Lan Denro Nắng Ở Củ Chi

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Chìm Và Bơi Được Dưới Đáy Hồ
  • Hướng Dẫn Dành Cho Hồ Bơi Công Cộng, Bể Tắm Nước Nóng, Sân Chơi Nước Trong Đại Dịch Covid
  • Com Bo 2 Lan Đuôi Sóc Tím Rừng Lào Giá Cạnh Tranh
  • Bạn Đã Thử Cảm Giác Đi Bộ Dưới Đáy Biển Lặn Ngắm San Hô Lần Nào Chưa
  • Tour Đi Bộ Dưới Đáy Biển Nha Trang
  • – Cây có cấu trúc đẹp: có thể nói, cây Den.King. Hổ mang chúa chiếm ưu thế hơn nhất. Lưỡi hoa to, 2 tai dài, vươn cao, đài trước xoán lại rất quái, mổ ra phía trước rất giống con rắn Hổ mang. Màu đỏ hồng thật xinh tươi. Cây cao khỏe (hơn 1m), giá trị kinh tế cao.

    Cấp 5*

    : cây trắngđang chiếm ưu thế cao nhất. Hoa có kích thước khủng (12cm 2 cánh), chiều cao của hoa có thể cao bằng hoa Vanda to. Màu hoa trắng tinh khiết, cấu trúc 2 tai nhọn (như tấm thẻ bài xử trảm của Bao Công trong phim) ), lưỡi hoa to, “ngầu”, nhọn, “chặt góc”. Hoa của cây bền dù cánh mỏng. Giá trị kinh tế cao.

    Ngoài ra ra còn có dòng Trắng lưỡi tím xưa (Bà liễu), hoa to, siêng hoa, màu sắc nổi bật, cũng rất thơm. Cây cao, khoẻ mạnh.

    – Cây tên thú có hoa đẹp, King mỏ két (đầu lưỡi cong xuống giống mỏ con két): hoa to, siêng hoa, rất lâu tàn, cấu trúc hoa đẹp (cánh hoa múa về bên phải). Cây cao lớn, khoẻ mạnh.

    – Cây có hoa viền đẹp, cây King Hóc môn. Cây có cấu trúc chuẩn, viền trắng đậm cả 3 cánh và 3 đài hoa. Khi cây khỏe mạnh (gần 2m) nở hoa đầy đủ, hoặc với 2 vòi hoa thì thực sự nổi bật.

    Cấp 5*

    – Cây màu vàng đẹp, cây King vàng. Với màu vàng óng ả như tơ làm cho cây thật sự sáng và nổi bật hơn những cây hoa vàng khác. Cây cao lớn, cấu trúc hoa chuẩn nở đối xứng 2 bên. Cây giá trị cao.

    Cấp 5*

    – Cây màu đỏ đẹp, cây Red big. Cây với màu đỏ đậm, cấu trúc hoa to, 2 tay dài, 2 đài dưới có viền trắng làm cho hoa sáng lên. Cây chưa cao lớn, nhưng vòi hoa rất to. Tuy hoa to nhưng phát hoa lại rất nhiều hoa, thật sự nổi bật khi nhìn cây ngoài thật tế. Cây mập, chắc, khỏe. Giá trị cao.

    Cấp 3*

    – Cây màu hồng đẹp (Pink): cây pink xưa với 3 đài hoa vặn xoán nhẹ như chong chóng. Ngoài ra còn có cây Dazang cũng rất đẹp với vòi hoa thòng xuống. Cấp 3*

    Dendro Pink xưa. Cấp 3*

    Dendro Dazang. Cấp 3*

    – Cây màu tím đẹp Pompadour và Madame Pompadour: cây với màu tím nổi bật. Lưỡi hoa với 2 má khít lại, có viền trắng đài hoa. Tuy cấu trúc hoa tròn, không to, nhưng do giống xưa nên dễ trồng, siêng hoa.

    Den.Pompadour

    Den.Madame Pompadour. Cấp 4*

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cây Lan Dendrobium Gatton Sunray
  • Cách Nhân Giống Lan Dendro Nhờ Phương Pháp Giâm Cành
  • Dendrobium Moschatum Thực Vật Rừng
  • Làm Giàu Từ Trồng Lan Dendrobium Ứng Dụng Công Nghệ Cao
  • Hoa Lan Dendro Nắng Móng Rồng Tại Tiền Giang
  • Bình Luận Hoa Lan Denro Ngọc Trai Đen

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Sưu Tập Những Hình Thù Độc Đáo Của Hoa Lan
  • Vũ Nữ Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Vũ Nữ Miltonia Cây Giống (Gồm Có 10 Mặt, Giá Siêu Rẻ 41,870Đ! Mua Liền Tay!
  • Lan Vũ Nữ, Lan Hoàng Hậu, Lan Giống Đhnn1 Hà Nội
  • Nơi Bán Lan Hồ Điệp Tại Hà Nội
  • Phải chăng vì bản thân không được gì mà với 7 sản phẩm đã bán ra mà Hoa lan denro ngọc trai đen chỉ sở hữu được 3 lượt yêu thích? Nếu bạn có mua thì nhờ quan sát các chỉ số này thì đừng bao giờ lười chia sẻ trải nghiệm của mình cho những người tiếp theo biết nha. Nếu bạn đang tại TP. Hồ Chí Minh thì khi mua Hoa lan denro ngọc trai đen theo sự giới thiệu của mình thì bạn sẽ lợi thế về cước phí giao hàng đấy nghen. Với mức giá 70,000đ thì Hoa lan denro ngọc trai đen đã bán được 0 sản phẩm. Với 7 sản phẩm đã được bán ra, Hoa lan denro ngọc trai đen đã sở hữu 3 lượt thích. Có 43 Hoa lan denro ngọc trai đen hiện đang trữ trong kho. Nhưng số lượng lưu kho có thể tụt giảm bất ngờ vì cửa hàng này còn bán ở nhiều blog khác nữa. Tuy đây không phải là gian hàng chính thức Hoa lan denro ngọc trai đen của nhãn hàng tại Shopee nhưng bạn có thể cân nhắc quan sát và tìm hiểu về số lượng bán ra, nhận xét, like đối với Hoa lan denro ngọc trai đen. Bởi giá 70,000đ tốt hơn nhiều so với mua từ gian hàng chính thức đấy, giảm những 0% cơ mà. 7 Hoa lan denro ngọc trai đen đã được bán thành công kể từ khi đăng bán công khai, trong đó tính luôn những lần thay đổi về giá

    Cây bên mình là cây trưởng thành.

    Viettel 20.000 Telco Card

    Dòng hoa có màu tím đen độc lạ

    Các bạn chăm tốt khoảng 2 tháng là ra hoa

    Hoa lan denro ngọc trai đen

    #Hoalan#denro

    Cây bên mình là cây trưởng thành.Viettel 20.000 Telco CardDòng hoa có màu tím đen độc lạCác bạn chăm tốt khoảng 2 tháng là ra hoaHoa lan denro ngọc trai đen#Hoalan#denro

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc, Đặc Điểm Lan Vũ Nữ – Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cơ Bản
  • Lan Vũ Nữ Màu Vàng Tại Tp. Hồ Chí Minh
  • Hoa Khai Trương Bằng Hoa Lan Vũ Nữ
  • Lẵng Hoa Chúc Mừng Hoa Lan Vũ Nữ Sang Trọng
  • Hoa Lan Oncidium (Lan Vũ Nữ) – Dân Chơi Lan
  • Cẩm Nang Phân Loại Hoa Lan Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoàng Thảo Kèn Là Lan Gì
  • Bí Quyết Chăm Sóc Da Tuổi 25 Bạn Gái Cần “thuộc Nằm Lòng”
  • Mách Nhỏ Bạn Cách Chăm Sóc Hoa Lan Hồ Điệp Vàng Đúng Cách
  • Hoa Lan Bọ Cạp Cách Trồng Và Chăm Sóc Cây Hoa Lan Bọ Cạp
  • Kinh Nghiệm Trồng Và Chăm Sóc Phong Lan Quế Tím Nở Hoa Đơn Giản
  • Phân loại hoa lan Việt Nam theo hệ thống thực vật học

    Việt phân loại hoa lan là điều cần thiết vì có hàng trăm các giống lan Việt Nam, trong đó có các loài lan nổi tiếng trên khắp thế giới, có giá trị hàng chục nghìn USD.

    Cây hoa Lan (Orchid sp.) thuộc họ Phong lan (Orchidaceae); bộ lan(Orchidales); lớp một lá mầm Monocotyledoneac.

