Hoa Lan Rung Lang Son

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Hoa Lan Rung Lang Son xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 25/01/2021 trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Hoa Lan Rung Lang Son để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 2.376 lượt xem.

Có 243 tin bài trong chủ đề【Hoa Lan Rung Lang Son】

【#1】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Lang Nhật

Đặc điểm của khoai lang Nhật là thân to mập, ít phân cành và có màu tím. Khả năng sinh trưởng phát triển mạnh, thời gian sinh trưởng 105 – 120 ngày. Năng suất 9 – 15 tấn/hécta. Dạng củ thuôn dài, vỏ củ nhẵn màu tím, ruột màu vàng đậm. Hàm lượng chất khô 27 – 33%. Phù hợp ăn tươi, chế biến, xuất khẩu.

1. Chọn giống

– Giống khoai lang để trồng có thể dùng dây hoặc củ. Dây giống phải đảm bảo khỏe mạnh, không sâu bệnh chưa ra rễ và hoa, dây bánh tẻ. Tuổi dây từ 45 – 75 ngày tuổi. Chỉ sử dụng dây đoạn 1 và 2 kể từ ngọn để làm dây giống, độ dài dây giống từ 25 – 30cm.

2. Thời vụ

– Khoai lang có thể trồng được quanh năm, thích hợp nhất vẫn là trồng vào tháng 2, 3 hoặc tháng 8, 9 hàng năm.

3. Chuẩn bị đất trồng

– Đất trồng phải được cày bừa kỹ, tơi xốp và làm sạch cỏ, sau đó lên luống rộng từ 1,2 – 1,5m, cao khoảng 35 – 40cm. Lên luống nên chọn hướng Đông Tây là thích hợp nhất.

4. Cách trồng

– Trồng khoai lang Nhật nên chọn khi đất ẩm, thời tiết mát mẻ.

– Mật độ trồng: thích hợp là từ 38 – 40 ngàn khóm/hécta. Khoảng cách dao động 5 – 6 dây/m chiều dài luống. Trồng hàng đơn, vùi dây giống ở giữa dọc theo luống và nối đuôi nhau. Đồng thời, đoạn dây này song song với mặt luống. Ngọn phải ở trên mặt luống 5 – 10cm (2 đốt), vùi dây độ sâu vùi khoảng 5cm.

5. Phương pháp bón phân

– Một hécta khoai lang Nhật bón từ 10-15 tấn phân chuồng, 60kg ure, 90kg kali và 30kg phân lân.

– Khi bón phân chia ra thành 3 đợt để cây khoai lang hấp thụ hết lượng phân bón.

– Lần 1: Bón lót tất cả lượng phân chuồng, phân lân và 30% phân đạm, 20% phân kali.

– Lần 2: Bón sau khi trồng khoảng 20 – 25 ngày. Lượng phân bón là 50% phân đạm và 30% phân kali.

– Lần 3: Bón phân sau khi trồng 40 – 45 ngày. Bón tất cả số lượng phân đạm, phân kali còn lại.

6. Chăm sóc

– Sau khi trồng khoai lang Nhật được 20 – 25 ngày thì tiến hành xới đất, làm sạch cỏ và kết hợp bón phân lần 2. Đồng thời vun nhẹ vào gốc cho cây khoai lang.

– Sau khi trồng khoai được 40 – 45 ngày, xới đất, làm sạch cỏ kết hợp bón phân lần 3 và vun nhẹ.

– Thường xuyên giữ đất ẩm, độ ẩm thích hợp khoảng 65 – 80%. Nếu vụ khoai lang gặp khô hạn thì cần phải tưới rãnh cho nước ngập 1/2 – 2/3 luống.

– Sau trồng khoảng 25 – 30 ngày tiến hành bấm ngọn để tăng cường sinh trưởng, phát triển thân lá giai đoạn đầu và tăng cường tích lũy chất hữu cơ. Nhấc dây làm đứt rễ con để tập trung dinh dưỡng về củ. Nhấc dây cần tiến hành thường xuyên, nhấc xong phải đặt đúng vị trí cũ không lật dây, tránh gây tổn thương đến thân lá.

– Thường xuyên thăm đồng phát hiện kịp thời sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

7. Phòng trừ sâu hại

– Có 2 loại sâu bệnh hay hại khoai lang Nhật là sùng non và bọ trưởng thành. Để giảm bớt sâu bệnh trên cây khoai lang nên trồng luân canh vụ khoai, vụ lúa, vụ bắp. Sau khi thu hoạch gom toàn bộ dây khoai, đặc biệt là những củ khoai đã bị sùng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bớt mật số sùng ở các vụ sau. Nếu có sẵn nước thì cho nước ngâm ruộng vài ngày diệt sùng, nhộng nằm trong đất. Ngâm hom giống trước khi trồng trong dung dịch thuốc Oncol 20EC (30ml/10 lít nước) hoặc Oncol 25WP (25g/10 lít nước) trong 30 phút, sau đó vớt hom ra để ráo rồi trồng.

– Ở giai đoạn hình thành củ, rắc thuốc hạt Lorsban 15G (6 – 8kg/hécta) kết hợp vun luống khoai cao, phủ kín gốc. Tưới nước sau khi rắc thuốc và thường xuyên tưới đủ ẩm cho luống khoai. Chú ý thời gian cách ly của thuốc Lorsban 15G là 21 ngày.

8. Thu hoạch

– Khi cây khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng, các lá phần gốc ngả màu vàng, bới kiểm tra thấy vỏ củ nhẵn, ít nhựa thì tiến hành thu hoạch. Thu hoạch vào những ngày khô ráo, không làm tổn thương xây xát, bong vỏ ảnh hưởng đến mẫu mã và làm giảm giá trị sản phẩm.

Nguồn : Nguyệt Hạ -baodongnai.com.vn


【#2】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Lang Nhật.công Nghệ Nông Nghiệp, Phụ Kiện Xe, Thú Cưng

Giống khoai lang để trồng có thể dùng dây hoặc củ. Dây giống phải đảm bảo khỏe mạnh, không sâu bệnh chưa ra rễ và hoa, dây bánh tẻ. Tuổi dây từ 45 – 75 ngày tuổi. Chỉ sử dụng dây đoạn 1 và 2 kể từ ngọn để làm dây giống, độ dài dây giống từ 25 – 30cm.

Khoai lang có thể trồng được quanh năm, thích hợp nhất vẫn là trồng vào tháng 2, 3 hoặc tháng 8, 9 hàng năm.

Chuẩn bị đất trồng

Đất trồng phải được cày bừa kỹ, tơi xốp và làm sạch cỏ, sau đó lên luống rộng từ 1,2 – 1,5m, cao khoảng 35 – 40cm. Lên luống nên chọn hướng Đông Tây là thích hợp nhất.

– Trồng khoai lang Nhật nên chọn khi đất ẩm, thời tiết mát mẻ.

– Mật độ trồng: thích hợp là từ 38 – 40 ngàn khóm/hécta. Khoảng cách dao động 5 – 6 dây/m chiều dài luống. Trồng hàng đơn, vùi dây giống ở giữa dọc theo luống và nối đuôi nhau. Đồng thời, đoạn dây này song song với mặt luống. Ngọn phải ở trên mặt luống 5 – 10cm (2 đốt), vùi dây độ sâu vùi khoảng 5cm.

– Một hécta khoai lang Nhật bón từ 10-15 tấn phân chuồng, 60kg

ure, 90kg kali và 30kg phân lân.

– Khi bón phân chia ra thành 3 đợt để cây khoai lang hấp thụ hết lượng phân bón.

– Lần 1: Bón lót tất cả lượng phân chuồng, phân lân và 30% phân đạm, 20% phân kali.

– Lần 2: Bón sau khi trồng khoảng 20 – 25 ngày. Lượng phân bón là 50% phân đạm và 30% phân kali.

– Lần 3: Bón phân sau khi trồng 40 – 45 ngày. Bón tất cả số lượng phân đạm, phân kali còn lại.

– Thường xuyên giữ

– Sau khi trồng khoai lang Nhật được 20 – 25 ngày thì tiến hành xới đất, làm sạch cỏ và kết hợp bón phân lần 2. Đồng thời vun nhẹ vào gốc cho cây khoai lang.

– Sau khi trồng khoai được 40 – 45 ngày, xới đất, làm sạch cỏ kết hợp bón phân lần 3 và vun nhẹ.

đất ẩm, độ ẩm thích hợp khoảng 65 – 80%. Nếu vụ khoai lang gặp khô hạn thì cần phải tưới rãnh cho nước ngập 1/2 – 2/3 luống. – Sau trồng khoảng 25 – 30 ngày tiến hành bấm ngọn để tăng cường sinh trưởng, phát triển thân lá giai đoạn đầu và tăng cường tích lũy chất hữu cơ. Nhấc dây làm đứt rễ con để tập trung dinh dưỡng về củ. Nhấc dây cần tiến hành thường xuyên, nhấc xong phải đặt đúng vị trí cũ không lật dây, tránh gây tổn thương đến thân lá.

– Thường xuyên thăm đồng phát hiện kịp thời sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

Phòng trừ sâu hại

– Có 2 loại sâu bệnh hay hại khoai lang Nhật là sùng non và bọ trưởng thành. Để giảm bớt sâu bệnh trên cây khoai lang nên trồng luân canh vụ khoai, vụ lúa, vụ bắp. Sau khi thu hoạch gom toàn bộ dây khoai, đặc biệt là những củ khoai đã bị sùng đưa ra khỏi ruộng tiêu hủy để hạn chế bớt mật số sùng ở các vụ sau. Nếu có sẵn nước thì cho nước ngâm ruộng vài ngày diệt sùng, nhộng nằm trong đất. Ngâm hom giống trước khi trồng trong dung dịch thuốc Oncol 20EC (30ml/10 lít nước) hoặc Oncol 25WP (25g/10 lít nước) trong 30 phút, sau đó vớt hom ra để ráo rồi trồng.

