mặt luống cho phẳng, cày bừa, nhặt sạch cỏ. Kích thước luống đặt bầu (1,2mx1,2m) hai luống cách nhau 50 cm, có rãnh thoát nước khi thủy triều rút.

    – Xếp bầu theo hàng, cứ hai hàng để cách một hàng, lấp đất xung quanh luống để giữ bầu.

    – Từ tháng thứ hai cứ 2 tháng đảo bầu một lần, bằng cách dịch chuyển bầu để tránh rễ cắm sâu vào đất. Tiến hành đảo bầu kết hợp với phân loại cây vào thời gian thuỷ triều rút.

    d. Cấy cây

    – Cấy quả: cắm 1/3 chiều dài quả trực tiếp vào bầu đất nghiêng một góc 45o với mặt bùn.

    – Mỗi bầu chỉ cấy 1 quả.

    – Cấy quả vào ngày râm mát, tránh ngày mưa bão.

    e. Chăm sóc phòng trừ sâu bệnh

    – Sau khi cấy quả vào bầu 5 – 7 ngày hạt nảy mầm cây con còn yếu nên điều tiết nước ngập 3 – 4 giờ/ngày.

    – Hàng ngày gỡ bỏ rong, rêu, vật cản bám vào trụ mầm.

    – Sau khi cấy quả thường bị một số loài giáp xác, thân mềm, chân bụng, cua còng, ốc biển, hà sun,… tấn công trụ mầm. Vì vậy, thường xuyên theo dõi bắt bỏ các loài động vật này đề phòng cắn nát trụ mầm.

    f. Cấy dặm

    Sau khi cấy vào bầu 10 – 15ngày, quả nảy mầm tới 50%, sau 30 ngày quả nảy mầm hoàn toàn, tỷ lệ nảy mầm đạt tới 85%. Sau thời gian này quả nào không ra lá cần tiến hành cấy dặm ngay.

    g. Tiêu chuẩn cây con xuất vườn

    – Tuổi cây: 6 – 7 tháng tuổi

    – Chiều cao trung bình của lá: 47 – 50 cm

    – Số lá trên cây: 4 – 5 lá

    – Cây không bị nhiễm bệnh.

    – Cây không bị cụt ngọn.

    2. Trồng rừng

    2.1. Khu vực trồng rừng

    – Đất trồng rừng dừa nước là đất nhiều sét 68 – 73%, phù sa 25 – 30%, cát 1 – 2%, trên các bãi bồi ngập mặn ven biển, có mức độ ngập triều trung bình và thấp.

    – Độ mặn nước biển thích hợp nơi trồng rừng từ 5 – 15%o. Nếu độ mặn vượt quá 20%o cây bị chết.

    – Trên dạng đất sét rắn chắc, đi không lún mà chỉ ngập nước khi thuỷ triều cao bất thường hay đất nhiều cát, mặt đất có nhiều cỏ chịu mặn trồng rừng cây sinh trưởng và phát triển rất kém.

    2.2. Phương thức trồng rừng

    – Trồng thuần loài, bố trí theo hình vuông hay nanh sấu.

    – Trồng hỗn giao theo hàng với một số loài cây như Bần chua tuỳ theo điều kiện lập địa từng vùng.

    – Cũng có thể trồng hỗn giao theo đám với Bần chua.

    2.3. Mật độ trồng rừng

    – Mật độ trồng rừng 625 cây/ha.

    – Cự ly trồng 4,0m x 4,0m.

    2.4. Thời vụ và kỹ thuật trồng rừng

    – Trồng rừng trực tiếp bằng quả bằng cách đặt quả nghiêng một góc 45o với mặt bùn. Đầu trên (đầu dính vào trục của cuống buồng quả) nhô lên khỏi mặt nước 0,5cm, phần còn lại của quả chìm trong bùn.

    – Trồng bằng cây con có bầu vào tháng 3 – 4, bóc vỏ bầu trước khi trồng. Không làm đứt rễ để tránh xâm nhập mặn.

    – Kỹ thuật trồng: Trồng cây khi thuỷ triều rút. Dùng dây nilon thắt nút chia thành các đoạn 4m, kéo thẳng hàng để trồng đúng khoảng cách. Biện pháp dễ làm nhất là dùng một đoạn tre bương hoặc luồng dài 4m. Lắp răng dài 10cm với khoảng cách 4m x 4m (giống như một cào cỏ). Một người cầm cào này kéo theo một đường thẳng trên mặt bùn. Sau đó lại dùng cào kéo theo chiều vuông góc tạo thành những ô vuông thẳng hàng ngang dọc.

    Ở những nơi đất cao, cứng chỉ ngập triều cao, có thể dùng cuốc để cuốc hố 50cm x 50cm. Cho vào hố một lớp bùn dày 25 – 30cm, trồng cây trong lớp bùn này.

    2.5. Chăm sóc bảo vệ rừng

    Thời gian chăm sóc 3 năm.

    Sau khi trồng rừng từ 3 – 6 tháng, cần vớt bỏ rong, rêu, tảo bám trên thân, lá nếu có tạo điều kiện cho cây con quang hợp tốt.

    Bắt cua, còng, ốc ăn lá cây. Khi phát hiện sâu non dùng tay bắt giết, hoặc rung cây cho sâu rơi để giết.

    Bảo vệ các loài thiên địch như chim ăn sâu, một số loài côn trùng có lợi như bọ ngựa, các loài ong ký sinh trên trứng và sâu non của sâu hại cây ngập mặn.

    Chọn và sử dụng các chế phẩm sinh học trong việc phòng trừ sâu hại như các chế phẩm Beauverine (B.B), Bacilline (B.T), Virut, Metarrhizium,…

    Chỉ sử dụng biện pháp phun thuốc hoá chất trong trường hợp sâu hại xuất hiện lan tràn với mật độ cao, có nguy cơ bùng nổ thành dịch. Nên sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc thực vật, chóng phân giải, ít độc hại với người và gia súc như các loại thuốc có gốc Perythroide,…

    Ngăn ngừa trâu, bò gia súc phá hoại.

    Hoa Thông/http://www.khuyennongvn.gov.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giống Cây Cam Thảo Bắc
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Cỏ Ngọt
  • Cách Ghép Mắt Chữ T Trên Cây Cam
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cam Canh
  • Kĩ Thuật Trồng Cây : Kĩ Thuật Trồng Cam Canh
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Dưa Hấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Dưa Hấu Cho Quả To, Trái Ngọt Lịm
  • Hoa Leo Dây Ánh Hồng
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Cúc Leo Mexico
  • Kĩ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Hồ Tiêu
  • # 1【Tìm Hiểu】Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Hoa Trà Xanh Quanh Năm
  • – Đất trồng dưa nên luân canh với cây trồng khác họ lúa, ngô, cây họ đậu.