    Họ phong lan phân bố rộng từ 68° vĩ Bắc đến 56° vĩ Nam, từ gần Bắc cực như Thụy Điển, Alaska, xuống tận các đảo cuối cùng ở cực Nam của Oxtralia. Tuy nhiên tập trung của họ phong lan chủ yếu ở các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt ở châu Mỹ và Đông Nam Á.

    Đến nay loài người đã biết được trên 750 chi với 25.000 loài lan tự nhiên và 75.000 loài lan do kết quả chọn lọc và lai tạo.

    Có hàng trăm các giống lan Việt Nam, trong đó các loài lan sau được trồng rộng rãi trên khắp đất nước.

    Cách trồng hoa lan tại nhà đơn giản, hiệu quả

    Phân loại hoa lan theo đặc điểm hình thái thân cây

    Căn cứ vào đặc điểm hình thái thân cây phong lan có thể chia lan làm hai nhóm;

    + Nhóm phong lan đơn thân: đây là nhóm phong lan chỉ tăng trưởng về chiều cao làm cho cây dài ra mãi.

    Nhóm phong lan đơn thân chia thành 2 nhóm phụ:

    – Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): nhóm này lá được xếp thành 2 hàng mọc đối nhau, lá trên một hàng xen kẽ với lá của hàng kia. Gồm các giống như: Lan Vanda, lan giáng hương – Aerides, lan hồ điệp – Phalaenopsis…

    – Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe, lan Luisia…

    + Nhóm phong lan đa thân: đây là nhóm phong lan gồm những cây tăng trưởng liên tục. Căn cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành 2 nhóm phụ:

    – Nhóm ra hoa phía trên: Địa lan – Cymbidium, lan hoàng thảo – Dendrobium, lan vũ nữ – Oncidium…

    – Nhóm ra hoa ở đỉnh: Lan Cattleya, lan Laelia, lan Epidendrum…

    Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như: Lan Centropetatum, lan Phackyphllum, lan Dichaea…

    Phân loại hoa lan theo môi trường sống

    Căn cứ vào môi trường sống của phong lan cũng có thể chia thành 3 loại:

    – Địa lan: cây lan sống trong đất hoặc trong giá thể có đặc điểm gần như đất

    – Phong lan: cây lan sống trong không khí.

    – Bán địa lan: cây lan có thể sống trong môi trường không khí và trong đất

    Kỹ thuật trồng hoa lan cho người mới trồng lan

    Các giống lan Việt Nam được trồng phổ biến

    Phong lan lai tạo

    Lan Ngọc điểm tai trâu – Rhynchostylis gigantea (Lindl.) Ridl.

    Cây lan ngọc điểm tai trâu có dáng đẹp, mọc khỏe, lá xanh, bóng, cụm hoa sặc sỡ, hương thơm ngào ngạt, nở vào cuối mùa đông, đầu mùa xuân (đặc biệt vào dịp tết Nguyên Đán) nên rất được ưa chuộng.

    Cây mọc phổ biến trong các rừng ẩm từ Bắc vào Nam, đặc biệt ở các tỉnh miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ.

    Lan Ngọc điểm đuôi cáo – Rhynchostylis retusa (L) BL

    Hoa lan Ngọc điểm đuôi cáo – Rhynchostylis retusa (L) BL

    Thân lan ngọc điểm đuôi cáo thẳng mập, lá màu xanh đậm, cụm hoa dài, bông thõng xuống, cuống hoa mập dài 20 – 40cm, hoa xếp dày đặc thành bông màu trắng có đốm tím, cánh môi màu tím. Hoa nở cuối tháng 4 đến hết tháng 5 sang đầu tháng 6.

    Cây lan ngọc điểm đuôi cáo mọc rải rác trong các rừng ẩm từ Bắc vào Nam, từ vùng đồi núi thấp đến vùng núi cao nơi có khí hậu hơi lạnh.

    Lan Hoàng thảo thuỷ tiên – Dendrobium farmeri paxt

    Hoa lan Hoàng thảo thuỷ tiên – Dendrobium farmeri paxt

    Cây hoa lan hoàng thảo thủy tiên mọc thành bụi lớn màu vàng rơm. Lá xanh đậm, bóng, mềm. Cụm hoa thường sinh ra ở phía đỉnh thân, mang nhiều hoa màu trắng. Phần họng và cánh môi màu vàng đậm. Cây hoàng thảo thủy tiên cho hoa đẹp, nở rộ vào tháng 2 – 3, đôi khi nở muộn sang đầu mùa hè. Cây mọc trong các rừng ẩm ướt từ Bắc vào Nam, đặc biệt ở các rừng thứ sinh đồng bằng sông Cửu Long.

    Lan Hồ Điệp – Phalaenopsis

    Hoa lan Hồ Điệp – Phalaenopsis

    Là loài lan nổi tiếng trên toàn thế giới vì dáng cây đẹp, hoa to, màu sắc sặc sỡ và độc đáo. Hoa nở vào cuối mùa đông sang mùa xuân năm sau.

    Cây lan Hồ Điệp phân bố rộng rãi từ dãy Hymalaya qua Malaixia, Inđônêxia tới Đài Loan, Philippin, Oxtralia. Có khả năng thích ứng rộng. Các giống lan Hồ Điệp hiện nay đã được chọn lọc, lai tạo nên hoa ngày càng to và đẹp hơn.

    Lan Hoàng Hậu – Cattleya Lindley

    Hoa lan Hoàng Hậu – Cattleya Lindley

    Đây là một chi gồm hầu hết các loài phong lan đẹp nổi tiếng và được nuôi trồng rộng rãi. Chi lan Hoàng Hậu phân bố nguyên thủy ở một vùng rộng lớn thuộc Châu Mỹ nhiệt đới.

    Về hình dáng, chi lan Hoàng Hậu có thể chia làm 2 nhóm:

    – Nhóm 2 lá, hoa thường nhỏ, chùm mang nhiều hoa (Bifoliate)

    – Nhóm 1 lá, với rất nhiều biến dạng, có củ giả nạc, cụm hoa có một đến một vài hoa lớn (Monofoliata). Đa số các loài lan đẹp đều thuộc nhóm này. Hoa có cấu tạo rất đặc biệt, hoa to, cánh hoa nhăn nheo xếp tỏa rộng, hoa có màu sắc, hình dáng độc đáo và nở hoa quanh năm.

    Trong số các giống lan Việt Nam hiện đang được nuôi trồng thì loại lan thuộc chi lan Hoàng Hậu này có hàng trăm giống lai như:

    – Hoa lan Cattleya candora Everest

    – Hoa lan Colmanara (Miltonia Ondontoglossum X Oncidium)

    – Hoa lan Cattleytonia (Broughtonia X Catteleya), Moir, 1975

    – Hoa lan Cyperocymbidium (Cyperoehis X Cymbidium), Hawakes, 1962.

    Các giống lan Việt Nam thuộc chi lan Hoàng Hậu có khả năng chịu nhiệt độ cao do đó thích hợp với điều kiện Việt Nam và chúng ngày càng được ưa chuộng.

    Các loài phong lan rừng

    * Phong lan đơn thân

    Phong lan đơn thân là những loài phong lan sống bám trên thân cây hay vách đá, thân phát triển vươn dài theo một trục. Hầu hết đây là những loài lan có xuất xứ từ vùng núi thấp hay núi cao trung bình, dễ trồng và dễ ra hoa ở miền Bắc. Theo hình thái của cây và yêu cầu về nuôi trồng có thể chia nhóm lan này thành 2 dạng.

    + Phong lan có thân vươn dài và rễ khí

    Thân hoa lan vươn dài, cây lớn. Rễ lớn mọc ra từ nhiều điểm dọc theo thân. Rễ cây có thê bám vào các vật cứng ở gần hay buông dài trong không khí. Cách trồng những loài lan này thường là buộc vào gỗ treo lên hay buộc vào thân cây trong sân vườn. Cũng có thể trồng chậu nhưng chậu chi có ý nghĩa làm giá đỡ cho cây, còn rễ cần được tự do phát triển. Đây là nhóm lan rừng dễ trồng nhất, gồm một số chi lan đáng chú ý

    – Chi Lan Giáng hương (Aerides)

    Trong các giống lan Việt Nam, Chi Giáng hương có 8 loài, là những loài Phong lan đơn thân được ưa chuộng bởi có hoa chùm dại, màu sắc tươi và hương thơm. Do có kích thước lớn các loài Giáng hương thường dùng để trang trí sân vườn, nơi có không gian rộng, các loài Giáng hương có xuất xứ từ vùng núi thấp hay núi cao trung bình, hầu hết dễ trồng và ra hoa tại Hà Nội. Phần lớn các loài cần được che bóng một phần, trồng ở điều kiện 40-70% ánh sáng trực tiếp. Mùa hè cần tưới nhiều nước nhưng tránh để đọng nước ở rễ. Mùa đông giữ ẩm vừa phải. Bón phân hàng tháng trong mùa sinh trưởng. Trồng chủ yếu là do bám gỗ hay thân cây để bộ rễ phát triển tự do, hạn chế chuyển chậu, thay gỗ vì làm tổn thương nhiều đến rễ.