– Ở giai đoạn hình thành củ, rắc thuốc hạt Lorsban 15G (6 – 8kg/hécta) kết hợp vun luống khoai cao, phủ kín gốc. Tưới nước sau khi rắc thuốc và thường xuyên tưới đủ ẩm cho luống khoai. Chú ý thời gian cách ly của thuốc Lorsban 15G là 21 ngày.

Khi cây khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng, các lá phần gốc ngả màu vàng, bới kiểm tra thấy vỏ củ nhẵn, ít nhựa thì tiến hành thu hoạch. Thu hoạch vào những ngày khô ráo, không làm tổn thương xây xát, bong vỏ ảnh hưởng đến mẫu mã và làm giảm giá trị sản phẩm.


【#3】Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Khoai Lang

Giống khoai lang để trồng có thể dùng dây hoặc củ. Dây giống phải đảm bảo khỏe mạnh, không sâu bệnh chưa ra rễ và hoa, dây bánh tẻ. Tuổi dây từ 45 – 75 ngày tuổi. Chỉ sử dụng dây đoạn 1 và 2 kể từ ngọn để làm dây giống, độ dài dây giống từ 25 – 30cm.

2/ Thời vụ

Khoai lang có thể trồng được quanh năm, thích hợp nhất vẫn là trồng vào tháng 2, 3 hoặc tháng 8, 9 hàng năm.

3/ Chuẩn bị đất trồng

Đất trồng phải được cày bừa kỹ, tơi xốp và làm sạch cỏ, sau đó lên luống rộng từ 1,2 – 1,5m, cao khoảng 35 – 40cm. Lên luống nên chọn hướng Đông Tây là thích hợp nhất.

4/ Cách trồng

Trồng khoai lang nên chọn khi đất ẩm, thời tiết mát mẻ.

Mật độ trồng: thích hợp là từ 38 – 40 ngàn khóm/hécta. Khoảng cách dao động 5 – 6 dây/m chiều dài luống. Trồng hàng đơn, vùi dây giống ở giữa dọc theo luống và nối đuôi nhau. Đồng thời, đoạn dây này song song với mặt luống. Ngọn phải ở trên mặt luống 5 – 10cm (2 đốt), vùi dây độ sâu vùi khoảng 5cm.

5/ Phương pháp bón phân

Khoai lang cần được cung cấp nhịều nhất là phân K (Kali ), kế đó là P (lân) và cuối cùng là phân N (với lượng ít).

Chất K giúp cây chịu khô hạn, chịu nắng tốt, đồng thời giúp cây cho nhiều củ với củ to và nhiều bột hơn. Cùng với phân lân, kali còn giúp hom khoai lang đem trồng mau lại sức và sớm ra rễ hơn. Lượng kali cần bón khoảng 60 ~ 90 kg/ha K20 (tượng đương từ 100 ~ 150 phân Chlorua Kali), nhất là trên đất bạc màu. Khoai lang cần K nhất vào hai giai đoạn:

Giai đoạn mọc dài của dây (giai đoạn tạo củ): khoảng 1 ~ 1.5 tháng sau khi trồng. Cần K để tạo nhiều rễ củ tơ. Nên bón khoảng ½ tổng lượng kali cho cây.

Giai đoạn phát triển của củ: khoảng 2 ~ 3 tháng sau khi trồng. cây cần nhiều K để củ phình to, tích lũy nhiều bột, củ có màu đẹp và không bị xơ. Bón 1 / 2 tổng lượng kali còn lại cho cây.

Chất lân giúp cây được cứng cáp, rễ mọc tốt nên giúp hút nước và dinh dưởng cũng tốt hơn. Bón P cũng giúp khoai cho nhiều rễ củ hơn. Chỉ cần bón 45 ~ 60 kg/ha P 2O 5 (tương đương 270 ~ 350 kg/ha super lân) vào lúc trồng là đạt yêu cầu.

Chất N cũng cần cho cây khoai lang tăng trưởng để tạo thân và lá, nhưng bón nhiều vào lúc tạo củ sẽ cho nhiều rễ đực hoặc củ nhỏ, có nhiều xơ. Lượng đạm cung cấp chỉ cần 40 ~ 60 kg N /ha (tương đương 87 ~ 130 kg phân Urê) lúc gieo đến 20 ngày sau khi trồng

6/ Chăm sóc

Sau khi trồng được 20 – 25 ngày thì tiến hành xới đất, làm sạch cỏ và kết hợp bón phân lần 2. Đồng thời vun nhẹ vào gốc cho cây khoai lang.

Sau khi trồng khoai được 40 – 45 ngày, xới đất, làm sạch cỏ kết hợp bón phân lần 3 và vun nhẹ.

Thường xuyên giữ đất ẩm, độ ẩm thích hợp khoảng 65 – 80%. Nếu vụ khoai lang gặp khô hạn thì cần phải tưới rãnh cho nước ngập 1/2 – 2/3 luống.

Sau trồng khoảng 25 – 30 ngày tiến hành bấm ngọn để tăng cường sinh trưởng, phát triển thân lá giai đoạn đầu và tăng cường tích lũy chất hữu cơ. Nhấc dây làm đứt rễ con để tập trung dinh dưỡng về củ. Nhấc dây cần tiến hành thường xuyên, nhấc xong phải đặt đúng vị trí cũ không lật dây, tránh gây tổn thương đến thân lá.

Thường xuyên thăm đồng phát hiện kịp thời sâu bệnh hại để có biện pháp phòng trừ kịp thời.

Sau khi trồng khoai được 40 – 45 ngày, xới đất, làm sạch cỏ kết hợp bón phân lần 3 và vun nhẹ.Lúc này dây bắt đầu làm củ và nuôi củ sử dụng thuốc siêu tạo củ,kích thích bén rễ tạo nhiều củ, củ to đều, hạn chế các vết bệnh trên củ, hạn chế củ bị sượng, thối củ. Dùng Paclo hoặc Hac-09 để hãm dây xuống củ.

7/ Phòng trừ sâu hại

– Đối với các loại sâu ăn rễ người dân nên sử dụng các loại thuốc hạt như: Diazan, Basudin, Padan, FihusingLai.

– Đối với bọ hà, sâu đục củ dùng thuốc Andotox, Anhosan.

– Đối với sâu keo, sâu cuốn lá dùng thuốc Acelant, Novas Super 650EC, Adomate 50SC, Serpal, Pernovi. Promectin.

8/ Thu hoạch

– Khi cây khoai lang có biểu hiện ngừng sinh trưởng, các lá phần gốc ngả màu vàng, bới kiểm tra thấy vỏ củ nhẵn, ít nhựa thì tiến hành thu hoạch. Thu hoạch vào những ngày khô ráo, không làm tổn thương xây xát, bong vỏ ảnh hưởng đến mẫu mã và làm giảm giá trị sản phẩm.


【#4】Trồng Cây Đinh Lăng Trong Chậu Vừa Làm Cảnh Vừa Là Dược Liệu Quý

Với hàng loạt công dụng cực tốt cho sức khỏe nên hiện rất nhiều gia đình áp dụng kỹ thuật trồng cây đinh lăng trong chậu tại nhà.

Nhờ vào công dụng tuyệt vời của mình mà trước đó danh y Hải Thượng Lãn Ông từng gọi cây đinh lăng là cây sâm của người nghèo. Bởi trong dân gian cây đinh lăng rất dễ tìm, rẻ tiền lại có rất nhiều tác dụng trị bệnh hiệu quả.

Cách nhân giống cây đinh lăng

Theo chia sẻ của bà Nguyễn Thị Cẩn (Thuận Thành-Bắc Ninh)- người có nhiều kinh nghiệm trồng cây đinh lăng lâu năm tại nhà, trước khi trồng cây đinh lăng, nếu đã có sẵn trong vườn nhà muốn phát triển tiếp các chậu đinh lăng khác thì cần tiến hành nhân giống.

Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình nhân giống hãy lựa chọn cây có thân nhánh mập mạp, cành lá xanh tốt, không sâu bệnh. Sau khi đã lựa chọn được cành nhánh để nhân giống hãy chấm gốc vào thuốc kích thích ra rễ rồi ghim hom giống sâu vào khay hay chậu có lớp đất hay giá thể tơi xốp, dùng 4 ngón tay ấn xung quanh gốc ghim giúp cố định.

Thời gian hom giống mất khoảng một tháng là có thể ra rễ. Khi thấy ra nhiều lá mới dài được 10 cm thì nhổ đem ra trồng trong chậu. Cây đinh lăng có thể trồng bằng cách giâm cành và trồng quanh năm, nhưng tốt nhất nên trồng mùa nắng để cành giâm không bị thối úng.

Kỹ thuật trồng cây đinh lăng

Đất trồng cây đinh lăng có thể trộn hỗn hợp đất thịt tự nhiên hay đất pha cát và phân hữu cơ hoai mục cùng ít trấu hay dùng đất sạch ngoài thị trường có đóng bao sẵn trộn thêm đất dinh dưỡng phân trùn quế. Nếu muốn cây đinh lăng phát triển mạnh, cành lá xanh quanh năm nên trồng vào chậu to ngay từ lúc trồng, tránh sang chậu cây rất dễ chết.

Phương pháp trồng cây đinh lăng rất đơn giản, chỉ cần lấy hom giống đã nhân giống rồi cắm vào đất đã chuẩn bị sẵn. Nhớ khi trồng xong nên tưới nước đủ ẩm.