    – Thu dọn tàn dư cây vụ trước, cày phay tơi nhỏ, nhặt sạch cỏ dại. Lên luống rộng 2,5 – 3 m loại luống đơn, 4,5 – 6 m với luống kép, hình mui luyện. Rãnh rộng 30cm, sâu 25 cm. Hướng luống đông – tây để có nhiều ánh sáng. Xử lý đất bằng vôi bột 300 kg/ha, Vicarben 30 kg/ha để chống sâu xám và nhộng của các loại côn trùng.

    Sau khi bón lót, tiến hành phủ màng nông nghiệp. Hướng mặt bạc lên trên, mặt đen xuống dưới để giữ đất tơi xốp, giữ ẩm, ấm cho cây, tránh rửa trôi dinh dưỡng khi mưa to, tránh cỏ dại.

    2. Thời vụ trồng a. Các tỉnh phía Bắc

    – Vụ xuân hè: Do có mùa đông lạnh nên vụ này là vụ chính. Gieo vào cuối tháng 2, trồng 10 – 15/3, thu hoạch cuối tháng 5.

    – Vụ hè: Trồng khi gặt xong lúa chiêm xuân sớm, giữa tháng 6, thu hoạch cuối tháng 7. Thời vụ này thích hợp cho vùng trồng dưa hấu ở Đồng bằng sông Hồng. Nhược điểm của vụ này là mưa nhiều nên các chân đất trũng hay bị ngập. Cần trồng dưa hấu ghép lên gốc bầu để chịu úng và chống bệnh héo vàng.

    – Vụ đông: Vụ này nghiêm ngặt về thời gian nên chỉ vùng nào người dân có kinh nghiệm thâm canh mới nên trồng. Gieo hạt cuối tháng 8, trồng đầu tháng 9, thu hoạch cuối tháng 11, đầu tháng 12.

    b. Các tỉnh miền Trung và miền Nam

    – Vụ sớm: Gieo trồng tháng 10, thu hoạch cuối tháng 12, trồng trên chân đất thoát nước, do ảnh hưởng mưa đầu vụ.

    – Vụ chính: Gieo trồng tháng 11, thu hoạch tết âm lịch. Mùa này cây sinh trưởng thuận lợi, nên năng suất cao.

    – Vụ hè: thu hoạch sau tết âm lịch, trồng trên đất sau lúa ở An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp và các tỉnh miền Trung.

    3. Kỹ thuật làm vườn ươm

    Lượng hạt giống cần dùng cho 1 ha là 0,5 – 1 kg, tùy theo hạt nhỏ, hay hạt to. Ngâm hạt trong nước ấm (2 sôi 3 lạnh) từ 4 – 5 giờ. Vớt hạt rửa sạch hết nhớt. Ủ hạt trong khăn bông 2- 3 ngày ở nhiệt độ 28 – 30 độ C cho nứt nanh. Sau đó đem gieo vào bầu, đặt hạt nằm ngang, rễ quay xuống dưới.

    Túi bầu làm bằng plastic đường kính 10 cm, cao 10 – 12 cm, hoặc có thể làn đơn giản bằng lá chuối cuộn. Đất trộn bầu gồm đất, phân chuồng mục, trấu tỉ lệ 6: 4: 1. Sau khi gieo hạt xong lấp lớp đất mỏng phủ hạt, tưới đủ ẩm. Sau 3 ngày cây con mọc, mùa mưa cần che mưa cho cây con, để cây nơi có nhiều nắng cho cây khỏe. Sau mọc 1 tuần vào mùa ấm có thể trồng ra đồng. Vụ xuân sau gieo khoảng 20 ngày có thể trồng được.

    * Ghép dưa hấu lên gốc bầu: Dùng giống bầu sao, dễ thích nghi, nhân giống để làm gốc ghép. Gieo hạt bầu vào bầu đất. Khi cây bầu mọc hai lá mầm thì gieo hạt dưa hấu. Hạt dưa hấu gieo trong trấu hoặc cát đãi sạch, lấp lượt trấu hoặc cát dày 2 – 4 cm. Để hạt dưa hấu nơi ít ánh nắng để mầm mọc dài, lá mầm chậm mở. Khi cây bầu có lá thật, cắt phần ngọn bầu sát hai lá mầm từ hôm trước, ba hôm sau cắt vát phần ngọn dưa hấu dài 3 cm, dùng tăm tre cứng, nhỉnh hơn thân dưa hấu cắm vào ngọn bầu, rút tăm tre cắm ngọn dưa hấu vào lỗ ghim vừa rút ra. Nên ghép chỗ kín gió, lúc chiều mát, che cây ghép kín trong 3 – 5 ngày. Khi ngọn dưa hấu liền vào ngọn bầu, để cây chỗ mát, khi cây có 2 lá thật đem trồng (10 – 13 ngày).

    4. Mật độ, khoảng cách

    Khoảng cách thích hợp là 2,5 – 3m x 0,5 m (hàng cách hàng 0,5 m; cây cách cây 2,5 – 3 m); mật độ 6.500 – 9.000 cây/ha.

    5. Cách trồng

    Khi cây con có 2 lá thật thì tiến hành trồng ra ruộng. Rạch túi bầu và đặt cây vào lỗ đục sẵn, lấp đất kỹ. Không nên trồng sâu quá, tưới đủ ẩm trong 3 ngày đầu. Có thể phun thuốc trừ bọ trĩ, sâu ăn lá, rệp trước khi trồng cây ra ruộng.

    6. Phân bón a. Lượng phân bón (tính cho 1 ha)

    Tùy theo độ màu mỡ của đất mà bón phân ở mức thấp nhất và mức cao nhất.

    – Bón lót: Phân chuồng mục nên bón 25 – 30 tấn/ha, NPK tổng hợp loại 13 -13 – 0 bón 250 – 300 kg/ha, lân super bón 100 kg/ha.

    – Bón thúc: N: 80 – 150 kg/ha; K2O: 80 – 100 kg/ha.

    Ngoài ra còn có thể dùng bã đậu tương ngâm, nước phân chuồng ủ mục bón thúc khi quả đang phát triển.

    – Bón lót: rải đều phân theo rạch sau đó lấp đất.

    – Bón thúc:

    Lần 1: sau trồng 7 – 10 ngày, khi cây đã hồi xanh, hòa loãng phân đạm và kali tưới xung quanh gốc.

    Lần 2: sau trồng 15 ngày, hòa loãng phân đạm và kali tưới vào gốc.

    Lần 3: khi cây ra hoa, 20 – 25 ngày sau trồng, bón phân đạm và kali trộn lẫn vào gốc rồi lấp đất.

    Bón thúc nuôi quả: Sau khi thụ phấn, đậu quả, 40 ngày sau trồng thì bón thúc nuôi quả, chia làm 3 lần, cứ 1 tuần tưới 1 lần, hay bón vào gốc, sau đó tưới tràn. Trước khi thu hoạch 10 ngày (lần thứ 6), hòa loãng phần kali còn lại để tưới gốc cho quả ngọt.