    Chi Giáng hương được dùng phổ biến để lai với các chi lan Vanda, lan Nhện, lan Hồ điệp, lan Phượng vĩ.

    Lan Giáng hương thơm (Aerides odorata)

    Hoa lan Giáng hương thơm – Aerides odorata

    Phong lan Giáng hương thơm còn được gọi là Quế lan hương. Cây có thân dài đến lm, mập. Lá hình dải, dài 15-30cm. Cụm hoa dài bằng lá, rủ. Hoa xếp dày, khá lớn. Cánh môi cuộn hình ống rộng, có cựa cong ra phía trước làm cho hoa có hình dáng con ong. Hoa thơm, màu từ trắng tinh đến phớt hồng. Loài lan này gặp cả ở vùng núi đá và núi đất thấp.

    Cây lớn, nhiều nhánh ở gốc tạo thành bụi, khi ra hoa làm cây trang trí sân vườn rất hiệu quả. Hoa nở vào địp 2/9, tương đối bền. Loài dễ trồng, cần để chỗ râm mát, khoảng 40-70% ánh sáng trực tiếp. Tưới nhiều và bón phân hàng tháng vào đầu mùa sinh trưởng từ tháng 4 đến tháng 8. Sau khi cây ra hoa, giữ độ ẩm vừa phải, không để cây bị khô, không bón phân cho tới mùa xuân năm sau.

    Ngoài giống thường gặp có hoa màu trắng vàng, ở Việt Nam còn có 2 giống:

    – Lan Giáng hương thơm hoa trắng (Ae.Odorarata var alba) có hoa màu trắng tinh, cụm hoa thẳng đến hơi rủ, nở tháng 8-9. Giống lan ít gặp, có ở miền Trung.

    – Lan Giáng hương hồng nhạn (Ae.Odorarata var micholitzii) có hoa màu hồng tím, nở vào tháng 4-5, cụm hoa thẳng, không thơm, thân ngắn, lá xếp dầy. Cây đặc hữu Tây Nguyên, dễ trồng ở miền Bắc.

    Lan Giáng hương Quế nâu (Aerdes houlletiam)

    Hoa lan Giáng hương Quế nâu – Aerdes houlletiam

    Còn gọi là hoa lan Tam bảo sắc. Cây có thân dài, mập. Lá hình dải, dài, mảnh hơn Giáng hương thơm. Cụm hoa rủ, hoa lớn, xếp dày. Hoa màu vàng cam hay nâu nhạt với phần đầu cánh màu tím. Cánh môi chia làm 3 thuỳ, thùy giữa rộng, mép có răng mịn nhăn nheo, giữa thuỳ có vạch đậm. Màu sắc hoa có thể thay đổi tùy từng cây từ trắng tím vàng tím. Loài hoa lan này gặp ở các tỉnh miền Trung và Nam bộ, là một trong những loài lan đặc trưng của dãy Trường Sơn. Cây mọc chủ yếu trên các vùng núi đất có độ cao thấp.

    Cây lớn có nhiều màu sắc, thơm thích hợp cho trồng treo trang trí ngoại thất rất có hiệu quả. Hoa nở vào tháng 4-5, tương đối bền. Loài dễ trồng, ưa bóng râm, chịu 40 -70% ánh sáng trực tiếp. Giống như Giáng hương thơm, loài này cần tưới nhiều nhưng tránh đọng nước vào mùa sinh trưởng và giữ ẩm vừa phải vào mùa đông. Phân bón chủ yếu vào đầu mùa sinh trưởng, không bón trong mùa lạnh.

    Loài tương tự hay gặp là lan Giáng hương Quế (Ae.falcata), phân biệt là hoa có màu vàng nhạt hơn và mùi thơm không bằng lan Giáng hương Quế nâu.

    Lan Giáng hương nhiều hoa (Aerides multiflora) (còn gọi là Thạch hoa)

    Hoa lan Giáng hương nhiều hoa – Aerides multiflora

    Người chơi lan thường gọi là phong lan Đuôi cáo. Cây có thân ngắn, mập, lá hình dải, dài. Cụm hoa rủ, hoa nhỏ, xếp dài thành bông, màu trắng có đốm tím ở gốc và đỉnh màu tím. Cánh môi không tạo cựa, chia làm 3 thùy, thùy giữa hình tam giác, màu tím đậm. Màu sắc hoa có thể thay đổi tùy từng cây. Cây mọc rải rác từ Bắc vào Nam chủ yếu trên các vùng đất độ cao thấp.

    Trong các giống lan Việt Nam thì loài lan này có thân cây gọn gàng, hoa có màu sắc tươi tắn, thích hợp cho trồng chậu treo trang trí bên cửa sồ, ban công lớn. Hoa nở tháng 5-6, tương đối bền. Cây dễ trồng, chăm sóc tương tự như hoa lan Giáng hương thơm và lan Giáng hương quế nâu. Tuy nhiên loài này khó ra hoa hơn và nhạy cảm hơn với nước đọng. Chú ý để cây chỗ sáng vào mùa đông,

    Loài lan tương tự có thế gặp là hoa lan Giáng hương Hồng (Ae.rosea) có người gọi là Đuôi cáo có lá dày và cuộn, xếp dầy trên thân hơn, hoa đậm màu hơn. Loài lan này gặp rải rác ở Lai Châu hoặc một số tỉnh phía Nam.

    – Chi lan Vanda

    Trong các giống lan Việt Nam, chi Vanda có 7 loài đã được ghi nhận. Hoa lan Vanda được ưa chuộng bởi hoa lớn, màu đậm, bền và có hương thơm, kích thước cây tương đối lớn, thân dài, thích hợp cho trang trí ngoại thất.

    Là những loài lan xuất xứ từ vùng thấp hay núi cao trung bình nên hầu hết các loài lan Vanda đều dễ trồng và ra hoa tại Hà Nội. Các loài Vanda rừng được nuôi trồng trong các giống lan Việt Nam là những loài có lá dẹt, cần tránh nắng trực tiếp nhưng ưa sáng hơn chi lan Giáng Hương. Mùa hè cây cần nhiều nước nhưng tránh đọng nước trên rễ. Cũng như các loài phong lan đơn thân khác nên hạn chế việc vận chuyển chậu làm động rễ cây. Khi cây phát triển quá lớn, có thể tách cây sang chậu mới. Ngâm cây vào nước cho mềm rễ rồi mới tách để tránh làm tổn thương rễ. Trồng hoa lan Vanda cần có chỗ dựa cho thân và có chỗ cho rễ phát triển. Rễ hoa lan Vanda phát triển mạnh và nhiều thì cây mới ra hoa tốt. Có thể trồng cây vào chậu treo không có chất trồng. Trường hợp này, chậu chỉ làm giá đỡ, còn rễ phát triển buông ngoài không khí.

    Hoa lan Vanda là chi lan hay dùng để lai với các chi lan Hoàng Yến, Nhện, Phượng vĩ, lan Giáng hương hay hoa lan Hồ Điệp. Nhiều loài Vanda có hoa đẹp, phổ biến trên thị trường không phải là Lan rừng.

    Lan Vanda Chanh (Vanda fuscoviridis)

    Hoa lan Vanda Chanh – Vanda fuscoviridis

    Cây lan có thân mập, nhiều rễ lớn, lá hình dải, dài. Cụm hoa dài 10-15cm. Hoa lớn, xếp thưa, màu vàng nâu, mép viền vàng chanh. Cánh môi màu vàng chanh, gốc màu trắng. Thường gặp loài lan này ở một số tỉnh vùng Đông Bắc như Cao Bằng trên núi đá vôi ở độ cao thấp.

    Cây có hoa lớn, bền, thơm, thích hợp cho trồng treo, trang trí ngoại thất. Hoa nở tháng 5-6. Loài dễ trồng, chịu ánh sáng trung bình, 40-70% ánh sáng trực tiếp.

    Loài tương tự hay gặp là Vanda Bắc (V. concolor) có hoa màu nâu, đậm ở mép, nhạt dần vào trong, cánh môi màu nâu nhạt, gốc có sọc thường gặp ở miền Bắc.