Cách chăm sóc chậu đinh lăng

Là cây ưa sáng nên khi trồng xong nhớ đặt chậu đinh lăng ở nơi đầy đủ ánh sáng hoặc chiếu sáng một phần. Nơi thích hợp để đặt chậu là sân thượng. Khi mới trồng cây vào chậu thì bạn tưới nước thường xuyên cho đến khi cây ra rễ mới. Khi cây đinh lăng đã lớn nhiều cành nhánh thì có thể tưới một ngày một lần trong mùa nắng, mùa mưa tưới cách ngày.

PGS.TS Trần Quốc Bình, Bệnh viện Y học cổ truyền TƯ cho biết, “đinh lăng là một trong số những cây thuốc Nam được trồng khá phổ biến ở Việt Nam. Riêng bộ phận rễ và gốc của cây đinh lăng thường được thái lát, sao khô rồi sắc nước uống có tác dụng bồi bổ khí lực, tăng cường sức đề kháng cho cơ thể.Do có tính mát nên người dân cũng hay đem rễ, gốc của loài cây này ngâm với rượu trắng để uống. Còn việc loại rượu này được đồn thổi có khả năng “bổ thận tráng dương” cho nam giới thì đến nay chưa được kiểm chứng.Đây đơn thuần chỉ là một vị thuốc Nam được người dân sử dụng rộng rãi, do có tính hàn nên thường dùng để chữa các chứng bệnh nóng trong như: Mát gan, sốt… Thực chất nó không có tác dụng giống nhân sâm hay chữa được bách bệnh mà mọi người thường nghĩ”, bác sĩ Bình nhấn mạnh.

Tác dụng chữa bệnh của cây đinh lăng

Nói tới tác dụng của cây đinh lăng, theo lương y Bùi Hữu Lộc (Hoài Đức), gốc rễ cây đinh lăng có tính mát, tác dụng làm thanh nhiệt, mát gan và bồi bổ cho cơ thể. Nó thường được dân gian đem thái miếng phơi khô rồi ngâm với rượu trắng theo một tỷ lệ nhất định.

Ngoài ra, dưới tác dụng của đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn.

Đặc biệt, dùng đinh lăng phòng và điều trị các bệnh kém tập trung, suy giảm trí nhớ, căng thẳng thần kinh, suy nhược thần kinh. Những người thiểu năng tuần hoàn não, tiền đình với các chứng hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, mất thăng bằng dùng cây đinh lăng có tác dụng rất tốt.

Đinh lăng còn ức chế men MAO nên cải thiện triệu chứng run của bệnh Parkinson. Người già bị bệnh run tay, run chân uống nước rễ đinh lăng bệnh tình cải thiện một cách rõ rệt.


【#5】Kỹ Thuật Trồng, Thu Hái, Chế Biến Cây Đinh Lăng Nếp

Đinh lăng là loại cây chịu hạn, không ưa đọng nước, phát triển tốt ở vùng đất pha cát, tơi xốp, có độ ẩm trung bình.

Làm đất trồng Đinh lăng: Khi trồng đại trà, diện rộng, phải cày bừa làm đất tơi. Nếu ở vùng đồi phải cuốc hốc sâu 20cm, đường kính 40cm/hố. Đất làm tơi, lên luống cao 20cm rộng 50cm. Nếu làm ruộng thưa nên đánh rạch ở giữa sâu 15cm rồi đặt hom giống cách nhau 50cm, đặt nghiêng hom theo chiều luống, giữa các hom bón lót bằng phân chuồng 4kg/sào và 20kg phân NPK (tránh bỏ phân sát hom giống). Sau đó lấp hom, để hở đầu hom trên mặt đất 5cm. Trồng xong, phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất tơi xốp. Nếu ở vùng đồi phải cuốc hốc sâu 20cm, đường kính hố 40cm.

Thời vụ, mật độ (khoảng cách) trồng

Đinh lăng trồng bằng cách giâm cành. Có thể trồng được cả bốn mùa nhưng tốt nhất là giữa xuân.

Thời vụ: Nên trồng vào mùa xuân, từ tháng 1-4. Vào mùa hè cần phải giâm hom giống 20-25 ngày cho ra rễ mới đem trồng. Giâm cành bằng cách đem hom cắm xuống đống cát để trong bóng mát.

Khoảng cách trồng: 40 x 50 cm hoặc 50×50 cm. Mật độ 40.000 đến 50.000 cây/ha.

Phân bón và kỹ thuật bón phân

Bón lót: mỗi hecta bón lót 10- 15 tấn phân chuồng, 400- 500 kg phân NPK, bón toàn bộ lượng phân lót, tránh bón sát và hôm giống.

Bón thúc: năm đầu vào tháng 6 sau trồng, bón thúc 8kg urê/sào bằng cách rắc vào má luống rồi lấp kín. Cuối năm thứ 2 vào tháng 9 sau đợt tỉa cành, bón thêm phân chuồng 6 tấn/ha và 300 kg NPK+100 kg kali. Bón thúc vào mùa thu, vun đất phủ kín phân bón, để cây có điều kiện phát triển mạnh vào năm sau

Đặt hom giống cách nhau 50cm, đặt nghiêng hom theo chiều luống, giữa các hom bón lót bằng phân chuồng 4kg/sào và 20kg phân NPK (tránh bỏ phân sát hom giống), sau đó lấp hom, để hở đầu hom trên mặt đất 5cm.

Trồng xong, phủ rơm rạ hoặc bèo tây lên mặt luống để giữ độ ẩm và tạo mùn cho đất tơi xốp. Khi trồng cong, nếu đất khô phải bơm nước ngập 2/3 luống hoặc tưới nước đảm bảo độ ẩm cho đất trong vòng 25 ngày nhưng không để ngập nước. Nếu trời mưa liên tục phải thoát nước ngay để tránh thối hom giống.

1. Kết hợp làm cảnh và thu dược liệu: có thể trồng từng hốc hoặc từng hàng thẳng tắp hoặc theo hình dáng tuỳ thích (như hình thoi, vòng tròn, vòng ô voan…)

a. Trồng từng hốc: đào hốc có đường kính 1m, sâu 35-40cm. Lót đáy hố bằng miếng PE hay nilon cũ (để rễ cây tập trung trong hố, khi thu hoạch sẽ lấy gọn cả bộ rễ một cách dễ dàng). Trộn đất với phân chuồng hoai mục (10kg) cho đầy hố, nén đất xuống rồi trồng cây đã ươm vào, ba cây một hố theo hình tam giác đều, cây cách cây 50cm. Tưới nước và ấn chặt đất xung quanh gốc, rồi vun đất tạo thành vồng có rãnh thoát nước xung quanh. Nếu có bèo tây ủ vào gốc để giữ ẩm là tốt nhất.

b. Trồng theo hàng thẳng hoặc tạo hình dáng: Đào băng rộng 40cm, sâu 35-40cm, rồi lót nilon cũ hoặc PE cũ xuống đáy và trồng cây như trên (không đặt cây theo hình tam giác đều mà chỉnh theo hàng thẳng hoặc hình dáng định trồng)

2. Trồng trên diện tích lớn: làm luống rộng 60cm, cao 35-40cm, bổ hốc thành hai hàng lệch nhau, cây cách cây 50cm. Cho phân hoai mục xuống, lấp đất mỏng, đặt cây đã ươm vào trồng. Tưới nước rồi ấn chặt đất quanh gốc. Nếu trồng trên đất dốc phải làm luống theo đường đồng mức để tránh trôi màu, thoát nước quá nhanh sau khi mưa.

Chăm sóc và quản lý đồng ruộng

Đinh lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn, ít sâu bệnh. Hầu như không cần sử dụng thuốc BVTV. Từ năm thứ 2 trở đi cần tỉa bớt lá và cành, mỗi năm 2 đợt vào tháng 4 và tháng 9. Mỗi gốc chỉ để 1-2 cành to là được.

Năm đầu vào tháng 6 sau trồng, bón thúc 8kg urê/sào bằng cách rắc vào má luống rồi lấp kín. Cuối năm thứ 2 vào tháng 9 sau đợt tỉa cành, bón thêm phân chuồng 300kg/sào và 15 kg NPK+4kg kali. Làm cỏ kịp thời. Bón thúc vào mùa thu, vun đất phủ kín phân bón, để cây có điều kiện phát triển mạnh vào năm sau. Trồng từ 3 năm trở lên mới thu hoạch.

Quản lý đồng ruộng : Kiểm tra thường xuyên tình trạng đồng ruộng, dụng cụ phun thuốc và các bao gói, vệ sinh dụng cụ và sử lý nước thải khi vệ sinh dụng cụ phun thuốc, phòng ngừa khả năng gây ô nhiễm đất trồng và môi trường vùng sản xuất.

Đinh Lăng là cây phát triển quanh năm, chịu hạn và ít bị sâu bệnh hại. Giai đoạn đầu mới trồng thường bị sâu xám cắt lá mầm và ăn vỏ thân, giai đoạn cây phát triển mạnh hầu như không bị sâu hại mấy.

Trong giai đoạn đầu cần chú ý phòng từ kịp thời tránh ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển của cây. Có thể dùng thuốc hoặc bắt bằng tay vào sáng sớm hoặc chiều muộn. Có thể dùng một số loại thuốc phòng trừ sâu xám như sau: Dùng thuốc đơn TP-Pentin 18EC; Basudin 50EC; Shecpain 36EC; Gottoc 250EC hoặc phối hợp hai loại thuốc khác nhau: Diptere 80WP + Karate 2,5EC; Sevin 40% + Sherpa 25EC; Ganoi 95SP + Abamectin 36EC, Regent 800WG + Sokupi 0,36AS… hoặc dùng một trong các loại thuốc sâu dạng hạt, bột như: Basudin 10H; Vibasu 10G; Furadan 3G; Regent 3G… trộn một phần thuốc với 10 phần đất bột khô rắc vào quanh gốc cây khi cấy trồng có tác dụng phòng trừ sâu xám rất tốt.