    Lượng phân bón cho dưa hấu

    Nếu trồng dưa hấu ghép: Cách chăm sóc cây đòi hỏi khác cây không ghép. Giai đoạn đầu không nên bón thúc nhiều cho cây để tránh thân dưa lớn nhanh hơn thân bầu. Khi dưa ngả ngọn bắt đầu thúc từ từ, tăng dần lượng phân bón. Khi bón phân tránh để phân dính lên lá làm cháy lá, tránh làm tổn thương rễ khi chăm sóc.

    7. Tưới nước, chăm sóc

    Có thể tưới tràn vào rãnh, để đủ ngấm, sau đó phải tháo ngay, mùa hanh khô 1 tuần tưới 1 lần. Khi dưa có quả cần tưới đều đặn, không tưới ồ ạt tránh làm nứt quả. Trước khi thu hoạch 5 ngày ngừng tưới nước.

    – Nếu dùng màng phủ nông nghiệp, chỉ cần làm cỏ rãnh dưa, không nên dùng thuốc trừ cỏ ở rãnh dễ làm tổn thương lá.

    – Tỉa nhánh: Khi dưa ngả ngọn, cần tỉa bớt nhánh để tránh tiêu hao dinh dưỡng, dây khỏe, giảm sâu bệnh, quang hợp tốt. Nếu mật độ trồng trên 10.000 cây/ha, mỗi cây để 1 nhánh. Nếu mật độ trồng ít hơn 10.000 cây/ha, mỗi cây để 2 nhánh. Thường xuyên tỉa nhánh, nhất là các nhánh gốc và nhánh cấp 2, cắt bằng kéo vào lúc trời nắng.

    – Định hướng dây bằng cách lấy que tre ghim dây vào sát mặt đất để gió không làm lật dây.

    – Khi cây ngả ngọn cần trải rơm, rạ để tua bám, tránh gió lật dây

    – Thụ phấn: Thụ phấn là biện pháp kỹ thuật quan trọng để chăm sóc cây. Ong và côn trùng có thể thụ phấn cho hoa dưa hấu ở ngoài tự nhiên. Tuy nhiên, để thúc nuôi quả phát triển đều và thu hoạch cùng lúc, có thể thụ phấn bổ sung bằng tay. Thụ phấn vào buổi sáng 6 – 9 giờ, khi dây dài 1,5 m, sau trồng 25 – 30 ngày. Ngắt hoa đực nở to chấm phấn đều lên nhụy hoa cái to, thời gian thu phấn nên kéo dài 5 – 7 ngày. Khi quả to như quả chanh tiến hành định quả.

    – Chọn quả: Nên để mỗi dây 1 quả, ở vị trí hoa 3 – 4, quả có cuống to, dài, bầu to, không sâu bệnh. Chọn hoa cái trên dây to, khỏe, cắm que đánh dấu, tỉa bỏ các quả khác trên cây. Nếu quả nằm chỗ trũng nên kê lên rơm cho khỏi thối.

    BBT ( gt)/http://www.khuyennongvn.gov.vn/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Dâu Tây
  • Quy Trình Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Dâu Tây
  • Mách Nhỏ Bí Quyết Trồng Và Chăm Sóc Cây Dâu Tây Sai Trĩu Quả
  • Trồng Dừa Dứa Thơm Ngon Đúng Kỹ Thuật Để Cho Năng Suất Cao
  • Tìm Hiểu Hoa Dừa Cạn Và Cách Chăm Sóc Cây Từ A
  • Quy Trình, Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Dừa Cạn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Chăm Sóc Cây Hoa Dừa Cạn Archives
  • Tìm Hiểu Hoa Dừa Cạn Và Cách Chăm Sóc Cây Từ A
  • Trồng Dừa Dứa Thơm Ngon Đúng Kỹ Thuật Để Cho Năng Suất Cao
  • Mách Nhỏ Bí Quyết Trồng Và Chăm Sóc Cây Dâu Tây Sai Trĩu Quả
  • Quy Trình Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Dâu Tây
  • Dừa cạn có vị hơi đắng, tính mát, tác dụng hoạt huyết, tiêu thũng, hạ huyết áp, giải độc. Trong dân gian, Dừa cạn được dùng để thông tiểu tiện, chữa bệnh đi tiểu đỏ và ít, bị bế kinh, huyết áp cao, tiêu hóa kém. 1. Đặc điểm thực vật

    • Dừa cạn là cây thảo sống lâu năm, cao 40 – 60 cm, phân nhiều cành.
    • Thân mọc thẳng, hình trụ, nhẵn, lúc non màu xanh lục nhạt, sau chuyển màu đỏ hồng.
    • Lá mọc đối, hình bầu dục, gốc thuôn đầu tù hoặc hơi nhọn, dài 4 – 6 cm, rộng 2 – 3 cm, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt.
    • Hoa màu hồng hoặc trắng, mọc riêng lẻ ở kẽ lá gần ngọn; đài 5 thùy, hình ống ngắn, tràng có 5 cánh hợp, ống tràng hẹp phình ra ở dưới các cánh hoa; nhị 5 đính vào họng của ống tràng, chỉ nhị rất ngắn; bầu gồm 2 lá noãn dính nhau ở vòi.
    • Quả gồm 2 đại dài 2,5 – 3 cm, mọc thẳng hơi choãi ra; hạt nhỏ, hình trứng, màu nâu nhạt hoặc nâu đen.
    • Mùa hoa quả tháng 4 – 5 và tháng 9 – 10.

    2. Giá trị làm thuốc

    Bộ phận sử dụng: Lá hoặc rễ dừa cạn phơi khô hay sấy khô.

    Công dụng: Dừa cạn được dùng để thông tiểu tiện, chữa bệnh đi tiểu đỏ và ít, kinh bế, huyết áp cao. Có nơi dùng làm thuốc đắng, chát, ra mồ hôi. Chữa tiêu hóa kém và lỵ (cấp và mãn tính). Điều trị bệnh Hodgkin, bệnh bạch cầu lympho cấp. Vinblastin từ lá dừa cạn ở Việt Nam đã được chiết xuất dùng chữa bệnh bạch cầu.

    Phần II. Kỹ thuật trồng trọt

    Ở Việt Nam, dừa cạn mọc tự nhiên khá nhiều ở vùng bãi cát ven biển từ Hải Phòng đến Kiên Giang. Nơi tập trung nhiều nhất thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa. Ngoài ra còn có ở Côn Đảo, Phú Quốc.

    Cây còn mọc ở những vùng đồi, trên đất pha cát hoặc sỏi đá, độ cao tới 1500 m. Trong điều kiện trồng trọt cây sinh trưởng mạnh, khối lượng chất xanh thu được có thể cao gấp đôi cây mọc tự nhiên.

    2. Giống và kỹ thuật làm giống

    Tiêu chuẩn hạt giống:

    • Khối lượng 1000 hạt 2 – 3 gam.
    • Nhiệt độ nẩy mầm tối ưu: 20 – 22oC.
    • Tỷ lệ nẩy mầm: Trên 75%.

    Dừa cạn có thể nhân giống bằng cả hữu tính (từ hạt) và vô tính (giâm cành) nhưng khi sản xuất thường nhân giống bằng hạt.