    – Chi lan Ngọc điểm (Rhynchostylis)

    Chi lan Ngọc điểm trong các giống lan Việt Nam có 3 loài. Các loài của chi này nổi bật với hoa chùm gồm nhiều hoa nhỏ xếp dày thành bông, màu sắc tươi tắn với mùi thơm nhẹ. Hoa lan Ngọc điểm tuy có kích thước lớn nhưng thân không vươn quá dài nên có thể vừa thích hợp cho trang trí sân vườn thích hợp cho trồng treo ở cửa sổ, ban công có diện tích hẹp hơn.

    Là những loài lan có xuất xứ từ vùng thấp hay núi cao trung bình nên các loài lan Ngọc điểm dễ trồng và ra hoa tại Hà Nội. Rễ các loài lan Ngọc điểm lớn, phần nhiều bám vào gỗ hay chất trồng, ít khi buông rủ như rễ hoa lan Vanda hay hoa lan Giáng hương. Do đó trồng những loài này cần có chỗ bám cho rễ phát triển, thường cây phong lan được buộc sát vào gỗ hay thân cây cho rễ bò dọc theo gỗ. Hạn chế việc thay chậu, thay chỗ trồng vì sẽ làm tổn thương nhiều đến rễ đã bám vào chất trồng.

    Các loài lan Ngọc điểm ưa sáng nhưng cần tránh nắng trực tiếp. Mùa hè cần tưới nước.

    Lan Ngọc điểm Đai châu (Rhynchostylis gigantea)

    Hoa lan Ngọc điểm Đai châu – Rhynchostylis gigantea

    Còn gọi là hoa lan Ngọc điểm Nghinh xuân (hay hoa lan ngọc điểm Tai trâu). Cây có thân mập, không cao, có nhiều rễ lớn. Lá dày màu xanh nổi cách vạch trắng dọc. Cụm hoa bông lớn, cong xuống, dài 20-30cm. Hoa xếp dày. Cánh dày màu trắng có nhiều đốm tím. Cánh môi trắng có vạch tím, đỉnh chia 3 thùy nhỏ. Hoa lan ngọc điểm đai châu có phân bố rộng ở nhiều vùng như Bắc Trung bộ, Tây Nguyên. Cây thường gặp trên núi đất ở độ cao thấp đến cao trung bình.

    Hoa lan ngọc điểm đai châu là loài cây hoa lan phổ biến được ưa chuộng do có hoa chùm đẹp, nở vào đầu xuân tháng 1-2 đúng dịp Tết, dễ trồng, ưa sáng 50-70% ánh sáng. Mùa sinh trưởng (tháng 3-8) có thể bón phân hàng tuần bằng phân cân bằng (N=P=K0 cho lá phát triển. Bón bằng phân giàu lân vào trước thời kỳ cây ra hoa (tháng 9-11). Hạn chế bón khi thời tiết quá lạnh. Một số người dùng phân hữu cơ như nước ốc, nước giải pha loãng để bón cho hoa lan ngọc điểm đai châu, tuy có tác dụng nhưng không nên sử dụng những loại phân này vì dễ gây sâu bệnh, thối lá và làm bẩn môi trường trồng Lan. Màu sắc hoa lan ngọc điểm đai châu thay đổi từ màu trắng, trắng đỏ cho đến màu đỏ tía. Một số giống hoa lan ngọc điểm đai châu hoa đỏ là giống nhập từ Thái Lan và giống trắng đỏ là giống lai.

    Lan Ngọc điếm Hải âu (Rhynchostylis coelestis)

    Hoa lan Ngọc điếm Hải âu – Rhynchostylis coelestis

    Loài lan này có thân ngắn và lá nhỏ hơn. Cụm hoa đứng, dài 10 -15cm. Hoa lớn, xếp dày, màu trắng với đốm lớn màu lam ở đỉnh. Cánh môi màu lam, gốc trắng, hoa thơm, Cây mọc trên núi đất ở độ cao trung bình ở các tỉnh miền Nam và Tây Nguyên.

    Do có cụm hoa đứng, màu lam tươi rất đẹp nên hoa lan Ngọc điếm Hải âu là loài có giá trị trang trí cao. Cây ra hoa tháng 5-6, hoa nở trong khoảng 1 tuần. Loài lan tương đối dễ trồng, ưa sáng, ưa chỗ thoáng đãng.

    Loài lan đáng chú ý khác: Lan Ngọc điểm Đuôi sóc (Rh.retusa) có hoa màu trắng đốm tím rất đẹp. Gặp rải rác ở miền Bắc và Bắc Trung bộ, tương đối khó trồng và khó ra hoa nên không phổ biến.

    – Chi lan Cẩm báo (Hygrochlus)

    Chi này chỉ có một loài lan duy nhất là lan cẩm báo (Hygrochilus parishii).

    Hoa lan Cẩm báo – Hygrochilus parishii

    Cây hoa lan có thân dày ngắn, lá hình trái xoan. Cụm hoa dài hơn lá, ít hoa, hoa lớn. Cuống chung mập thẳng hay gẫy khúc. Cánh hoa lan màu vàng xanh có đốm, vệt đỏ nâu. Cánh môi nhỏ, thùy bên. Gặp chủ yếu ở các tỉnh phía Nam và dãy Hoàng Liên Sơn ở độ cao thấp đến trung bình.

    Cây có hoa lớn, nở tháng 4-5 rất bền. Cây dễ trồng, ưa sáng. Cách trồng và chăm sóc hoa lan tương tự các loài hoa lan Ngọc điểm.

    Chủng hoa lan Cẩm báo nhung (H.parishii var mariottiana) có cánh hoa đồng màu, màu tím hồng gặp ở Tây Nguyên.

    – Chi lan Phượng vĩ (Renanthera)

    Chi lan Phượng vĩ trong các giống lan Việt Nam có 5 loài, là các loài Phượng lan đơn thân có thân vươn dài, lá ngắn, dày, xếp thưa trên thân. Hoa chùm lớn, màu đỏ và vàng, rực rỡ.

    Các loài lan Phượng vĩ xuất xứ từ vùng núi thấp hay cao trung bình, hầu hết là các loài dễ trồng và ra hoa tại Hà Nội. Cây trồng trong chậu treo hay bám gỗ cho phát triển. Các loài lan Phượng vĩ rất ưa sáng, có thể trồng không cần che nắng ở những chỗ không quá nắng. Do trồng chỗ sáng nên cây cần tưới nước nhiều vào mùa hè. Mùa đông giữ ẩm vừa phải. Bón phân cho cây hoa lan hàng tháng trong mùa sinh trưởng. Đầu mùa tháng 6-8 bón các loại phân giàu đạm (30:10:10), bón phân cân bằng vào tháng 9-11. Trong mùa lạnh không nên bón phân hoặc bón các loại phân giàu lân và kali (6:30:3). Hạn chế chuyển chậu hay chỗ trồng vì rễ cây bám vào chất trồng tương tự như rễ hoa lan Ngọc điểm. Những cây lan sau khi chuyển chậu rất lâu ra rễ và hồi phục.

    Lan Phượng vĩ Bắc (Renanthera coccinea)

    Hoa lan Phượng vĩ Bắc – Renanthera coccinea

    Còn gọi là hoa lan Huyết nhung. Cây có thân leo cao tới 10m. Rễ nhiều, lớn, giúp cây leo bám cao. Lá dầy, ngắn, hẹp. Cụm hoa lớn dài tới 60cm, có 4-5 nhánh, mỗi nhánh có 10-15 bông, trải rộng gần giống hình tam giác phẳng. Hoa lan lớn, màu đỏ. Cánh môi màu đỏ đậm, thùy bên màu vàng có vạch dọc. Loài lan này rất phổ biến, có ở hầu hết các vùng trong cả nước. Cây mọc ở độ cao thấp và trung bình.

    Cây cao khoảng l,7m mới bắt đầu ra hoa, Những cây hoa lan bán ở thị trường thường là những đoạn thân ngắn được cắt từ cây to khi đã có hoa. Hoa nở tháng 4-5, rất bền, kéo dài 4-5 tuần. Loài lan này dễ trồng, ít sâu bệnh, hoa có màu đẹp nhưng không thơm, kích thước cây quá dài nên giá trị làm cành không cao, thường dùng cho leo bám các cây trong sân vườn. Hội sinh vật cảnh Buôn Mê Thuộc đã lai tạo loài lan Phượng vĩ với lan Vanda Dạ hương cho cây lai có hoa màu sắc đẹp, lại thơm.

    Hai loài lan Phuợng vĩ Trung (R.annamensis) và lan Phượng vĩ Nam (R.imschootiana) phân biệt với lan Phượng vĩ Bắc ở cảnh hoa có màu vàng lẫn đỏ, thân không leo dài.

    – Chi lan Hoàng yến (Ascocentrum)

    Chi lan Hoàng Yến trong các giống lan Việt Nam có 3 loài, có thân ngắn, lá dày. Hoa chùm đứng, nhiều hoa xếp sát, nổi bật với màu sắc rất tươi tắn.