2. Thu hái, chế biến, bảo quản Thu hoạch chế biến sau thu hoạch

Đinh lăng trồng từ 3 năm trở lên mới thu hoạch. Đinh lăng có thể thu hoạch quanh năm, song tốt nhất là vào tháng 11 – 12. Củ và rễ tươi đã thu hoạch cần chế biến ngay, không nên để quá 5 ngày. Có thể thái lát mỏng 0,3 – 0,5cm rồi rửa sạch đem phơi hoặc sấy khô. Đóng bao 2 lớp: trong nilông, ngoài bao tải dứa để tránh mốc.

– Lá: khi chăm sóc cần tỉa bớt lá chỗ quá dầy, khi thu vỏ rễ, vỏ thân thì thu hoạch lá trước, sau đó mới chọn hom giống. Lá thu được đem hong gió cho khô là tốt nhất (âm can). Cuối cùng sấy cho thật khô.

– Vỏ rễ, vỏ thân: có thể thu hoạch vào cuối thu năm thứ 2 (cây trồng 5 năm có năng suất vỏ rễ vỏ thân cao nhất). Rễ và thân cây rửa sạch đất cát, cắt rời rễ lớn, hong gió một ngày cho ráo nước (khi bóc vỏ rất dễ) để riêng từng loại vỏ thân, vỏ rễ sau khi bóc. Rễ nhỏ có đường kính dưới 10mm không bóc vỏ. Loại đường kính dưới 5mm để riêng. Phơi, sấy liên tục đến khi khô ròn là được.

– Loại I: vỏ, rễ cây loại có đường kính (lúc tươi) từ 10mm trở lên.

– Loại II: vỏ thân và vỏ rễ có đường kính dưới 10mm (vỏ thân gần gốc dày trên 2mm).

– Loại III: các loại rễ và vỏ thân mỏng dưới 2mm.

Bảo quản: nơi khô, sạch, chú ý phòng ẩm và mối mọt dễ phát sinh. Bao bì đóng gói: Đóng gói dược liệu bằng túi polyetylen dày khó rách, sau đó buộc chặt đầu tránh không khí sâm nhật làm ẩm, mất mùi thơm, ảnh hưởng đến chất lượng dược liệu. Đóng ngoài là bao gai bền có gi đầu đủ ký hiệu lô, ngày và nơi sản xuất.

Kho bảo quản: ở nơi cao ráo, thoáng mát có cửa thông thoáng, trang bị lệ sắt để đặt sản phẩm, kệ cách tường kho và cách sàn kho 20- 30 cm để tránh ẩm và mối mọt.

Thời gian bảo quản dược liệu: Dược liệu khô đóng gói kỹ trong điều kiện kho bình thường có thể bảo quản: Vỏ rễ, vỏ thân thời hạn sử dụng 2 năm. Nếu chế thành cao lỏng, dung môi rượu 45 0 C sẽ bảo quản được lâu và tiện sử dụng hơn. Lá thời hạn sử dụng 6 tháng.

Vận chuyển: Bao hàng đưa lên xe vận chuyển được đóng thêm một lớp bao tải để khi vận chuyển trên đường tránh rách nát, làm hỏng dược liệu. Dùng xe chuyên biệt để chuyên chở dược liệu.

Viện nghiên cứu cây đàn hương và thực vật quý hiếm (ISAF)

E-mail: [email protected]


【#6】Tổng Hợp Những Cách Cắm Hoa Lẵng Đẹp Nhất Dành Cho Bạn

/5 – 0 Bình chọn – 2645 Lượt xem

– Trước khi cắm hoa cần xác định ý tưởng để chọn bình hoa, loại hoa và kiểu cách cắm hoa lẵng đẹp cho phù hợp. Màu sắc và hình dạng của bình hoa cần có sự cân bằng trong kết cấu và hài hòa trong màu sắc. Hoa chính nên cao hơn hoa phụ.

– Đặc điểm nổi bật của phong cách cắm hoa theo nghệ thuật phương Đông là chọn hoa khá ít, tạo bố cục đơn giản, thanh thoát, nhấn mạnh tính thẩm mỹ từ những đường nét của hoa. Còn cắm hoa theo phong cách nghệ thuật phương Tây chủ yếu là chú trọng sự đối xứng, hoa nhiều và xum xuê, màu sắc sặc sỡ để đạt hiệu quả về màu sắc muôn vẻ.

– Cắm theo phong cách phương Đông đòi hỏi phải có tỉ lệ tương xứng, độ cao của cành hoa thường bằng 1,5 lần độ cao của bình. Còn cắm hoa theo kiểu phương Tây thường chọn những loại bình hoa thông thường có miệng rộng để cắm được nhiều hoa.

– Sau khi thực hiện cắm hoa trong lẵng xong cần xem xét độ cao của lẵng hoa để quyết định vị trí đặt sao cho thích hợp.

– Cắt tỉa những cành thừa, cành nhỏ, lá quá dày để chỉnh lại dáng cho cành.

– Nếu thấy cành hoa có dấu hiệu bị héo, bạn không được cắm ngay vào bình mà để chỗ mát để phun nước vào chờ hoa hồi lại rồi mới cắm vào bình.

– Trước khi cắm hoa cần cắt bỏ gốc, cắt vát 1 góc 45 độ để tăng diện tích bề mặt hút nước cho hoa.

Những cách cắm hoa lẵng đẹp và được nhiều chị em yêu thích

Cách cắm hoa lẵng 2 tầng đơn giản

    3 bông ly, 3 bông cẩm tú cầu, hoa hồng, lan tường, lá trúc, dương xỉ

Cách thực hiện:

Bước 1: Trước tiên là cắm những cành dương xỉ và lá trúc để xác định form của lẵng hoa. Tiếp đến là cắm 3 cành cánh én theo thứ tự từ cao xuống thấp để xác định độ cao của lẵng.

Bước 2: Dùng 3 bông ly hồng làm hoa trung tâm, cắm tiếp 3 bông cẩm tú cầu. Lần lượt dùng những cành lan song hỉ để xác định độ rộng bao phủ của cả lẵng hoa. Về cơ bản form dáng đã được xác định, giờ thì cắm kèm hoa hồng, lan tường vào những chỗ còn trống để lấp đầy và hoàn thiện tầng 1 của lẵng hoa.

Bước 3: Cắm tương tự với tầng hoa thứ 2 ở dưới thấp hơn với độ cao và độ rộng nhỏ hơn. Cần lưu ý cách khoảng cách giữa 2 tầng phải có sự kết nối để tạo một tổng thể hài hòa và đồng điệu.

Cách cắm lẵng hoa vàng làm sáng rực không gian

Chuẩn bị:

– Hoa hướng dương, hoa địa lan xanh mơ và vàng (mỗi loại một cành), lan vũ nữ, Mokara vàng chanh, hoa loa lèn màu kem, hồng nhạt và rượu chat.

– Hộp gỗ, giấy nilon, xốp cắm hoa, dây ruy băng

Cách cắm hoa:

Bước 1: Trước khi thực hiện cách cắm lẵng hoa đẹp này, bạn cần chuẩn bị hộp cắm hoa. Đầu tiên là lót miếng giấy nilon vào hộp gỗ, đặt miếng xốp cắm hoa vào sao cho vừa với kích thước hộp. Dùng kim bấm gỗ cố định dây ruy băng vào phía trong hộp, sau đó đặt miếng xốp lên trên và cột thật chắc vào hộp gỗ.

Bước 2: Tiếp theo là cách cắm hoa hướng dương trong lẵng hoa này. Cắm khoảng 5-7 cành hoa hướng dương cắm ở các phía đối xứng của hộp để tạo nền vàng. Lưu ý là cắm hoa nhỏ trên cao và hoa to ở dưới thấp để tạo dáng thon, đẹp cho hộp hoa.

Bước 3: Tiếp đến là cắm khoảng 15-20 cành địa lan vào một góc của hộp hoa.

Bước 4: Sử dụng 5 bông hoa loa kèn dáng cao, cánh cứng cắm phía trên cao. Phân bổ các bông còn lại theo tầng từ cao đến thấp để tạo vẻ thanh thoát cho hộp hoa.

Bước 5: Dùng lan vũ nữ và Mokara cắm xen kẽ vào những chỗ còn trống.

Bước 6: Cuối cùng là bạn trang trí hộp hoa với lá dong và lá mật cật cắm ở phần dưới để che xốp cắm và làm nổi bật tông màu chính của hộp hoa.


【#7】Lan Rừng Miền Nam Việt Nam

Theo Helmut Bechtel (1982), hiện nay trên thế giới có hơn 700 giống lan rừng gồm 25.000 loài được xác định, chưa kể một số lượng khổng lồ lan lai không thể thống kê chính xác số lượng.

Lan rừng phân bố trên thế giới gồm 5 khu vực:

– Châu Á nhiệt đới gồm các giông Bulbophylium, Calanthe, Coelogyne, Cymbidium, Dendrobium, Paphiopedilum, Phaius, Vanda, Phalaenopsis.

– Châu Mỹ nhiệt đới gồm các giống Brassavola, brassia, Catasetụm. Cattleya, Cynoches, Pleurothailiis, Stanhopea, Zygopetalum.

– Châu Phi gồm các giống Lissochius, Polystachiya, Ansellia, Disa

– Châu Úc gồm các giống Bulbophyllum, Calanthe, Cymbidium, Dendrobium, Eria, Phaius, Pholidota, Sarchochiius, Spatìioglottis. Riêng Tân Ghi nê trên 2.500 loài trong đó phần nhiều là Dendrobium và Bubophyllum.