    • Mỗi hecta cần gieo 500 – 700 g hạt.
    • Mỗi hecta vườn ươm gieo 3 – 4 kg hạt để trồng cho 7 – 8 ha dược liệu.
    • Ngâm hạt 3 – 4 giờ, vớt ra để ráo rồi gieo lên luống vườn ươm, phủ rơm, rạ và tưới nước.
    • Sau khoảng một tuần, hạt mọc, cần dỡ bỏ rơm rạ. Khi cây có 3 – 4 đôi lá thật (từ 40 – 45 ngày sau khi gieo) bứng đi trồng. Có thể gieo thẳng nhưng cách này tốn công chăm sóc hơn.

    Thời vụ gieo hạt vào tháng 9 – 10 hoặc tháng 2 – 3. Gieo vào mùa đông hạt lâu nẩy mầm vì thời tiết quá lạnh, nhiệt độ thấp. Gieo muộn hơn vào tháng 3 – 4, thời gian sinh trưởng bị rút ngắn, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng dược liệu dừa cạn sau này.

    • Dừa cạn ưa đất cát pha, đất phù sa, chịu hạn nhưng kém chịu úng.
    • Đất sau khi được chọn, cày bừa kỹ, làm sạch cỏ trước khi gieo trồng. Chia đất thành từng luống rộng 80 – 90 cm, lên luống cao 20 – 25 cm, rãnh rộng 25 – 30 cm.

    5. Mật độ, khoảng cách trồng

    • Mật độ 110.000 cây/ha.
    • Khoảng cách trồng 30 x 30 cm.

    6. Phân bón và kỹ thuật bón phân

    Thời kỳ bón phân

    Bón lót: Toàn bộ phân chuồng hoai mục và supe lân. Bón vào hốc hoặc bón theo rạch.

    Bón thúc: Toàn bộ phân đạm urê. Bón làm 2 – 3 lần.

    • Lần thứ nhất tiến hành sau khi cây bén rễ.
    • Các lần sau cách nhau 25 – 30 ngày cho đến khi cây bắt đầu ra hoa. Tùy tốc độ sinh trưởng của cây, có thể bón thúc thêm phân kali trước khi cây ra hoa.

    7. Kỹ thuật trồng và chăm sóc

    Khi cây có 3 – 4 đôi lá thật (từ 40 – 45 ngày sau khi gieo) được bứng đi trồng. Tưới nước đủ ẩm ngay sau khi trồng và duy trì đến khi cây bén rễ, hồi xanh. Có thể gieo thẳng theo rạch hoặc gieo vãi nhưng cách trồng này tốn công chăm sóc hơn.

    Kỹ thuật trồng:

    Cần làm cỏ, xới đất, vun gốc, kết hợp với bón thúc. Mặc dù dừa cạn là cây chịu hạn nhưng cũng phải giữ đủ ẩm thường xuyên. Chú ý tháo nước khi gặp mưa lớn.

    Dừa cạn ít bị sâu bệnh phá hại. Chủ yếu chỉ có sâu xám (Agrotis ipsilon) gây hại ở giai đoạn khi mới trồng. Đặc điểm gây hại và biện pháp phòng trừ như sau:

    Chăm sóc:

    Đặc điểm gây hại: Thường gây hại ở thời kỳ cây con. Loài sâu này thường gây hại vào ban đêm, ăn lá non hoặc cắn đứt ngang các thân và cành non. Sâu non màu xám đen hoặc màu nâu xám dọc theo

    hai bên thân có những chấm đen mờ.

    Biện pháp phòng trừ

    • Cày, phơi ải đất trước khi trồng 2 tuần để tiêu diệt trứng và nhộng. Làm đất kỹ, sạch cỏ trước khi trồng, làm sạch cỏ quanh bờ để hạn chế nguồn ký chủ phụ của sâu.
    • Đối với những ruộng có diện tích nhỏ có thể bắt sâu bằng tay vào buổi sáng sớm hay chiều tối bằng cách bới đất quanh gốc cây bị sâu cắn để bắt sâu.
    • Dùng bẫy chua ngọt để bẫy bướm. Cách làm bẫy: Cho 4 phần đường + 4 phần dấm + 1 phần rượu + 1 phần nước vào trong bình đậy kín, sau 3 – 4 ngày khi thấy mùi chua ngọt thì thêm vào 1% thuốc trừ sâu. Quấn giẻ hay bùi nhùi rơm rạ vào đầu gậy nhúng vào bả cắm trên bờ ruộng. Sau 2 – 3 ngày nhúng lại 1 lần. Bướm trưởng thành sẽ bay vào ăn bả chua ngọt và chết.
    • Ruộng bị sâu hại nặng có thể sử dụng các loại thuốc trừ sâu như: Thiamethoxam (ví dụ Actara 25WG, 350FS), Abamectin (ví dụ Shertin 3.6EC, 5.0EC). Hòa thuốc với nước theo tỷ lệ khuyến cáo ở bao bì, phun vào chiều tối. Nếu mật độ sâu cao nên phun kép hai lần cách nhau 5 ngày.

    9. Thu hoạch, chế biến và bảo quản

    Thu hoạch: Dược liệu thu sau khi trồng từ 3 – 4 tháng. Thu hái lá trước khi cây có hoa. Thu hoạch hạt giống: Khi quả chín có màu nâu nhạt.

    Sơ chế:

    • Lá phơi hay sấy khô. Trung bình 1 ha thu được 1 – 1,2 tấn lá khô/ lứa.
    • Thu rễ, rửa sạch đất cát, phơi hoặc sấy 50oC tới khô. Sau khi thu quả cho vào nong, nia phơi 1 – 2 nắng, hạt dừa cạn tự tách khỏi vỏ, đập hoặc vò đều cho vỏ tách hết hạt và sàng sẩy loại bỏ tạp chất và hạt lép, phơi tiếp 1 nắng nữa cho đến khi độ ẩm dưới 12 %. Mỗi ha có thể thu 100 – 120 kg hạt giống.

    Bảo quản: Dược liệu sau khi sơ chế cho vào bao nilon, để nơi khô mát, tránh mốc, mọt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Bán Cây Cam Cảnh Chơi Tết Từ: 600.000Đ
  • Cách Chăm Sóc Cây Chuông Vàng
  • Bán Cây Cau Vua Bảo Đảm Ngay Cả Với Số Lượng Lớn, Giá Rẻ Hà Nội
  • Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Cây Bí Xanh
  • Cây Sung Có Dễ Trồng Không? Cách Chăm Sóc Sung Bonsai Và Lưu Ý
  • Kỹ Thuật Trồng Dưa Hấu Leo Giàn

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Trồng Dưa Leo Đơn Giản Cho Quả Quanh Năm
  • Bán Hạt Giống Dưa Chuột F1 Giá Rẻ
  • Mách Bạn Hai Cách Trồng Dưa Chuột Trong Thùng Xốp Cho Quả Sai Trĩu
  • Cách Trồng Dưa Hấu Mini
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Dưa Hấu Tí Hon Tại Nhà
  • Phương pháp trồng dưa hấu dưa hấu leo giàn thì cách gieo hạt trong bầu vẫn giống như trồng dưới đất. Nhưng do mật độ trồng tăng gấp đôi nên lượng hạt giống vô bầu cũng phải gấp 2 lần. Đặc biệt liếp trồng sẽ nhỏ và nhiều hơn cách trồng trước đây (bò dưới đất). Khi trồng dưa hấu leo giàn liếp rộng 1m bề ngang, chiều cao 0.2-0.3 mét tùy theo mùa, hàng cách hàng 1.5-2 mét. Cây cách cây 0.35-0.4 mét. Do đó mật số dây sẽ tăng lên.