    Có xuất xứ từ vùng núi thấp hay cao trung bình nên hầu hết các loài lan Hoàng yến dễ trồng và ra hoa tại Hà Nội. Cây có kích thước nhỏ, chủ yếu thích hợp cho trang trí bên cửa sổ, ban công.

    Lan Hoàng yến thường dùng lai với các chi lan Vanda, lan Hồ điệp, lan Giáng hương.

    Lan Hoàng yến cam (Ascocentrum garayi = A. miniatum)

    Hoa lan Hoàng yến cam – Ascocentrum garayi = A. miniatum

    Lan Hoàng yến cam còn được gọi là hoa lan Hỏa hoàng. Cây có thân ngắn, mập, lá dày, cứng. Cụm hoa đứng mọc từ nách lá ở đỉnh, dài trên 10cm. Hoa nhỏ, xếp dài, màu vàng cam bóng, tươi. Hoả hoàng gặp chủ yếu ở phía Nam như miền Trung và Nam bộ, Tây Nguyên trên núi đất ở độ cao thấp,

    Hoa lan Hỏa hoàng nở tháng 4-5, bền trong vài tuần. Là loài dễ trồng, hoa sắc màu rực rỡ, kích thước cây gọn gàng nên hoa lan Hỏa hoàng có thể coi là lan rừng có giá trị cao. Rễ lan Hỏa hoàng nhỏ, nhiều, vừa bám gỗ vừa buông ra ngoài không khí. Cây trồng trong chậu treo nhỏ hay cho bám gỗ. Lan Hỏa hoàng ưa sáng, khoảng 50-70% ánh sáng trực tiếp. Cây lan ưa ẩm, cần tưới nhiều nước, nhất là trong mùa hè. Sau khi cây ra hoa, có thể bón phân hàng tháng.

    + Phong lan có thân ngắn, rễ chùm

    Đây là những loài lan đơn thân nhưng thân rất ngắn, rễ mọc thành chùm ở gốc cây. Do vậy những loài lan này cần trồng trong chậu để giá thể che kín rễ hoặc nếu khi trồng bám gỗ cần chú ý giữ ẩm cho rễ bằng cách buộc thêm xơ dừa, rêu quanh rễ. Hầu hết các loài lan này trong các giống lan Việt Nam đều ưa bóng mát nên đây là những loài lan đáng chú ý, thích hợp cho môi trường nội thất hay không gian hẹp.

    Lan Tóc tiên Bắc (Holcoglossum lingulatum)

    Hoa lan Tóc tiên Bắc – Holcoglossum lingulatum

    Cây lan có thân ngắn, lá dạng hình trụ nhọn. Cụm hoa đứng, hoa lớn, màu trắng, cánh môi có thùy giữa màu đỏ tím, có vạch đậm. Hoa thơm, loài lan Tóc tiên đặc hữu gặp trên núi đá đất vùng cao ở Sơn La, Lai Châu.

    Hoa lan Tóc tiên Bắc phát triển tốt trong điều kiện nuôi trồng tại Hà Nội. Rễ lan Tóc tiên Bắc mập, dày, bám dọc theo chất trồng. Do vậy thường cho cây bám gỗ nhưng cần thiết lót thêm xơ dừa hay rêu để giữ ẩm cho rễ. Để cây ở chỗ râm, mát, tưới nước nhiều quanh năm. Hoa lan nở thường vào dịp năm mới, kéo dài trong 2 tuần. Loài này là loài lan đẹp và quý nhất trong chi lan Tóc tiên, có tiềm năng làm cảnh cao tại Hà Nội và miền Bắc.

    – Chi lan Hồ điệp (Phalaenopsis)

    Các loài lan Hồ điệp rừng khác với các giống lan lai là thân thường nhỏ, hoa nhỏ, cụm hoa ngắn. Lá Hồ điệp dày, hình bầu dục. Hoa lan hồ điệp được ưa chuộng bởi thân gọn gàng hoa bền và tinh tế. Tuy nhiên hầu hết các giống lan Hồ điệp không có hương thơm.

    Các loài Hồ điệp rừng có xuất xứ từ vùng thấp hay cao trung bình, hầu hết là các loài dễ trồng và ra hoa tại Hà Nội. Tương tự như hoa lan Hồ điệp lai cây được trồng trong chậu với xơ dừa hay rêu. Sau vài năm trồng, khi cây lớn cần thay chậu lớn hơn.

    Hoa lan Hồ điệp là những loài lan ưa bóng râm, khoảng 30-40% ánh sáng trực tiếp. Tưới nước nhiều vào mùa hè nhưng tránh nước đọng ở rễ và đặc biệt là lá vì lá dày mềm, dễ thối và tồn thương. Nên tưới vào buổi sáng để tránh đọng nước vào buổi tối, dễ thối lá. Mùa đông tưới vừa phải, không để cây khô. Hoa lan Hồ điệp rừng không cần bón nhiều phân như hoa lan Hồ điệp lai. Bón phân nhiều đạm (30:10:10) hàng tháng trong mùa sinh trưởng là đủ. Muốn thúc hoa, bón phân nhiều lân (10:30:10) nhưng không nên quá lạm dụng vì hoa chỉ ra có mùa, khác với hoa lan Hồ điệp lai.

    Lan Hồ điệp Ấn (Phalaenopsis mannii)

    Hoa lan Hồ điệp Ấn – Phalaenopsis mannii

    Loài Lan này có cụm hoa ngắn. Hoa lớn, có 4-6 chiếc, xếp không quá thưa. Cánh hoa màu vàng nghệ, có vệt nhăn nheo màu nâu. Cánh môi màu vàng hay trắng nhạt. Loài lan này gặp rải rác ở một số tỉnh phía Bắc và miền Trung ở độ cao thấp tới trung bình.

    Hoa lan Hồ điệp Ấn nở tháng 4, kéo dài trong vài tuần. Do có thân và hoa đẹp, dễ trồng nên đây là loài lan có triển vọng làm cảnh cao, thích hợp trồng ở ban công, cửa sổ râm mát, không chiếm nhiều diện tích.

    * Phong lan đa thân

    Các loài lan đa thân có trục phát triển theo chiều ngang, trên đó nảy các chồi tạo thành nhiều thân gọi là giả hành hay củ giả. Để làm cảnh, nên chọn các loài của chi lan Hoàng thảo có các giả hành mọc tập trung, gọn, hoa lớn và nhiều màu sắc. Những chi lan khác ít khi được nuôi trồng ở miền Bắc do hoa có thể đẹp nhưng thân lòng thòng, lá mềm xấu, không đẹp.

    – Chi lan Hoàng thảo (Dendrobium)

    Lan Hoàng thảo là một chi lan lớn nhất trong họ lan. số lượng các loài lan Hoàng thảo trong các giống lan Việt Nam được ghi nhận là 107 loài. Gần đây, nhiều loài lan Hoàng thảo mới được phát hiện và mô tả. Các loài lan Hoàng thảo có mặt ở tất cả các vùng sinh thái trong cả nước. Những loài lan Hoàng thảo dễ trồng chủ yếu là từ các vùng núi thấp hay núi cao trung bình.

    Lan Hoàng thảo là những loài lan sống bám trên cây hay đá, mọc thành bụi nhiều hành giả. Các giả hành có thể phân thành các đốt như cây tre. Nhiều loài có rãnh dọc theo giả hành.

    Rễ hoa lan Hoàng thảo nhỏ, tập trung ở gốc do đó cần giữ ẩm cho rễ. Phần lớn hoa lan Hoàng thảo được treo trong chậu treo, dung than lot đáy chậu và buộc giữ gốc cây dùng xơ dừa hay rêu phủ rễ. Nếu buộc lên gỗ hay lên thân cây thì cần dùng chất trồng giữ ẩm tốt bó quanh rễ và tưới nước nhiều hơn.

    Các loài lan Hoàng thảo không ưa tách bụi, chuyển chậu. Tuy nhiên sau khi trồng 2-3 năm cây ra nhiều giả hành, rễ phát triển chật chậu, cần tách bụi hay đánh chuyển sang chậu lớn hơn. Thời gian tách bụi tốt nhất là vào đầu mùa xuân khi cây hoa lan bắt đầu ra rễ mới. Cũng có thể tách vào mùa thu trước khi cây bước vào thời kỳ nghỉ. Chú ý không cắt bỏ những giả hành cũ, đã rụng lá vì nhiều loài lan Hoàng thảo có khả năng ra hoa trong nhiều năm trên một giả hành đã rụng lá.