– Vùng ôn đới của châu âu, Bắc Mỹ và Đống Bắc á châu gồm các giống Cypripedium. Orchis, Spiranthes.

Việt Nam là một nước Đông Nam Á nằm trong khu vực cháu Á nhiệt đới, là một trong hai khu vực tập trung nhiều lan đẹp nhất trên thế giới: châu Á và Nam Mỹ

Theo Phạm Hoàng Hộ (1993) lan rừng Việt Nam được biết gồm hơn 750 loài khác nhau, phần giới thiệu sau đây chỉ tập trung vào một số loài lan có hoa đẹp, trữ lượng nhiều, có triển vọng kinh doanh trong lĩnh vực thương mại trong tương lai.

Mỗi loài lan rừng đều yêu cầu một điều kiện sinh thái nhất định, ngoại trừ một vài loài lan có khá năng thích nghi biên độ khí hậu rộng. Thường mỗi loài dều cự ngụ tại nguyên quán thích hợp. Các nhà săn lan nhận thây rằng các vùng ven suối vùng trũng, trong rừng sâu mật độ lan cao hơn và mất hẳn khi gần trảng trống, Tuy nhiên, ơ mức độ giới hạn nào đó, càng vào sâu trong rừng mật dộ lan sẽ giảm dần, cũng phải kể một trường hợp cá biệt khác là loài Hạc đỉnh chỉ mọc trên các trảng trống trong rừng, xen kẽ vổi các loài cỏ dại.

Rừng Việt Nam có nhiều loài lan quý nhưng chưa được quản lý và khai thác một cách hợp lý. Điển hình nhất là loài lan hài Hồng Paphiopedilum Delenatii. Trước đây nhiều nước yêu cầu Việt Nam xuất khẩu sang cho họ loài lan này, nhưng giờ không tìm ra. Đến năm 1993 khi phát hiện loài lan này thì thương nhân Đài Loan đã mang về nước họ gần 3 tấn (khoáng 100.000 cây) làm Việt Nam mất hàng triệu Đôla. Đây là loài lan quí, nhưng vì chưa có chính sách quản lý nên nhiều người xuất lậu dưới dạng bán kg. Một sự thất thoát tài nguyên vô lý ! Tháng 2/1995 nhiều chủng loại lan rừng Việt Nam được trưng bày tại TOKYO (Nhật Bản) và dã gây được sự chú ý của giới lan chuyên nghiệp trên thế giới, Đầu năm 1997 Canada cũng mời Việt Nam trưng bày, và giới thiệu một số mẫu lan rừng nhưng chúng ta không tham gia được.

Với sộ lượng 500 loài của riêng các tỉnh miền Nam, chưa kể một số loài do điều kiện chiến tranh chúng ta chưa tìm kiếm được. Việt Nam cũng thuộc là một trong những nước có lan nhiều trên thế giới.

Về màu sắc, lan Việt Nam có nhiều màu từ nhạt sang dậm, màu trắng tuyền như’ loài Thạch hộc (Dendrobium crumenatum), Tuyết Ngọc (Coelogyne mooreana) Màu vàng như các loài Kim Điệp (Dendrobium capillipes). Màu cam như Ascocentrum miniatum. Màu đổ như Huyết nhung (Renanthera coccinea). Màu hồng như Hồng lan (Cymbidium insigne). Màu trắng xanh như Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana). Màu cà phê sữa như Hạc đỉnh (Phaius Tankervilliae) Màu nâu như Đoản kiếm (Cymbidium aloifolium) màu tím hoa cà như Giả hạc (Dendrobium anosmum) (Chỉ riêng màụ đen không xuất hiện trên bất kỳ một loài lan nào, ở Việt Nam hay trên thế giới?). Với một số lượng màu đa dạng như vậy, nếu được lai tạo lan Việt Nam sẽ có một tổ hợp về màu sắc rất phong phú. Chưa kể một số loài lan khảm có sẳn trong thiên nhiên như loài Đuôi cáo (Aerides multiflora) Ngọc điểm (Rhynchostylis gigantea), cểm báo (Hygrochilus parishii), Bò cạp (Arachnis annamensis), Long nhãn kim điệp (Pendrobium fimbriatum) Thái bình (Dendrobium pulchellum).

Về độ bền của lan, Việt Nam có nhiều giống lan rừng nở trên 2 tháng như Mỹ dung dạ hương, Huyết nhung, Hoàng lan, Hồng lan… Có loại trung bình 1- 2 tuần như Long tu (Dendrobium primulinum), Kim điệp, Đuôi cáo, Ngọc điểm… Thậm chí có loài chỉ nở một ngày như loài Thạch hộc.

Về kích thước, lan rừng Việt Nam có nhiều loài hoa bé như các loài của giống Eria. Các loài khác có kích thước trung bình. Một vải loài có kích thước lớn hơn 10cm như Hạc đỉnh, Huyết nhung, Mỹ dung dạ hương.

Về hương thơm, đây là ưu điểm chính của các loài lan Việt Nam. So với các loài lan lai, lan rừng Việt Nam có kích thước bé hơn nhưng nhờ đa sô’ có mùl thơm nên vẫn hấp dễn các người ái mộ như Mỹ dung dạ hương, Hạc đỉnh, Đuôi cáo, Ngọc điểm. Thạch hộc, Thanh ngọc, Nhất điểm hồng, Giả hạc…

Lan Việt Nam là lạn của vùng nhiệt đới chịu ảnh hưởng bởi 2 mùa nắng mưa rõ rệt, vì thế đa số các loài lan mỗi năm chỉ cho một kỳ hoa, trừ loài Thạch hộc có thể nở bất kỳ trong năm. Mùa nở hoa tập trung vào 2 thời kỳ vào khoảng tháng 2 (tức tết âm lịch) và tháng 4 trong mùa nắng do sự thọ hàn và quang kỳ tính và tháng 7 tháng 8 do sự khô hạn.

Với các đặc điểm trên, lan Việt Nam là nguồn thuận lợi để lai giống lan, nếu chúng dược khai thác đúng mức trên khía cạnh di truyền học.

Có thể tạm chia lan rừng của các tỉnh miền Nam làm 4 khu vực khác nhau :

1. VÙNG MIỀN ĐÔNG NAM BỘ

Đây là vùng rừng khô đã bị khai thác nhiều lần, tầng trên còn ít gỗ quí, tầng dưới là các loại gỗ tạp mới tái sinh, trải dài từ biên giới Cambodia đến biển Đông như các vùng : Xuyên Mộc, Bình Giả, Mã Đà, Lộc Ninh…

Ớ đây lan mọc nhiều nhất trên các cây Vừng (Careya arborea) Cây Râm (Anogeissus acuminata). Rải rác lan cũng mọc trên vỏ cây các loài khác như Sến mủ (Shorea roxburghii). Sao (Hopea odorata), Thành ngạnh (Cratoxylon sp.) Bằng lăng

(Lagerstroemia sp), Dầu con rái (Dipterocapus alatus).

Vùng này tập trung các loài có hoa đẹp như :

– Đuôi cáo (Aerides miltiflora)

– Ngọc điếm (Rhynchostylis gigantea)

– Giáng Hương (Aerides fcdcata).

– Đuôi chồn (Rhynchostylis retusa).

– Hỏa hoàng (Ascocentrum miniatum)

Vùng này còn có một loài lan đất là lan Bầu rượu (Calanthe cardioglossa) có nhiều ở trên các sườn núi đá ớ Vũng Tàu, Bà Rịa, Long Khánh.

Ngoài ra ở đây còn có một sô loài khác, không có giá trị về phương diện thẩm mỹ như:

– Tổ Yến (Acriopsis indica): Xuân Lộc.

– Chân rết (Appendicula cornuta): gần suối.

– Sậy lau (Arundina graminifolia): gần suối.

– Thanh hoàng (Calanthe graminifolia): Vũng Tàu.

– Lọng lan (Bulbophylỉum eberhardtii): gần suối.

– Hoàng yến (Coelogyne massengeana): Định Quán.

– Thanh đạm xanh (Coelogyne brachyptera): gần suối.

– Đoản kiếm (Cymbidium aloifolium): khắp nơi.

– Thanh ngọc (Cymbidium ensifolum): suối.

– Bạch câu (Dendrobium crumenatum): khắp nơi.

– Nhất điểm hồng (Dendrobium draconis): khắp nơi.

– Tép dẹp (Dendrobium flabellum): gần suối.

– Ý thảo (Dendrobium gratiosissimum): khắp nơi.

– Vảy rùa (Dendrobium nathanìelis): Long Khánh

– Báo hỉ (Dendrobium secundum): khắp nơi.

– Nỉ lan (Eria globilifera): khắp nơi.

– Cành giao (Luisia psyche): Đồng Nai

– Da beo (Staurochilus fasciatus): Gần suối

– Bắp ngô (Acampe rigida): khắp nơi.

2. VÙNG TRUNG NGUYÊN

Đây là vùng có cao độ trung bình 700 – 1.000 m . Nhờ nhiệt độ thấp, khí hậu ẩm mát, địa hình nhiều đồi núi. Rừng bị khai thác nhiều lần, nếu rừng nguyên thủy bị xâm chiếm bởi các rừng tre, lồ ô, thông 2 lá, ở đây còn có rừng hỗn giao giữa rừng thông 2 lá và dầu trà beng. Điều lưu ý là lan không bao giờ mọc ở rừng tre và hiếm khi mọc ở rừng thông. Nhiều nhât ở rừng diệp loại và rải rác ở rừng hỗn giao, nhưng cây chủ vấn là cầy diệp loại.