    Sau khi đưa cây con ra đồng vài ngày sau phải tiến hành làm giàn chuẩn bị cho dưa hấu bò lên. Do trái dưa nặng khoảng 3-5 kg nên giàn phải chắc chắn cần phải chọn cây tốt để trồng được nhiều vụ tiết kiệm chi phí.

    Trồng dưa hấu leo giàn thì khâu ngâm ủ hạt cũng giống dưa bò dưới đất, cách bầu dưa cũng như vậy. Trồng khoảng 10 ngày thì bắt đầu làm giàn khi trái dưa bắt đầu bỏ bằng thang thì tiến hành làm giàn. Vật liệu là cây tràm cưa ra khoảng 2.5 m làm cột hơi xiên 1 góc 30 độ cắm xuống đất. Mục đích cắm cây tràm hơi nghiêng để dây dưa hấp thụ được nắng, diện tích tiếp xúc dây dưa sẽ nhiều hơn, quang hợp nhiều giúp dây và trái phát triển tốt.

    Cây làm giàn để chiều cao khoảng 1.5 m thì bắt đầu cột cây tràm dọc theo hàng cây trụ đứng để sau này treo trái. Trên đầu mỗi trụ niềng bằng dây chì, đóng 2 cây cọc căng 2 bên cây tràm để khi gặp gió cây tràm không ngã. Khi làm giàn xong kéo 2 dây gân nhỏ cứ cách 1 tấc là 2 dây gân. Khi dây dưa bắt đầu bò lên cho đọt dưa giữa 2 dây gân mục đích để giử đọt dưa được cứng và thẳng hàng, nếu không cho đọt dưa giữa 2 hàng dây gân thì đọt dưa ngã nghiêng và bò lộn xộn khó quản lý.

    2. Bón phân – Chăm sóc

    Bà con có thể dùng máy làm vườn đa năng 3A để cắt cỏ trong vườn

    3. Phòng trừ sâu bệnh 4. Thu hoạch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Trồng Dưa Hấu Leo Giàn “cực Mới Lạ” Cho Bà Con
  • Dưa Leo Xanh F1 (Sieu Nang Suat)
  • Quy Trình Trồng Dưa Leo F1
  • Trồng Và Chăm Sóc Cây Dưa Leo Tại Nhà
  • Tiết Lộ Cách Trồng Và Chăm Sóc Dưa Leo Cho Mùa Vụ Bội Thu
  • Kỹ Thuật Trồng Và Tưới Tiêu Cho Cây Mía Đường

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Để Gieo Ươm Và Chăm Sóc Mai Tứ Quý
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Mít Trái Dài Malaysia
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Mít Thái Đơn Giản Nhất
  • Cách Trồng Mướp Hương Cho Quả ”sai Trĩu Giàn”
  • Cách Trồng Mướp Đắng ”khổ Qua” Sạch Tại Nhà Cho Nhiều Quả
  • Kỹ thuật trồng và tưới tiêu cho cây mía đường

    – Đất đồi, đất bãi và đất ruộng gồm các bước cày, bừa và rạch hàng để trồng:

    + Đất bãi và đất ruộng: Cày sâu 30 – 35 cm và bừa từ 2 đến 3 lần, rạch hàng 1 lần sâu từ 25 – 30 cm.

    + Đất đồi: Thiết kế hàng mía theo đường đồng mức (nơi có điều kiện áp dụng cày không lật với độ sâu 40 – 50 cm); làm đất trước khi trồng 40 – 60 ngày để phơi ải, diệt trừ nguồn sâu bệnh.

    – Đất trũng vùng Đồng bằng sông Cửu Long phải lên líp (liếp) rộng 6,0 – 20 m, cao 25 – 35 cm. Rãnh trồng sâu 20 – 25 cm, đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 -1 0 cm. Đất bị nhiễm phèn thì liếp rộng 4,5 – 5 m, cao 25 – 35 cm. Đáy rãnh phủ lớp đất xốp dày 5 – 10 cm.

    Cần thiết kế hệ thống tưới tiêu nước để kịp thời thoát nước mùa mưa và tưới bổ sung khi gặp khô hạn.

    Tuỳ điều kiện đất đai từng vùng và nhu cầu nguyên liệu cụ thể cho từng nhà máy để bố trí tỷ lệ các nhóm giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn cho phù hợp.

    + Có 2-3 mắt mầm tốt (mầm phía ngọn có đầy đủ bộ phận, có sắc tố đặc trưng; mầm phía gốc có vẩy mầm chưa hóa gỗ; mắt mầm không bị khô hoặc xây xát, dập nát), tỷ lệ rễ khí sinh dưới 10% số điểm rễ.

    + Không bị nhiễm sâu bệnh.

    + Có đường kính đạt trên 80% đường kính thân đặc trưng của giống và độ dài lóng không dài hoặc ngắn hơn quá 20% độ dài đặc trưng của giống.

    – Nếu có điều kiện hoặc ở trình độ thâm canh cao, có thể sử dụng cây giống nuôi cấy mô hoặc bầu hom 1 mầm để trồng, thay thế cho phương pháp trồng bằng hom 2 – 3 mắt mầm như trên và phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc của cơ sở cung cấp giống.

    – Mật độ: Tuỳ điều kiện đất đai và loại giống mía để bố trí mật độ, lượng hom giống cần từ 35.000 – 40.000 hom/ha (mỗi hom có 3 mắt), tương đương 8 – 10 tấn giống/ha.

    – Khoảng cách hàng: Tùy việc canh tác thủ công hoặc bằng máy để bố trí khoảng cách hàng đơn từ 0,8 – 1,2 m (canh tác thủ công), hoặc hàng kép từ 1,2 – 1,8m x 0,6 – 0,4m (canh tác bằng máy).

    – Cách trồng: Đặt hom theo rãnh hàng đơn (cách nhau 1 m) hoặc hàng kép (1,4m), phủ kín đất 3 – 5 cm (vụ trồng phụ) hoặc 7 – 10 cm (vụ trồng chính). Đất khô cần nén chặt cho hom tiếp xúc với đất. Trong vụ trồng chính nếu có điều kiện nên tưới ẩm sau khi trồng và sử dụng màng phủ nông nghiệp giữ ẩm và hạn chế cỏ dại cho mía.