    Nhiều loài lan Hoàng thảo cần có thời kỳ nghỉ khô và lạnh mới ra hoa. Đặc biệt là các loài rụng lá theo mùa, ra hoa trên thân già rụng lá của năm trước. Trong thời kỳ nghỉ, cần tưới nước rất hạn chế, chỉ đủ để cây lan không bị khô. Không bón phân trong mùa này. Tưới nước trở lại khi thấy xuất hiện nụ hoa. Loài lan không rụng lá không có mùa nghỉ rõ rệt, cần giữ ẩm hơn vào mùa đông.

    Các loài lan Hoàng thảo thường ưa sáng, khoảng 50-70% ánh sáng trực tiếp là thích hợp. Nơi trồng thông thoáng không khí giúp cây phát triển tốt vào mùa sinh trưởng.

    Do có kích thước vừa phải, hoa lan đẹp nên lan Hoàng thảo là loài Lan có giá trị trang trí cao, thường thích hợp cho không gian tương đối hẹp. Một số loài lan Hoàng thảo lớn có thể dùng cho trang trí sân vườn. Chi lan Hoàng thảo được dùng phổ biến để lai tạo làm cây cảnh hay cắt hoa cắt cành.

    Để thuận lợi cho việc nhận biết và nuôi trồng, có thể chia chi lan Hoàng thảo thành các tông (nhóm)

    Nhóm Hoàng thảo (Dendrobium)

    Đặc điểm của các loài thuộc tông này là cây có giả hành dài, lá phát triển trên toàn bộ giả hành. Hoa lớn, cánh môi phẳng. Cụm hoa ít hoa, phát triển toàn bộ chiều dài già hành, cuống cụm hoa vuông góc với trục giả hành. Đây là những loài có xuất xứ từ vùng thấp hay núi cao trung bình nên tương đối dễ trồng. cần chú ý che bớt nắng vào mùa hè, để sáng vào mùa đông. Mùa hè tưới nhiều nước. Hầu như không bón tưới vào mùa đông, nhất là với các loài rụng lá.

    1. Lan Hoàng thảo dẹt (Dendrobium nobile)

    Hoa lan Hoàng thảo dẹt – Dendrobium nobile

    Hoa lan Hoàng thảo dẹt còn gọi là lan cẳng gà hay lan Thạch lộc. Cây có giả hành dẹt, lớn dần ở đỉnh màu vàng óng. Lá thuôn hình dải. Cụm hoa ngắn 1-3 hoa lớn phát triển trên các thân rụng lá. Hoa màu tím hay pha hồng. Cánh môi hoa có đốm lớn màu đỏ đậm, hoa thơm. Loài này gặp nhiều ở cả miền Bắc và miền Nam ở độ cao thấp tới trung bình.

    Cây có hoa lớn, đẹp, tương đối bền, kéo dài trong 3-4 tuần. Hoa nở vào đầu xuân tháng 3-4. Kích thước cây hoa lan vừa phải, thích hợp cho trang trí ban công, cửa sổ, sân vườn nhỏ. Loài này được dùng phổ biến để lai làm cây cảnh.

    Loài lan dễ trồng, ưa sáng khoảng 50-70%. Tưới nước nhiều vào mùa hè. Bón phân hàng tháng. Khi lá bát đầu chuyển sang màu vàng thì giảm dần tưới nước tới ngừng hẳn vào mùa đông, để cây nghỉ đông ở chỗ sáng. Tưới lại khi rễ mới và nụ hoa bắt đầu xuất hiện.

    Chủng hoa lan trắng (Dendro. nobile var alboluteum) có hoa màu trắng tỉnh, có đốm vàng ở giữa. Loài lan được tìm thấy ở Gia Lai và có thể gặp rải rác ở những vùng khác.

    2. Lan Hoàng thảo Long nhãn (Dendrobium fimbriatum)

    Hoa lan Hoàng thảo Long nhãn – Dendrobium fimbriatum

    Cây hoa lan mọc thành bụi với giả hành cao đến 2m. Lá hình giáo. Cụm hoa trên thân có lá, tương đối dài và nhiều hoa. Hoa lớn 8-15 chiếc, màu vàng nghệ. Cánh môi có đốm lớn màu đỏ đậm ở giữa, mép có lông chia nhánh, Hoa lan thơm. Loài lan gặp phổ biến ở nhiều nơi cả phía Bắc và phía Nam ở các độ cao khác nhau.

    Cây lan có hoa đẹp nở rộ vào tháng 5, bền 3-4 tuần. Kích thước cây lan tương đối lớn nên dùng cho không gian rộng ngoài sân vườn. Loài dễ lan trồng, ưa sáng 50-70%. Chăm sóc cây lan tương tự như hoa lan Hoàng thảo dẹt.

    Loài lan Hoàng thảo vàng cam hay Kim thoa (Dendro. chryseum) cũng hay gặp và rất giống loài lan trên, nhiều khi gọi cùng tên. Phân biệt là thân ngắn hơn, lòng cánh môi không phân nhánh như loài lan Hoàng thảo long nhãn, ít thơm hơn.

    3. Lan Hoàng thảo giả hạc (Dendrobium anosmum = Dendro. superbum)

    Hoa lan Hoàng thảo giả hạc – Dendrobium anosmum = Dendro. superbum

    Hoa lan Hoàng thảo giả hạc còn gọi là Hoa lan Phi điệp. Cây lan có giả hành hình trụ, buông dài đến 1-2m, Hoa lan đơn độc trên các đốt già rụng lá, lớn. Cánh hoa màu hồng tím. Cánh môi có đốm lớn màu tím đậm. Cây gặp phổ biến nhiều nơi ở cả miền Bắc và Tây Nguyên trên núi đất ở các độ cao thấp hay cao trung bình.

    Cây lan cho hoa lớn, màu đẹp, thích hợp trồng ở các chậu treo lớn. Hoa lan nở tháng 4-5, kéo dài trong 1 tuần. Loài lan tương đối dễ trồng, ưa sáng 40-60%. Tưới nước và bón phân như các loài lan Hoàng thảo rụng lá khác.

    Loài lan Hoàng thảo tím hồng (Dendro. parishii) có hoa màu sắc tương tự, phân biệt là thân mọc thẳng hơn, hoa lan đậm màu hơn, cánh hoa trong có răng cưa nhỏ, hoa rất thơm. Loài lan này gặp rải rác từ Bắc vào Nam.

    4- Lan Hoàng thảo tua (Dendrobium harveyanum)

    Hoa lan Hoàng thảo tua – Dendrobium harveyanum

    Cây có giả hành ngắn, mập, thuôn nhỏ dần ở gốc. Cụm hoa tương đối dài và nhiều hoa, Hoa lan lớn, màu vàng tươi. Cánh môi xòe rộng màu vàng cam, mép có tua nhỏ đều. Mép cánh trắng có tua lông dài. Loài lan này gặp ở Tây Nguyên trên núi đất ở độ cao trung bình.

    Cây lan có hoa chùm đẹp, nở rộ vào tháng 2-3, kéo dài 5-10 ngày. Rất thích hợp trồng trong các chậu treo nhỏ. Loài tương đối dễ trồng, ưa sáng 50-70%. Cây rụng lá mùa nghỉ và chăm sóc như những loài hoa lan Hoàng thảo khác cùng nhóm.

    + Loài hoa lan đáng chú ý khác:

    – Hoa lan Hoàng thảo đơn cam (Dendro. Unicum) có hoa lớn trên thân ngắn màu cam đậm gặp ở Tây Nguyên. Hoa rất đẹp nhưng ít thấy ở Hà Nội và tương đối khó trồng.

    – Hoa lan Hoàng thảo hoa vàng hay Phi điệp vàng (Dendro. chrysanthum) có hoa vàng chấm nâu trên thân có lá. Cây lan có mùi thơm cơm nếp. Hoa nở mùa thu, thường đúng 2/9. Cây thường gặp ở miền Bắc vào mùa hoa.

    – Hoa lan Hoàng thảo tam bảo sắc (Dendro. devonianum) có hoa nở đều dọc trên thân, cánh hoa màu trắng có đỉnh hồng, cánh môi có họng vàng cam. Loài này gặp rải rác ở Tây Bắc và Tây Nguyên.

    – Hoa lan Hoàng thảo u lồi hay hoa lan Hoàng nhạn (Dendro. Pendulum) có các đốt thân phình lên ở đỉnh, hoa nở đều dọc trên thân, cánh hoa màu trắng có đỉnh hồng, cánh môi có đốm màu vàng. Loài này gặp ở miền Bắc nhưng tương đối khó trồng và không đẹp khi không có hoa.