Ớ vùng này, đa số các loài lan mọc trên các loại cây chủ yếu sau đây : như Cà chắc (Shorea obtusa), cẩm liên (Swrea siamensis) Cà gần (Terminalia tomentosa) Chò xót (Schima crenata Korth) Các loại Dẻ sồi (Quercus, lithocarpus…), Sao (Hopea odorat), Sến (Shorea roxburghii) Vừng ( Carey a aborea) các loài trâm, các loài Bằng lăng, Thành ngạnh vì có vỏ láng và thay vỏ hàng năm nên các loài lan chỉ mọc được trong các bọng cây. Một số loài phong lan và địa lan lại mọc trên đá, ven suối. Vùng này có các loài địa lan mọc trên các vùng đầm lầy, trong các thung lũng giữa các dãy núi.

Đây là vùng tập trung nhiều giống Dendrobium có hoa đẹp nhất Việt Nam. Một tập đoàn Dendrobium gồm các loài: Lụa vàng (D.heterocarpum), Hoàng phi hạc (D. signatum) Thủy tiên các loại (D.densiflorum, D.haveynum, D. farmeri, D. thyrsiflorum), Long tu (D.primulinum), Kim điệp (D.capillipes) mọc xen kẽ nhau trên cóc cây dẻ, sồi trâm trong các quần thể rừng diệp loại, dọc theo triền núi, khe suối. Loài

Nhất điểm hồng (D.draconis) trên các cây Dầu trà beng hoặc Dầu đồng, Dẻ trong các rừng hỗn giao. Loài Giả hạc (D.anosmum) nhiều nhất trên cây cà chí, đôi khi trên các cây giẻ sồi, một số ít mọc trên đá, nhiều nhất ở vùng Tam Bố (Lâm Đồng) trải dài theo hướng Tây qua biên giới tỉnh Đắc Lắc rải rác loài này cũng mọc dọc đèo Ngoạn Mục, Đơn Dương, nhưng loại ở đây trổ hoa chậm sau tết 15 ngày. Loài Long nhãn kim điệp (Dendrobium fimbriatum) hầu như chỉ mọc trên đá dọc suôi ở Di Linh, loài Ý thảo (D.gratiosissimum) mọc trêncác cây Dẻ về phía Đông hướng về Phan Rang, Phan Thiết. Loài Đại ý thảo (D.aphyllum) chưa bao giờ được tìm thấy trên độ cao khỏi đèo Bảo Lộc. Loài Vảy cá (D.lindleyi) có ở Liên Khàng và Phi vàng. Loại Thạch hoa (D.linguella) hiếm gặp, loài Huyết nhung (Renanthera imschootiaha) mọc trên các cây Dẻ sồi, gần bờ suối, hoặc trên vách đá lưng chừng xuống chân núi. Loài Bò cạp (Arachnis annamensis) mọc trên các dông núi vùng rừng rậm có nhiều ở núi vôi, loài Mỹ dung dạ hương (Vanda denisoniana) chỉ mọc từ Di Linh đến Đơn Dương, Ca-đô có nhiều, loài này mọc nhiều trên cây Keo dậu, ở các đồn điền như Phi Vàng. Loài Đuôi cáo mọc nhiều trên các cây rừng thưa từ đèo Phú Hiệp đến thác Pông-gơ. Loài Hạc đỉnh (Phaius tankervilliae) mọc ở trảng trống trong rừng vùng đầm lầy hay vùng trũng thường mọc chung với loại lan khác là Ngãi Bưởi (Dipodium paludosum) rất thơm và loài Cau diệp ngà (Spathoglottis eburhea), có nhiều từ Di Linh đến Lang Hanh, vùng Tàu, có một đồng băng dài 10 – 50 km trước đây có rất nhiều hạc đỉnh.

Hiện nay khu rừng này đã bị phá và làm lúa. Loài Vân hài (Paphiopedilum cailosum) mọc trên đất dựa suôi hoặc ven các dầm lầy với các loài Hạc đỉnh và Ngài bưởi. Loại kim hài (Paphiopedilum Villosun) mọc nhiều thành từng dám trên thân cây Dẻ, Loại Xích thử mọc trên cây li hi, từ đèo Ông Cố đến Lang Hanh. Loài Bầu rượu cò nhiều ở Phương Lâm và núi Chứa Chan. Một loài đặc biệt chỉ mọc trên cây thông là loài Bạch Hỏa hoàng (Dendrobium bellatulum)

3. VÙNG CAO NGUYÊN

Đâylà vùng có cao độ trên l.000m, nhờ khí hậu lạnh ẩm, điều hòa, địa hình đồi núi, đây là nơi ưu thế ciia rừng thông 3 lá. Tuy nhiên các loài lan chỉ xuất hiện ở các thung lũng hoặc trên sườn núi có nhiều cáy diệp loại như sồi, dẻ.

Vùng này có các loài lan được biết đến là :

Hồng lan (Cymbidium insigne) mọc trên đất thường chung với cỏ tranh trên các dòng núi. Loài Hoàng lan (Cymbidium iridioides) mọc trên các bọng cây hoặc các cồy bạch tùng (Podocarpus imbricatus) có nhiều rêu vùng rừng rậm. Loại Hổng hoàng (C.insigne x.c.iridioides) một cây lan lai tự nhiên giữa Hoàng lan và Hồng lan thường mọc trên các cây bạch tùng. Loài Bạc lan (Cymbidium erythrostylum) loài Tử cán (Cymbidium dayanum) loài Thanh lan (CymbidiUììì cyperifolium) hiếm hơn được trồng có hoa rất thơm từ Đà Lạt. Loài Tuyết ngọc (Coelogyae mooreana) và nhiều loài Coelogyne khác có nhiều ờ núi Bà Laubiang và các thác, thung lũng ẩm. Loại Nhất điểm hoàng (Dendrobium flavum) có trên các cây Sồi Dẻ ở đèo Pren và Đà Lạt.

4. VÙNG NAM VÀ TRUNG TRUNG BỘ

Đây là vùng tập trung nhiều loài lan qúy và đặc hữu của Việt Nam. Nếu đi từ Ninh Thuận, Khánh Hòa về phía cao nguyên Buôn Mê Thuột thì sự xuât hiện của các loài lan gần giống vùng Bảo Lộc – Di Linh với các loài Thủy Tiên, Nhât điểm hồng; Loài Ngọc Bích (Rhynchostylis coelestis) chỉ mọc trong các kiểu rừng bán thay lá từ Bình Thuận đến Khánh Hòa – Loài Ngọc điểm từ Bình Tuy kéo dài đến Nha Trang ra tận nhừng đáo xa, ngược lêu sông Krõng Bách ân giáp qua Tô hợp, Ngọc Điểm ơ đày có trữ lượng rất lớn khoảng vài chục vạn cây và có cả loài Ngọc điểm trắng. Vùng này bị ảnh hướng của gió biển nhiều nên lan mọc rất thấp dưới 5m dễ lấy và thường mọc trên gộp đá có rêu. Vùng đèo Đại Lảnh, từ cầu sắt đến Đồ Sơn cạnh hồ sen có một loài Hài màu trắng chưa định danh khá đẹp.

Ở Dục Mỹ, vùng Hòn tre, Hòn ngang có loài Giá Hạc. Nếu qua khỏi đèo Phượng Hoàng, vùng Khánh Dương có các loài Thúy tiên tím (Dendrobium amabile), Hoàng Thao Xoán (Dendrobium tortile) Tím Huế (Dendrobium hercoglossum). Tại vùng giáp ranh giữa Ninh Thuận – Khánh Hòa và Đaklak còn có các loài lan đăc hừu và quý hiếm như :

Hài Hồng (Paphiopedilum delenatii).

Huyết Nhung giún (Renanthera coccinea)

Huyết Nhung trơn (Renanthera imshootiana)

Thái Bình (Dendrobium pulchellum)

Đơn Cam (Dendrobium unicum)

Trong vùng này còn có hai loài lan mới vừa được công bố trên thế giới năm 1993 bởi Tiến sĩ Haager (Viện Hàm Lâm Khoa Học Tiệp Khắc)

Loài thứ nhất là Ascocentum christensonianum (Tứ Hoàng) mọc trong rừng bán thay lá gió mùa, Phan Rang ở dộ cao 100 – 150m, ở dây chúng mọc chung vối loại Ngọc điểm (Rhynchostyiis gigantea), Điểu lan (Dendrobium delacourii),… loài này còn gặp ở Buôn Ya Vầm (Đaklak).

Loài thứ hai là Christensonia vietnamien (Uyên Ương) mọc trong rừng ẩm cao độ l00m, dọc theo suối Ea Dong gần làng Ninh Tây (Khánh Hòa). Loài này còn gặp ở cấc khé suôi dọc theo dèo Mang Yang (Gia Lai). Đây là một giống lan mới cho thế giới được đặt tên cho Tiến sĩ Eric A. Ghristenson, một chuyên gia lan nổi tiếng của thế giới về tông Aeridinae. Hiện loài này đã được lai tạo thành công ở Việt Nam.

Thực ra, từ năm 1984 loài này đã được chúng tôi mang về trồng tại thành phố Hồ Chí Minh từ nhà một người bạn ở Phan Rang. Và vì lần đầu tiên ra hoa tại thành phố Hồ Chí Minh chỉ có hai hoa nên chúng tôi đặt tên là “Uyên Ương” vả tặng cho nghệ nhân

Nguyễn Văn Để một trong nhiều cây đem về. Năm 1990, một trong những cây đó đã đoạt giải nhất hội thi lan rừng nhân kỷ niệm 19/5 – 100 năm ngày sinh Hồ Chủ Tịch vì vậy nó có tên là “Cù lao Minh” quê hương của nghệ nhân Nguyễn Văn Để, hiện là phó chủ tịch Hội hoa lan cây cảnh thành phố Hồ Chí Minh.