    – Kỹ thuật dặm: Đào rãnh sâu ngang với đáy rãnh lúc trồng, đặt cây dặm và lấp kín gốc. Khi dặm đất phải đủ ẩm, cây đem dặm phải cắt bớt lá để hạn chế thoát hơi nước, nén chặt đất vào gốc cây dặm. Nếu có điều kiện cần tưới ngay sau khi dặm.

    a) Lượng phân bón cho 1 ha mía:

    – Vôi: Đất trồng mía có pHdưới 5, cần bón lót vôi bột (CaO) trước lần cày bừa cuối cùng, với lượng từ 800 – 1.000 kg/ha.

    – Phân hữu cơ: 10 – 20 tấn (phân chuồng, phân rác, bã bùn, tro,…) hoặc thay thế bằng 1 – 3 tấn phân hữu cơ vi sinh.

    – Phân hoá học: Tùy theo loại đất, vụ mía và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp.

    – Lượng phân bón cho mía gốc tăng hơn mía tơ từ 10 – 20%.

    – Khi bón phân đơn hoặc phân NPK hỗn hợp, cần quy đổi hàm lượng N, P2O5, K2O tương đương với tỷ lệ nêu trên. Tuỳ theo mức độ thâm canh để đạt được năng suất mía khác nhau mà bón với lượng khác nhau. Ở những vùng có lượng mưa lớn, xói mòn mạnh nên bón bổ sung các phân có chứa trung và vi lượng như sắt, man-gan và ma-nhê.

    – Bón lót: Toàn bộ phân hữu cơ, phân lân, 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Trường hợp cần phải xử lý mối và bọ hung thì bón thêm thuốc trừ sâu được phép sử dụng theo khuyến cáo của nhà sản xuất. Ngay sau khi bón lót, nên lấp 1 lớp đất mỏng 1 – 3 cm rồi mới đặt hom.

    – Bón thúc lần 1 (thúc đẻ): Khi mía 4 – 5 lá, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali.

    – Bón thúc lần 2 (thúc lóng): Khi mía 9 – 10 lá (khi mía có 1 – 2 lóng), bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali. Nếu đất khô hạn hoặc nhiễm phèn mặn thì nên bón bổ sung thêm 1 lần qua lá.

    Lưu ý: Trước khi bón thúc, ruộng phải dọn sạch cỏ dại, đất phải đủ độ ẩm. Phân được rải đều dọc theo hàng mía. Sau khi bón phân phải xới xáo vùi lấp phân để hạn chế bốc hơi, rửa trôi.

    – Chỉ tiến hành tưới nước bổ sung cho mía vào các giai đoạn khô hạn kéo dài, đặc biệt là giai đoạn mọc mầm, đẻ nhánh và bắt đầu vươn lóng. Dừng tưới cho cây mía trước khi thu hoạch 1 tháng.

    – Phương pháp tưới: Tùy theo điều kiện, có thể áp dụng các phương pháp tưới nước cho mía phổ biến như tưới thấm, tưới tràn theo rãnh mía, mà để đạt hiệu suất cao thì nên áp dụng phương pháp và

    Phương pháp tưới nhỏ giọt.

    – Lượng tưới: 40-50 mm/lần tưới, tương ứng với 400 – 500 m3/ha/lần tưới. Tưới 1 – 2 lần/tháng.

    b) Tiêu nước: Mía cần nhiều nước nhưng chịu úng rất kém, đặc biệt là thời kỳ cây con và thời kỳ vươn lóng. Để tránh bị úng, ruộng trồng mía phải bằng phẳng, thiết kế hệ thống tiêu nước ngay sau khi trồng, xung quanh ruộng cần có rãnh, mương đấu nối với hệ thống thoát nước để tránh bị đọng nước sau khi mưa to. Không nên để mía bị ngập úng quá 1 tuần.

    Phương pháp phun mưa.

    – Những nơi có diện tích lớn, tập trung, ruộng bằng phẳng, có điều kiện cơ giới có thể dùng máy kéo liên hợp với máy xới như: máy xới răng nhọn, máy xới cánh én, máy xới kiểu đĩa,… để diệt cỏ giữa 2 hàng mía, đảm bảo cho đất tơi, xốp, thoáng khí, giúp mía sinh trưởng tốt.

    – Xới vun cho mía: Thực hiện 2 lần:

    + Lần 1: Khi mía kết thúc mọc mầm (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 30-40 ngày).

    + Lần 2: Khi mía kết thúc đẻ nhánh (sau trồng hoặc sau thu hoạch vụ trước 60-80 ngày).

    – Chỉ dùng máy xới khi đất đủ ẩm, xới giữa 2 hàng mía cách gốc mía khoảng 20 cm.

    Lưu ý: Nếu trồng hàng kép cần tăng cường làm cỏ giữa 2 hàng kép.

    1.5. Phòng trừ cỏ dại:

    Cần tiến hành làm cỏ sớm, đặc biệt là ở giai đoạn mía dưới 4 tháng tuổi, phải đảm bảo ruộng mía luôn sạch cỏ dại.

    a) Biện pháp thủ công: Dùng cuốc, tay hoặc trâu, bò cày xới giữa hàng để diệt cỏ trong hàng mía.

    + Ngay sau khi trồng: Nếu đất có nguồn cỏ nhiều có thể phun một trong các loại thuốc tiền nảy mầm như: Gesapax 500FW (3-4 lít/ha), Ansaron 80WP (2-3 kg/ha), Mizin 80WP (3-6 kg/ha) hoặc Dual Gold 906EC (0,5-0,6 lít/ha), tiến hành phun phủ toàn bộ ruộng, trong phạm vi từ 2-5 ngày sau khi trồng. Chú ‎ý khi phun thuốc đất phải đủ ẩm.

    + Giai đoạn 30-40 ngày sau trồng: Có thể sử dụng thuốc Gesapax 500FW (3 -4 lít/ha), phun vào giữa các hàng mía (tránh phun vào ngọn, lá mía).

    + Giai đoạn 2-4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy cỏ xuất hiện nhiều do làm cỏ không kịp hoặc do trước đó không trừ cỏ, có thể sử dụng thuốc trừ cỏ tiếp xúc Gramoxone 20SL, liều dùng từ 2-2,5 lít/ha (trừ cỏ lớn), trộn với 2-2,5 lít thuốc Gesapax 500FW hoặc 2-2,5 kg thuốc Ansaron 80 WP (trừ cỏ non và hạn chế cỏ mọc trở lại) phun vào giữa các hàng mía, tránh phun lên mía.

    + Giai đoạn trên 4 tháng sau khi trồng: Nếu thấy có nhiều cỏ xuất hiện trở lại, có thể sử dụng thuốc Gramoxone 20SL để phun trừ như trên, với lượng dùng từ 2-2,5 lít/ha, nếu ruộng mía có nhiều cỏ 2 lá mầm, có thể trộn thêm khoảng 1 lít thuốc 2,4 D (Zico 48 SL). Ở giai đoạn này cần phải làm sạch cỏ để tránh lây lan sang vụ mía gốc.