    + Nhóm lan Kiều (Chrysotxae)

    Các loài lan thuộc tông này đặc trưng bởi các giả hành ngắn, mập. Lá tập trung ở ngọn, bẹ lá rất ngắn, không rụng lá vào mùa đông. Hoa ở gần đỉnh, chùm dài, nhiều hoa lớn.

    Các loài lan Kiều Hoàng thảo có xuất xứ từ vùng thấp hay cao trung bình, tương đối dễ trồng. Đây là những loài lan ưa sáng trung bình, cần tưới nước vừa phải vào mùa hè. Mùa đông tưới đủ giữ ẩm và để cho chất trồng có thời gian khô giữa các đợt tưới nước. Bón phân hàng tháng vào mùa cây bắt đầu nhú nụ tới đầu mùa lạnh.

    Lan Hoàng thảo vảy rồng (Dendrobium lindleyi)

    Hoa lan Hoàng thảo vảy rồng – Dendrobium lindleyi

    Cây lan có giả hành rất ngắn 3-10cm, củ giả ảp sát vào giá thể. Trên đỉnh giả hành chỉ mang 1 lá. Cụm hoa tương đối dài và nhiều hoa. Hoa lan lớn, màu vàng tươi. Cánh môi màu vàng có đốm vàng đậm, mép nhăn nheo, phân bố rộng từ Bắc vào Nam ở các độ cao thấp và trung bình.

    Cây lan có hoa chùm đẹp, nở rộ trong thời gian ngắn vào tháng 5. Do đặc điểm giả hành mọc sát chất trồng nên thường hoa lan Vảy rồng được gắn vào các khúc dớn hay gỗ có diện tích rộng và giữ ẩm tốt. Loài dễ trồng, ưa sáng 40-70%. Tưới nhiều vào mùa hè. Cần có mùa nghỉ 2-3 tháng lạnh, ít tưới và để chỗ sáng cho ra nhiều hoa.

    Lan Hoàng thảo duyên dáng (Dendrobium amabile)

    Hoa lan Hoàng thảo duyên dáng Dendrobium amabile

    Hoa lan Hoàng thảo duyên dáng còn gọi là Kiều tím. Giả hành cao tới 40cm, có rãnh dọc, màu nâu đen. Cụm hoa buông xuống, đài 30cm và nhiều hoa. Hoa lan lớn, xếp thưa màu hồng nhạt. Cánh môi có đốm màu vàng cam, mép có lông. Loài đặc hữu miền Trung, cũng có thể gặp ở miền Bắc ở độ cao thấp.

    Loài lan này có hoa chùm đẹp, nở rộ vào tháng 5-6, hoa bền 5-10 ngày, Cây hoa lan thích hợp cho trồng trang trí ngoài sân vuờn. Loài dễ trồng ưa sáng 50-70%. Có thể trồng trong chậu có lót thân và phủ rễ bằng chất trồng mềm như xơ dừa, rêu hoặc buộc vào khúc dớn, thân cây dương xỉ. Chăm sóc cây như các loài Kiều khác.

    Lan Hoàng thảo thủy tiên vàng (Dendrobium palpebrae)

    Hoa lan Hoàng thảo thủy tiên vàng – Dendrobium palpebrae

    Loài này còn gọi là hoa lan Hoàng lạp hay hoa lan Hoàng thảo mỡ gà. Cây có giả hành ngắn, 30-50cm, có rãnh, màu vàng, phình ở giữa. Hoa màu vàng tươi, bóng. Cánh môi có đốm màu vàng đậm, mép có lông mịn. Cây mọc chủ yếu ở một số tỉnh miền Trung và Nam bộ trên núi đất ở độ dốc cao thấp hoặc trung bình.

    Cây có thân gọn gàng, hoa tươi màu, được coi là một trong những loài Lan Hoàng thảo có giá trị làm cảnh thất. Chế độ chăm sóc như các loài lan Kiều khác.

    Loài lan tương tự là Kiều vàng (Dendro. thysiflorum) có thân dài hơn, ít mập và phình hơn.

    Hoa không bóng như Thủy tiên vàng, có bán nhiều ở Hà Nội vào mùa hoa.

    Lan Hoàng thảo thủy tiên (Dendrobium palpebrae Lindl)

    Hoa lan Hoàng thảo thủy tiên – Dendrobium palpebrae

    Loài lan này còn gọi là Kiều trắng. Cây có giả hành ngắn 30cm, màu xanh, 4 cạnh. Cụm hoa buông xuống, dài trên 20cm và nhiều hoa. Hoa lan lớn, xếp thưa, màu trắng. Cánh môi gần vuông, họng màu vàng đậm, mép có lông. Hoa thơm. Loài mọc chủ yếu ở Tây Nguyên và Nam bộ trên núi đất ở các độ cao khác nhau.

    Loài lan này có hoa chùm đẹp, nở rộ vào tháng 4-5, hoa nở kéo dài 5-10 ngày, thích hợp trồng chậu treo nhỏ để trang trí cửa sổ, ban công. Nhu cầu ánh sáng và chăm sóc lan tương tự như các loài lan Kiều khác.

    Lan Hoàng thảo thất điểm hồng (Dendrobium draconis)

    Hoa lan Hoàng thảo thất điểm hồng – Dendrobium draconis

    Loài lan này có giả hành cao 2-40cm, chia đốt, khía dọc, lá có bẹ. Cụm hoa gần đỉnh 2-5 hoa. Hoa lan lớn màu trắng, cánh môi có sọc đỏ cam, hoa thơm. Loài lan gặp ở miền Nam trên núi đất ở độ cao trung bình đến cao. Loài lan này tương đối khó trồng. Cây hoa lan ưa sáng 40-70%, đòi hỏi tưới nước thường xuyên. Cây lan mọc thành bụi nên trồng trong chậu lót than và phủ chất trồng mềm và giữ ẩm tốt như có xơ dừa, rêu lên rễ. Hoa nở tháng 3-4 bền trong 3-5 tuần.

    + Các loài đáng chú ý khác:

    – Hoàng thảo hỏa hoàng (Dendro. bellatulum) có giả hành ngắn chia 3 đốt, hoa màu trắng, cánh môi màu đỏ cam. Loài gặp ở Tây Nguyên, thỉnh thoảng có bán tại Hà Nội.

    – Hoàng thảo xương rồng (Dendro. cariniferum) có hoa màu trắng vàng, đỉnh có đốm vàng, họng đỏ. Loài gặp ở Lâm Đồng, Tây Bắc nên vào mùa hoa có thấy bán ở Hà Nội.

    – Hoàng thảo tam giác (Dendro. trigonopus) hoa màu vàng tươi, họng xanh, cánh hoa hình tam giác.

    + Các nhóm lan khác

    Những loài trong các tông khác thường là hoa nhỏ, thân xấu hoặc khó trồng nên không phổ biến. Một số loài đẹp, cần tìm hiểu thêm cách nuôi trồng là:

    – Hoa lan Hoàng thảo báo hỷ (Dendrobium secundum) có giả hành mập có khía. rãnh hơi thuôn ở giữa, lá mềm. Cụm hoa cứng mọc nghiêng ở đỉnh. Nhiều hoa nhỏ xếp sát về một phía. Hoa màu hồng pha tím. Loài phân bố ở miền Nam nhưng tương đối dễ trồng ở Hà Nội.

    – Hoa lan Hoàng thảo Tuấn Anh (Dendro trantuanni) mới được phát hiện ở núi Hoàng Liên Sơn (mang tên một người sưu tầm phong Lan trong chi hội phong lan Hà Nội). Cây có giả hành dẹt ngắn, mập, có rãnh nông, thuôn nhỏ ở gốc. Hoa mọc đều trên thân, màu trắng hồng, họng nâu đậm, rất bền.

    – Hoa lan Hoàng thảo môi tua (Dendro. brymerianum) có giả hành màu vàng phình ở gốc, thuôn nhỏ ở đỉnh. Cụm hoa ngắn, hoa màu vàng tươi, cánh môi có lông tua dài. Loài mọc ở Lai Châu, Lào Cai, có bán ờ Hà Nội vào mùa hoa.

    Địa lan

    Đây là những loài lan mọc trên đất, có rễ ăn vào trong đất hoặc len lỏi giữa các kẽ đá. Thân cây có thể nổi trên mặt đất (bán địa lan) hay ngập trong đất (địa lan thật).

    + Nhóm lan Gấm

    Nhóm này được trồng làm cảnh chủ yếu vì có lá màu sắc đẹp. Những loài này mọc trên núi đá hoặc núi đất, thân ngầm nổi, rễ ăn vào lớp thảm mục của rừng. Phần lớn các loài lan Gấm nói riêng và Địa lan nói chung ra hoa vào mùa đông hay đầu xuân.