【#8】Á Hậu Lý Kim Thảo Lăng Xê Mốt Đính Đá Lên Mắt ‘hóa’ Chị Hằng Lung Linh Trong Ngày Trung Thu

Lý Kim Thảo giành danh hiệu Á hậu 1 của cuộc thi Hoa hậu Việt Nam Châu Á 2021 tổ chức tại Đài Loan. Nhờ sở hữu vẻ đẹp ngọt ngào, thanh lịch với chiều cao 1m71 và 3 vòng hoàn hảo, khuôn mặt ấn tượng cùng những đường nét mặn mà, hiện đại, cô đã có những hoạt động tích cực trong ngành thời trang.

Sau đó, Kim Thảo còn bén duyên với điện ảnh của vai chính trong bộ phim “Ngày trở về”, “Gã giang hồ” cùng nhiều MV ca nhạc ấn tượng.

Hóa thân thành “chị Hằng”, Á hậu Lý Kim Thảo còn khiến các fan ‘ngất lịm’ với phong cách trang điểm đẹp mê mẩn bằng cách đính đá pha lê long lanh của mình.

Trang điểm mắt bằng những viên đá pha lê nhỏ nhắn vốn không phải là xu hướng make up mới lạ, đến thời điểm hiện tại thì phong cách này vẫn được rất nhiều sao nữ châu Á lựa chọn mỗi khi xuất hiện trước công chúng.

Với bộ ảnh lần này của Lý Kim Thảo thì phần đính đá ngay viền mí mắt dưới của cô tuy trông đơn giản nhưng lại hiệu quả vô cùng, khiến vẻ ngoài vốn đã xinh đẹp của nàng Á hậu nay lại càng rạng ngời như công chúa.

Đặc biệt, vì đây là kiểu trang điểm tập trung vào đôi mắt nên ở các phần như má, môi đều được nàng Á hậu sử dụng những tông màu nhẹ nhàng, trung tính, có phần cùng tông màu với những hạt đá được cô đính trên mắt.

Không thể phủ nhận vẻ đẹp của Kim Thảo trước mọi shot hình, nhưng đã từ lâu, người hâm mộ luôn thấy cô xuất hiện với hình tượng mong manh, trong sáng. Khi được hỏi sắp tới đây, Thảo có ý định thay đổi hình tượng sang trọng, cá tính, mạnh mẽ hơn không, nàng Á hậu cho biết hiện tại cô vẫn trung thành với “chất” của mình, nhưng không ngại biến hóa một chút nếu để phục vụ nghệ thuật.


【#9】Hướng Dẫn Trồng Và Chăm Sóc Cây Hoa Lan Huệ

Lan huệ là họ hàng với loài hoa loa kèn, hoa có kiểu cách nở đặc biệt và có màu sắc sặc sỡ và đa dạng. Hiện nay hoa lan huệ đang được ưa chuộng trồng ở nhiều nơi với nhiều hình thức và vị trí trang trí khác nhau.

  • Lan huệ có tên khoa học: Hippeastrum spp
  • Thuộc họ: Amaryllidaceae (họ thủy tiên)
  • Tên thường gọi Lan huệ
  • Tên gọi khác: lan tứ diện
  • Nguồn gốc xuất xứ: Lan Huệ được trồng ở khắp châu Mỹ nhiệt đới. Ngày nay lan huệ được trồng ở rất nhiều nơi trên thế giới trong đó có Việt Nam.
  • Cây hoa lan huệ có củ dạng giống củ hành, củ được cấu tạo bởi các bẹ dạng mo cong bao quanh, có nhiều lớp, xếp tầng. Các lớp vỏ bọc đều mọng nước. Rễ của lan huệ là dạng rễ chùm và nhiều rễ phụ khác, kích thước gần như nhau.

    Cây lan huệ có dạng thân đứng, là dạng thân giả mọc từ củ, thân có màu xanh. Thân của lan huệ cao khoảng 40 đến 70cm. Thân cây lan huệ cứng cáp, bên ngoài có các vân sọc dài song song mờ.

    Lá của lan huệ có màu xanh, lá thuôn dài và nhọn ở đầu, trên lá có các vân sọc dài hết lá.Cây lan huệ có hình thức mọc giống thân hành, mọc đối nhau và ôm sát từ gốc thân giả lên.

    Hoa được kết hợp bởi các cánh hoa dài và mịn. tùy vào từng loại hoa mà số cánh hoa khác nhau. Loại hoa đơn có 2 lớp cánh hoa sắp xếp sole nhau được đan xem từ 6 cánh hoa. Còn ở hoa kép thì số được sắp xếp so le 3 lớp bởi 9 cánh hoa đan lại.

    Quả của lan huệ là dạng quả nang, hình cầu, ở quả có các khe chia dạng 3 mảnh, bên trong có chứa các hạt, nhỏ, dẹt màu đen tuyền.

    Đặc điểm sinh thái của cây lan huệ

    • Lan huệ ưa nắng vừa phải, là cây có sự sinh trưởng và phát triển tốt.
    • Lan huệ ưa môi trường đất thoát nước tốt, tơi xốp, độ ẩm trung bình.
    • Cây thường ra hoa vào mùa xuân- hè.
    • Là cây có khả năng sống được trong môi trường nước và môi trường đất.

    Hoa lan huệ hiện đang được nhiều người ưa chuộng bởi màu sắc sặc sỡ, đa dạng là cây được các gia chủ chọn trồng làm các chậu hoa trong nhà đặt ở các kệ bàn, hoặc cửa sổ hoặc kệ của hành lang. Màu sắc hoa kết hợp cùng với kiểu dáng hoa đã làm cho không gian và khuân viên ngôi nhà thêm điểm nhấn và nét đẹp riêng. Ngoài ra nhiều gia đình còn chọn các cậu treo để trồng ở ban công. Ngoài ra cây còn được nhiều công trình lớn như công viên, khu đô thị, khách san nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, công trình xây dựng khác..vv chọn làm cây trồng trong các bồn lớn, các lối đi hay là các thảm lớn. Hoa lan huệ được trồng theo thảm lớn, cùng màu hoặc mix phối hợp màu trông rất rực rỡ, đẹp và sang trọng.

    Hoa lan huệ tên lan nhưng không thuộc loài lan, cây thuộc loài hoa loa kèn, hoa nở rực rỡ bông lớn và tỏa mùi thơm rất lạ, mùi thơm nhẹ nhàng, hoa lan huệ trông quý phái, sang trọng. Mùi thơm của hoa lan huệ có thể giúp chúng ta thư giãn, mùi thơm không quá nồng, dễ chịu

    Ngoài ra hoa lan huệ còn đóng góp vào nền y khoa, đặc biệt bên đông y. Các sản phẩm từ cây lan huệ có thể sử dụng để chữa các bệnh như cầm máu, sưng, nhiễm trùng…

    Lan huệ có nhiều phương pháp nhân giống, nhưng phương pháp nhân giống được áp dụng nhiều nhát là tách cây con từ củ của cây mẹ.

    Cách trồng hoa lan huệ bằng củ

    Nếu trồng lan huệ bằng hình thức thủy canh thì bạn nên thay nước cho cây và bón thêm dinh dưỡng trong nước cho rễ hút đi nuôi dưỡng cho cây. Nếu trồng cây bằng đất: Lan huệ không chịu được úng, nên khi tưới chúng ta chỉ tưới vừa đủ không nên tưới quá đẫm, sẽ làm úng củ và thối rễ. Chúng ta có thể 4 đến 5 ngày tưới một lần. Nhưng phải quan sát độ ẩm của đất để cân bằng tưới nước.

    • Bước đầu tiên chúng ta chọn củ lan huệ mẹ để lấy giống tách cây con ra. Đây là bước quan trọng nhất, chọn củ lan huệ không bệnh, cây khỏe mạnh, củ không bị thối và có sự sinh trưởng tốt. Chọn củ quan trong ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển, ra hoa và nở hoa sau này. Tiêu chuẩn chọn củ, củ không non, chọn củ to nhất có thể.
    • Chọn đất trồng: Đất trồng có độ tơi xốp, thoát nước tốt và có chất dinh dưỡng, độ ẩm trung bình.
    • Chọn chậu để trồng. Chậu trồng có độ rộng phù hợp với củ, để khi củ phát triển có thể phát triển tối đa bộ rễ từ đó phát triển thân lá một cách thuận tiện nhất.
    • Đặt củ huệ vào chậu, trong chậu có hỗn hợp của đất, tro trấu và phân hữu cơ sau đấy lấp đất nhẹ lên trên, lưu ý khi lấp phải để củ lộ lên một khoảng 1/3 hoặc ½ củ.
    • Đặt cây ở nơi thoáng mát và không cần tưới quá nhiều nước. Chúng ta có thể 1 tuần tưới 1 lần.
    • Quan sát quá trình mọc của củ. khoảng 16 đến 20 ngày củ bắt đầu xuất hiện mọc nhú đầu lá nhỏ, chúng ta mới bổ sung thêm phân. Sau đấy chuyển cây đến vị trí có nắng để cây bắt đầu cho quá trình phát triển thân lá và ra hoa.

    Độ ẩm thích hợp 60 đến 80%

    Cây lan huệ ưa sáng, và có thể sống được nửa bóng, ánh sáng ảnh hưởng đến hình thái của hoa, nếu ánh sáng nhiều sẽ có vòi hoa và lá ngắn, ngược lại nếu cây lan huệ sống trong môi trường bóng râm hoa và lá sẽ dài hơn. Nếu cây trồng trong nhà chúng ta nên thực hiện phơi nắng cho cây một tuần 2 đến 3 lần mỗi lần khoảng 3 đến 4 g. Khoảng thời gian tốt nhất để phơi nắng là vào ban sáng, nắng ánh sáng buổi sáng rất tốt và phù hợp cho lan huệ.