    – Dùng thuốc Basudin 10G hoặc Diaphos 10H với liều dùng 20-30 kg/ha hoặc Padan 4G với liều dùng 30 kg/ha rải vào rãnh mía trước khi đặt hom hoặc rải vào sát gốc mía trước khi vun.

    – Cắt bỏ cây mầm bị sâu và làm sạch cỏ.

    – Khi có điều kiện thì thả ong mắt đỏ từ tháng thứ 3-8 sau trồng hoặc thu hoạch, định kỳ 15 ngày thả 1 lần với liều lượng thả là 50.000 ong/ha/lần.

    – Làm sạch cỏ, bóc và cắt lá già cho ruộng mía thông thoáng.

    – Khi thấy rệp xuất hiện, cần tổ chức diệt trừ dứt điểm không để lây lan bằng thuốc Trebon 10EC hoặc Supracide 40EC, pha nồng độ 0,1-0,15%, mỗi héc-ta sử dụng từ 1-1,5 lít thuốc, phun ướt đẫm đều khắp mặt lá, phun thật kỹ, tập trung những nơi có ổ rệp.

    c) Bọ hung đục gốc: Khi có nhiều bọ hung xuất hiện, trước khi vun gốc lần 1 rải thêm 25 – 30 kg thuốc Sago Super 3G vào gốc mía rồi vun đất.

    – Kịp thời nhổ bỏ và tiêu huỷ cây mía bị bệnh.

    – Ruộng mía bị bệnh nặng không nên để mía lưu gốc và phải luân canh cây họ đậu từ 1- 2 năm.

    – Cắt lá bệnh và tiêu huỷ.

    – Dùng thuốc boóc-đô hoặc sun-phát đồng trộn với vôi bột và đất bột theo tỷ lệ 10:40:50, rắc vào ngọn mía.

    e) Bệnh chồi cỏ, bệnh trắng lá:

    – Tổ chức hệ thống sản xuất, cung ứng và hoàn toàn sử dụng hom giống sạch bệnh 3 cấp.

    – Phun thuốc trừ sâu hoặc dùng bẫy đèn thu bắt, diệt côn trùng môi giới truyền bệnh.

    – Với đất tốt, cơ cấu chu kỳ luân canh 5 năm: 1 tơ + 3 gốc + 1 luân canh.

    – Với đất đồi, đất xấu chu kỳ luân canh 4 năm: 1 tơ + 2 gốc + 1 luân canh.

    Cây trồng luân canh với cây mía: sử dụng cây họ đậu để nhằm mục đích cải tạo đất.

    – Ngay sau khi trồng mía, tiến hành rạch 1-2 hàng dọc giữa 2 hàng mía, bón phân lót, gieo hạt, lấp đất đủ kín hạt.

    – Sau khi thu hoạch các cây trồng xen, nhanh chóng nhổ hết thân lá cây trồng xen, rải dọc theo chiều dài hàng mía, kết hợp bón phân thúc cho mía, xới giữa hai hàng mía để vùi lấp phân bón và thân lá cây trồng xen vào đất.

    – Cây trồng xen canh với cây mía: Sử dụng cây ngắn ngày, có thời gian sinh trưởng < 3 tháng như cây ớt, cây họ đậu, cây mè, dưa hấu,… ưu tiên cây họ đậu.

    – Chỉ lưu gốc những ruộng mía có năng suất cao, ít bị sâu bệnh, tỷ lệ mất khoảng < 20%.

    – Sau khi thu hoạch xong phải tiến hành vệ sinh đồng ruộng ngay. Dùng cuốc, dao để bạt (phạt) sát đất những gốc cao; loại bỏ cây mầm, cây bị sâu bệnh hay cỏ dại sót lại từ vụ trước.

    – Thu hoạch khi đất khô cần che phủ ruộng mía lưu gốc bằng nguồn ngọn, lá mía; gom ngọn lá mía xung quanh ruộng vào trong ruộng để tạo khoảng cách phòng chống cháy.

    – Thu hoạch khi đất đủ ẩm cần gom ngọn, lá mía từng hàng xen kẽ, kết hợp dùng trâu, bò cày xả hai bên luống để làm đứt các rễ già và xới vun luống, hoặc gom ngọn lá, mía cách 2 hàng kết hợp cày xả và xới vun luống bằng cơ giới, sau đó phủ ngọn lá mía trở lại toàn bộ mặt ruộng. Sau khi cày xả tiến hành bón phân lần 1 cho ruộng mía gốc với 100% phân lân phối trộn với 100% phân hữu cơ, 1/3 lượng phân đạm và 1/2 lượng phân kali, sau đó mới vun xới luống.

    – Sau khi áp dụng các biện pháp chăm sóc mía gốc ban đầu như trên và khi thấy mía tái sinh đều, cần tiến hành kiểm tra và dặm những chỗ mất khoảng 0,8 m. Phương thức dặm tương tự như ở vụ mía tơ, nhưng phải lưu ý đảm bảo đủ ẩm cho bụi mía sau khi trồng dặm.

    – Lượng phân và cách bón phân cho ruộng mía gốc:

    + Lượng bón: Tùy theo loại đất và điều kiện canh tác ở mỗi vùng mà điều chỉnh lượng phân bón sao cho phù hợp.

    + Kỹ thuật bón:

    Lần 1: Sau thu hoạch khoảng 1 tháng (đối với đất chủ động tưới) hoặc đầu mùa mưa (đối với canh tác nhờ nước trời): Bón 100% lượng lân, 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

    Lần 2: Khi mía bắt đầu vươn lóng hoặc sau lần thúc 1 khoảng 40-60 ngày, bón 1/2 lượng đạm và 1/2 lượng kali.

    – Các biện pháp chăm sóc, làm cỏ, xới xáo, phòng trừ sâu bệnh thực hiện tương tự vụ mía tơ.

    – Theo cảm quan khi mía chín: Lá mía sít lại, ngả màu hơi vàng nhạt, các đốt phần trên ngọn ngắn lại.

    – Dùng máy kiểm tra: Lấy mẫu ngẫu nhiên đem phân tích, khi mía đạt CCS ³ 9,0% mới bắt đầu thu hoạch.

    – Theo loại mía: Mía gốc thu hoạch trước, mía tơ thu hoạch sau.

    – Theo loại giống: Giống chín sớm thu hoạch trước, rồi đến giống chín trung bình và cuối cùng là giống chín muộn.

    – Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) được xác định bằng công thức:

    Năng suất mía thu hoạch lý thuyết (tấn/ha) = Mật độ cây hữu hiệu (1.000 cây/ha) x khối lượng cây trung bình (kg/cây).

    Trong đó, mật độ cây hữu hiệu và trọng lượng cây được xác định bằng việc lấy mẫu trung bình ngoài đồng ruộng.

    – Ước lượng chất lượng mía trước thu hoạch:

    + Sử dụng Brix kế cầm tay, xác định độ Brix (Bx%) của mía. Khi đó có thể ước lượng được chữ đường (CCS%) bằng công thức:

    Bx gốc + Bx ngọn

    + Lấy mẫu mía đem phân tích trong phòng có thể xác định được chính xác chữ đường (CCS%).

    Thu hoạch mía

    – Yêu cầu khi thu hoạch: Phải chặt sát gốc, không dập gốc, chặt ngọn ló “mặt trăng”. Róc sạch rễ lá, đạt tiêu chuẩn mía nguyên liệu.

    – Dụng cụ thu hoạch: Sử dụng dao hoặc rìu chặt mía chuyên dùng, được mài sắc trước mỗi lần sử dụng.

    – Mía được làm sạch tạp chất (lá, bẹ, rễ…) bó thành từng bó từ 10-15 kg và gom thành từng đống 30-50 bó nhằm giúp quá trình bốc xếp thuận lợi.

    – Thu hoạch xong nên dùng bạt che phủ tránh nắng bốc hơi, giảm lượng đường và phải vận chuyển ngay đến nơi chế biến trong vòng 24 giờ.

    – Hạn chế các phương tiện vận chuyển đi vào các ruộng mía lưu gốc.

    – Thời gian thu hoạch mỗi ruộng mía không quá 5 ngày tạo sự nảy mầm đồng đều để dễ chăm sóc mía gốc.

    – Sử dung vi sinh vật phân hủy lá mía hoặc tủ gốc để giữ ẩm, hạn chế cỏ dại và tăng hữu cơ cho đất.

    Bên cạnh việc chăm sóc như bón phân, phun thuốc phòng và chống sâu bệnh thì việc tưới tiêu cho diện tích lớn đất trồng mía là vô cùng quan trọng và cần thiết. Trong trường hợp này, giải pháp tưới tối ưu nhất cho bà con là và tưới nhỏ giọt trải luống trên diện rộng. Cụ thể là sử dụng các loại béc súng tưới:

    http://tuoinongnghiepvn.com/bec-tuoi-ducar-tho-nhi-ky

    hoặc bà con có thể tham khảo tại chúng tôi để được tư vấn cụ thể chi tiết hơn:

    Mọi chi tiết xin liên hệ: Website: chúng tôi Hotline: Mr Chính: 096.235.0704.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Mía
  • Hướng Dẫn Trồng Mía Cực Chuẩn
  • Kinh Nghiệm Trồng Cây Mía Đường Công Nghiệp
  • Kỹ Thuật Trồng Cây Mía: Cách Trồng, Cách Chăm Sóc Và Cách Thu Hoạch Mía
  • Kỹ Thuật Trồng Mía “siêu Năng Suất” Cho Bà Con
  • Cách Trồng Và Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Dưa Gang Tây Tại Nhà Cho Nhiều Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Trồng Dưa Gang Tại Nhà Cực Kì Đơn Giản
  • Cách Trồng Dưa Gang Cực Đơn Giản Mà Hiệu Quả Ngay Tại Nhà
  • Cách Trồng Dâu Tây Từ Hạt ”hiệu Quả Nhất”
  • Cách Trồng Dâu Tây Từ Hạt
  • Cách Trồng Dâu Tây Bằng Hạt Cho Quả “sai Chĩu Cành”
  • 1. Tổng quan cây dưa gang tây

    Dưa gang tây dạng dây leo có thân hình 4 cạnh. Lá mọc so le, nhẵn, hình tim, dạng trứng nhọn, có cuống mang 4-6 tuyến. Hoa lớn, mọc ở nách lá, kèm theo 3 lá bắc nguyên làm thành bao chung dưới cụm hoa; vòng tràng phụ hình trụ, có nhiều sợi hẹp, kéo dài, màu lục hay trắng, xếp nhiều dãy. Quả dạng quả mọng, nom như quả dưa, dài 20-25cm, màu lục nhạt, có thịt chứa nhiều hạt.

    Mùa hoa tháng 4-7; mùa quả tháng 8-11.

    Cây gốc ở Nam Mỹ, được nhập trồng ở các vườn gia đình ở các tỉnh miền Trung và các tỉnh phía Nam.

    Dưa gang tây là cây ưa ẩm, ưa sáng, thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm hoặc hơi khô. Dưa gang tây được trồng thành giàn cho leo làm cây cảnh, lấy bóng râm che nắng, vừa cho quả ăn sống hay làm rau. Thường trồng dễ dàng bằng cành giâm. Dưa gang tây ra hoa quả nhiều, trồng được bằng hạt và bằng các đoạn thân.

    Thịt quả nhầy như keo, bở như dưa bở, màu trắng hơi chua và dịu, vị nhạt, mùi dễ chịu, bao bọc các hạt và nằm ở phía giữa của quả. Thịt quả có thêm đường dùng ăn rất ngon được nhiều người ưa thích. Thịt quả chưa chín dùng nấu canh như Đu đủ (do đó người ta còn gọi là Đu đủ leo). Hạt được dùng làm thuốc trị sán. Rễ tươi là loại thuốc gây ngủ mạnh và được xem như là độc. Lá cũng độc vì chứa acid cyanhydric.

    4. Cách trồng cây dưa gang tây

    Cách trồng cây dưa gang tây tại nhà cực kỳ đơn giản. Để cây phát triển mạnh và cho ra quả to thì nên trồng vào các chậu lớn, thùng xốp lớn. Đất trồng cần tơi xốp, giàu dinh dưỡng và nhiều phân lân. Chúng ta có thể gieo trực tiếp vào đất trong chậu hoặc ươm giống vào các loại chén nhỏ, sau 7 -10 ngày sẽ chuyển cây con vào chậu trồng.

    Dưa gang kỵ bón nhiều phân hóa học, chỉ thích hợp bón phân hữu cơ, nhất là phân bò. Nếu lạm dụng nhiều phân hóa học, khi chín dưa sẽ xốp, rời rạc, ăn không ngon, khó bảo quản và vận chuyển khi tiêu thụ. Ngược lại khi bón nhiều phân bò, khi chín dưa sẽ có độ dẻo nhất định, không bị bể và có mùi thơm đặc trưng.

    Nước tưới đối với cây trồng khá quan trọng nhưng với dưa gang lại không cần phải tưới nhiều, nhất là thời kỳ cây đã già đã cho quả bởi nếu tưới quá nhiều nước trong giai đoạn này vừa tốn kém chi phí lại dễ làm dưa bị thối, chất lượng dưa không cao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trọn Bộ Kỹ Thuật Trồng Dưa Lưới Từ A Đến Z
  • Cách Trồng Dưa Lưới Vàng Bằng Thùng Xốp Ngay Trên Sân Thượng Tại Nhà
  • Kỹ Thuật Trồng Dưa Hấu Cho Quả “siêu To Khổng Lồ”
  • Cách Trồng Dưa Hấu Bằng Hạt Cho Năng Suất “cực Cao”
  • Cách Trồng Dưa Hấu Trong Thùng Xốp “hiệu Quả” Khi Không Có Vườn
  • Tin tức online tv