    Chúng ta có thể dùng phân bón hữu cơ, hoặc phân kali, phân bón qua lá cho cây, tuy nhiên chúng ta nên bón đúng thời điểm và đúng liều lượng. Thường xuyên quan sát và cắt tỉa các cành lá già , hoặc khô, bị sâu để tránh làm môi trường cho sâu hại phát triển.

    Đối với sâu bệnh hại trên cây lan huệ không có nhiều sâu bệnh hại. Sâu hại thường gặp là các loại chích hút lá ví dụ như rệp, nhện đỏ, cào cào…hoặc các loại như sâu ăn lá, ăn chồi. Dấu hiệu nhận biết là các vết chích vết cắn của các loại hút chích trên các lá hoặc trên thân

    Ánh sáng

    Cung cấp nước đảm bảo cho cây đầy đủ, dùng phun thuốc đặc trị như Danitol, ortus và một số loại thuốc khác có thể mua ở các nhà thuốc bả vệ thực vật trên toàn quốc. Dấu hiệu nhận biết của loại sâu ăn lá hay ăn chồi rất rõ, các lá, chồi bị sâu ăn và khuyết đi nhiều, đối với loại sâu này chỉ cần chú ý quan sát giai đoạn đầu, nếu thấy xuất hiện chúng ta phải mua thuốc trừ sâu luôn để diệt trừ mầm bệnh.

    – Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ thoát nước kém, thu hoạch không đúng tiêu chuẩn, cắt không chéo đường cắt, và không gần với củ nên để nước ứ đọng lại làm thối nhũn củ.

    – Biện pháp: Nên chú ý hệ thống thoát nước cho hợp lý, và thu hoạch đúng quy chuẩn.

    Nhiều người ưa chuộng và trồng cây hoa lan huệ vì cây mang vẻ đẹp rực rỡ, nhiều màu sắc, ngoài ra hoa còn mang lại hương thơm dễ chịu. Lan huệ là cây dễ chăm sóc, dễ trồng. Chính vì thế mà lan huệ đang được mọi người trồng rất nhiều và trồng ở nhiều nơi.

    Cách phòng trừ Khánh Chi


    【#10】Làng Triều Khúc Hướng Tới Trở Thành Trung Tâm Cây Cảnh Thủ Đô Hà Nội

    (vanhien.vn) Thú chơi cây cảnh ở làng Triều Khúc đã có truyền thống lâu đời. Nơi đây cũng sản sinh ra những nghệ nhân sinh vật cảnh tài hoa có nhiều cống hiến cho phong trào chơi cây cảnh của Thủ đô Hà Nội và cả nước.

    Làng Triều Khúc thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Làng Triều Khúc còn có tên Nôm là Đơ Thao hay Kẻ Đơ, xuất phát từ việc làng có nghề dệt quai nón quai thao truyền thống. Dân làng Triều Khúc rất yêu quý cây cảnh, gần như nhà nào cũng trồng cây cảnh trong nhà. Người làng Triều Khúc đến nay vẫn duy trì phong tục cổ xưa là để tang cho cây khi trong nhà có người thân qua đời. Dân làng quan niệm rằng cây và người là “bạn tri kỷ” của nhau. Một khi đã chơi cây nghĩa là phải am hiểu về cây và phải xem cây như bạn, như người thân trong gia đình thì mới chơi lâu dài được. Ông Bùi Duy Thắng, Chủ nhiệm Câu lạc bộ cây cảnh làng Triều Khúc, cho biết: “Làng Triều Khúc có bề dày truyền thống chơi cây cảnh theo lối chơi cổ xưa. Triều Khúc chúng tôi chơi đa dạng các loại cây, đặc biệt ưa thích cây Sanh, cây Mai, cây Đào, cây Trà, cây Đa, cây Cau hiến Vua. Làng có hàng trăm người chơi cây, hơn 10 nghệ nhân. Hàng tháng chúng tôi tổ chức cuộc gặp giữa nghệ nhân và các hội viên chia sẻ cách chăm sóc cây cảnh.”

    Hội thảo phát triển Sinh Vật Cảnh và làng nghề Triều Khúc do Hội SVC thành phố Hà Nội tổ chức

    Thú chơi cây cảnh nghệ thuật ở làng Triều Khúc mang những nét đặc trưng riêng, không thể lẫn với nơi khác. Người Triều Khúc chơi cây rất tinh tế, chú trọng đến cốt cách, trang trí, bố cục của tác phẩm cây cảnh nghệ thuật. Những nghệ nhân của làng Triều Khúc đã tạo dựng được bản sắc, thương hiệu riêng của mình trong tạo hình cây cảnh nghệ thuật được giới sinh vật cảnh cả nước biết đến. Nghệ nhân Nguyễn Gia Hiền kể: “Tôi là người con Triều Khúc cũng may mắn thừa hưởng truyền thống yêu cây của các bậc tiền bối để lại. Gia đình tôi đã có mấy đời chơi cây cảnh. Tôi từng đoạt giải vàng toàn quốc cây cảnh. Tác phẩm đó là cây Sanh hơn 100 năm tuổi, dáng Song thụ phu thê, mang ý nghĩa một gia đình hạnh phúc, hòa thuận. Riêng Triều Khúc có đặc trưng là chơi cây Song thụ, nghĩa là cây 2 thân, tức là có 1 cây mẹ và 1 cây con, gọi là mẫu tử.”

    Các nghệ nhân sinh vật cảnh làng Triều Khúc đang nghiên cứu, sớm xuất bản một cuốn sách về lịch sử cây cảnh Triều Khúc để cho con cháu thế hệ sau học tập noi theo. Để Triều Khúc phát triển sinh vật cảnh, cây cảnh nghệ thuật lên tầm cao mới, chuyên gia sinh vật cảnh, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đặng Văn Đông, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả, cho rằng: “Việc đầu tiên Triều Khúc cần có quy hoạch và định hướng phát triển cây cảnh. Quy hoạch đất từ 2 đến 3 ha, kêu gọi người dân Triều Khúc và các nơi đến đầu tư làm riêng một khu triển lãm. Triều Khúc đã có công viên cây xanh nên phải tận dụng mở rộng để sử dụng làm Trung tâm bảo tồn và phát triển sinh vật cảnh. Tăng cường sự liên kết 5 nhà đó là nhà nước, doanh nghiệp, người dân, nhà khoa học và truyền thông. Mở rộng giao lưu, liên kết giữa những nhà sinh vật cảnh làng Triều Khúc với các địa phương khác và quốc tế.”

    Câu lạc bộ cây cảnh làng Triều Khúc đã thành lập được 10 năm. Hàng năm, Câu lạc bộ cây cảnh làng Triều Khúc tổ chức triển lãm cây cảnh làng Triều Khúc và tích cực tham gia các cuộc triển lãm ở các địa phương trong cả nước. Qua đó, góp phần thúc đẩy phong trào chơi cây cảnh ở làng. Ông Bùi Duy Thắng, Chủ nhiệm Câu lạc bộ cây cảnh làng Triều Khúc, cho biết thêm: “Các nghệ nhân lâu năm truyền lại nghề cho thế hệ trẻ để họ làm sao bắt nhịp được lối chơi cổ truyền và thêm sức sáng tạo tuổi trẻ thì sẽ làm thêm những tác phẩm đặc sắc hơn. Chính quyền địa phương tạo điều kiện cho chúng tôi một quỹ đất riêng để chúng tôi có thể mang những sản phẩm từ trong gia đình trưng bày, bảo tồn.”

    Thú chơi cây cảnh là nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam. Chơi cây cảnh làm cho đời sống tinh thần con người vui tươi, sảng khoái, chẳng thế mà các cụ xưa có câu “Yêu cây, yêu hoa, hóa ra yêu đời”.

    Làng Triều Khúc là nơi nổi tiếng về cây cảnh nghệ thuật, giàu tiềm năng phát triển nghề trồng cây cảnh. Triều Khúc đang xây dựng một thương hiệu riêng cho cây cảnh để sớm trở thành một trong những nơi trồng và trưng bày cây cảnh lớn ở Hà Nội và hướng tới xuất khẩu cây cảnh.

    THẢM LÓT SÀN Ô TÔ HOÀNG GIA UY TÍN, CHẤT LƯỢNG Công ty TNHH XNK và Dịch vụ Hoàng Gia; Địa chỉ: U01 – L11, Khu D, Khu đô thị Dương Nội, Yên Nghĩa, Hà Đông, Hà Nội; Điện thoại: Mob: 0977 144 786 – 0932.617.686; Web: http://hoanggiaauto.net/; FB: https://www.facebook.com/thamlotsanotoHOANGGIA/


    Bạn đang xem chủ đề Hoa Lan Rung Lang Son trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

    Chủ đề mới hơn

    Hoa Lan Rung Lá Dài - Xem 2,178

    Hoa Lan Rung Lam Dong - Xem 2,079

    Hoa Lan Rung Son La - Xem 2,376

    Hoa Lan Rung Da Lat - Xem 2,574

    Hoa Lan Rung Soc Lao - Xem 1,782

    Nhung Loai Hoa Lan Rung - Xem 1,782

    Hoa Lan Rừng Màu Tím - Xem 1,584

    Hoa Lan Rung Mau Trang - Xem 1,386

    Hoa Lan Rung My Dung - Xem 2,079

    Hoa Lan Rung Mau Vang - Xem 1,386