    Lan lá Gấm (Ludisia discolor)

    Hoa lan lá Gấm – Ludisia discolor

    Cây lan có thân rễ bò dài, sau đó vươn lên, mập. Lá bầu dục, phiến màu nhung đen, nổi rõ các gân mảnh dọc theo lá màu đỏ, mặt dưới lá đỏ. Cụm hoa mọc thẳng từ đỉnh, hoa thưa màu trắng. Hoa lan lá gấm gặp ở hầu hết các vùng trong cả nước ở độ cao thấp.

    Loài lan này tương đối khó trồng. Cây ưa bóng râm, 30-50% ánh sáng. Tưới nước thường xuyên nhưng tránh đọng nước vào thân lá. Dùng chậu nông, lót than, trên rải rêu, xơ dừa, pha thêm một ít đất với than bùn. Chỉ đặt thân lên mặt chậu rồi dùng rêu, lá khô phủ thân, không được chôn vì dễ làm thối thân. Cây lan có hoa tháng 2-3, bền 20-40 ngày, thơm. Loài lan được trồng làm cảnh do lá có vân màu sắc đẹp, thích hợp để bàn, trang trí nội thất tốt vì có khả năng chịu bóng và có kích thước nhỏ.

    + Loài lan đáng chú ý khác:

    Các loài lan trong chi Kim tuyến (Anoectochilus), Gấm đất (Goodyera) có cấu trúc thân và lá tương tự như Lan lá Gấm cũng là những loài có tiềm năng trang trí nội thất cao. Tuy nhiên, những loài này nhạy cảm với nước đọng, không chịu được nhiệt độ cao trong mùa hè ở Hà Nội. Loài lan thích hợp trang trí bên cửa sổ trong các phòng có điều hoà nhiệt độ.

    – Nhóm Lan đất

    Đây là những loài Lan mọc trong các bãi cỏ ven rừng, cạnh ruộng. Cây lan phát triển trên đất có nhiều khoáng sét, tầng đất dày. Do vậy những loài lan này thường dễ trồng, thích hợp trồng trong chậu như những cây cảnh thông thường. Đất trồng có thể là đất vườn, bổ sung một ít mùn bằng than bùn hay giá thể hữu cơ khác.

    Hạc đỉnh nâu (Phaius tankervilleae)

    Hoa lan Hạc đỉnh nâu – Phaius tankervilleae

    Cây lan có củ giả lớn, thân cao 50-60cm, lá lớn. Cụm hoa thẳng, mọc từ nách lá gốc củ giả, cao tới 70cm. Hoa nhiều, rất lớn, màu trắng ở mặt ngoài, nâu ở mặt trong. Cánh môi màu đỏ có vạch vàng. Cây mọc rải rác ở hầu hết các vùng trên các sình lầy ở độ cao thấp và trung bình.

    Loài lan này dễ trồng, ưa bóng râm. Tưới nước thường xuyên nhưng tránh đọng nước. Đất trồng cần thoáng, xốp, hoặc trộn rêu, dớn mục. Bón phân hữu cơ nhiều có tác dụng tốt. Hoa lan thơm nở tháng 2-3, vào dịp 8/3, bền 20-30 ngày.

    Cùng chi Hạc đỉnh còn có một số loài khác có hoa vàng, trắng hay hồng. Tuy nhiên ít thấy những loài này có bán ở Hà Nội.

    Lan Chu đỉnh tím (Spathoglottis plicata)

    Hoa lan Chu đỉnh tím – Spathoglottis plicata

    Cây lan có củ giả nhỏ, thân cao 40-50cm. Lá thuôn dài. Cụm hoa thẳng mang hoa ở đỉnh. Có từ 7-10 bông, hoa lan lớn, màu tím hay trắng. Cánh môi màu tím đậm, có họng vàng nhỏ. Loài lancó nguồn gốc từ vùng phía Nam trên núi đất ở độ cao thấp.

    Hoa lan Chu đỉnh tím là loài cây lan rất dễ trồng, ưa sáng. Cây lan có thể trồng trong chậu cảnh hay trồng ven tường thành hàng hoa. Hoa lan nở hầu như quanh năm, không có mùa xác định. Hoa bền và thơm, Khi chăm sóc, cần tưới nước thường xuyên nhưng tránh để đọng nước, Dùng đất vườn thoáng, xốp trộn với một phần giá thể hữu cơ. Bón phân hữu cơ có nhiều tác dụng tốt cho cây và hoa.

    Cùng chi lan Chu đỉnh có thể gặp một số loài khác có hoa vàng hay trắng, nhưng ít thấy có tại Hà Nội.

    Môt số lan Hài

    Lan Hài hồng (Paphiopedilum Delenatii)

    Hoa lan Hài hồng – Paphiopedilum Delenatii

    Loài Lan này có mặt ở Nha Trang (Khánh Hòa) và giữa Ninh Thuận – Khánh Hòa tại độ cao khoảng 800 – 1300m.

    Cây hoa lan dễ trồng, hoa có màu trắng pha hồng, đặc biệt cánh môi thường có màu hồng. Mọc trên đất.

    Cây có các hình lá bầu dục dẹp màu xanh với vân đậm nhạt, ở mặt trên và dưới có nhiều chấm nâu đỏ đôi khi dày đặc thành một màu hung đỏ.

    Cụm hoa thường mang 1-2 hoa, kích thước hoa 9x7cm, hoa thường nở vào mùa đông, độ bền hoa 20-40 ngày, có hương thơm.

    Cây ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ che 10-40%, nhiệt độ 13-35°c. Giá thể thích hợp là mùn, dớn hoặc xơ dừa.

    Lan Hài Liên (Paphiopedilum tranlienianum)

    Hoa lan Hài Liên – Paphiopedilum tranlienianum

    Loài lan này có mặt ở Thái Nguyên với độ cao trung bình từ 500-800m, lan dễ trồng hoa có màu nâu với đài trên màu trắng, mọc trên đất đôi khi trên đá.

    Cây lan có các loại lá dạng dải, hơi mềm, mặt trên màu xanh đậm với mép lá màu xanh hay màu trắng mặt dưới xanh nhạt.

    Cây lan ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ che 1O-40%, nhiệt độ 5-35°C. Giá thể thích hợp là dớn và xơ dừa và nên bổ sung đá vôi.

    Lan Hài He ri (Paphiopedilum henryanum)

    Hoa lan Hài He ri Paphiopedilum henryanum

    Loài lan này có mặt ở Hà Giang với độ cao trung bình từ 1000 – 1200m. Hoa lan dễ trồng, hoa có màu đỏ sen, cánh trắng màu nâu đỏ pha xanh và đài trên mang màu xanh vàng với các chấm to màu nâu đỏ, mọc trên đất. Cây lan có lá hơi dựng, cứng và hơi dày, dạng vàng, mặt trên xanh đậm với mép lá vàng hay trắng vàng, mặt dưới màu xanh nhạt với các chấm nhỏ dày đặc màu nâu đỏ ở gốc lá. Cụm hoa thường mang 1 hoa, kích thước hoa 8x7cm, hoa lan thường nở vào mùa thu-đông, độ bền hoa 20-40 ngày, không có hương thơm. Cây lan ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ che 10-40%, nhiệt độ 5-35°c. Cây ưa độ thông thoáng, giá thể thích hợp là dóm và xơ dừa.

    Lan Hài Hec man (Paphiopedilum herrmannii)

    Hoa lan Hài Hec man (Paphiopedilum herrmannii

    Loài lan này có mặt ở Cao Bằng với độ trung bình từ 800-1200m. Hoa có màu nâu đỏ ở cánh tràng, đỏ ở môi và đài màu nâu đỏ với viền màu xanh nhạt, lan sống trên đất, cây có lá dạng dài và nhỏ và hơi cứng, mặt trên có màu xanh bóng với mép lá màu xanh nhạt, cụm hoa mang 1 hoa, kích thước hoa 8x7cm, hoa thường nở vào mùa đông xuân, độ bền hoa 20-44 ngày, không có hương thơm. Cây ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ 10-40%, nhiệt độ 8-35°C, cây ưa độ ẩm và thoáng, giá thể thích hợp là dớn và xơ dừa.

    Phân bố: Đây là một loài lai tự nhiên giữa Paph. Barbigerum X Hirsutissimum var esquirolei phân bố ở khu vực biên giới Việt Nam – Trung Quốc

    Loài lan Hài Việt (Paphiopedilum vietnamense)

    Hoa lan Hài Việt – Paphiopedilum vietnamense

    Loài lan này hiện diện ở Thái Nguyên với độ cao trung bình 1000m, đễ trồng, hoa có màu hông pha trăng đên đỏ tím, mọc trên đât hay bám trẽn đá.

    Cây lan có lá to, bóng, dạng xoăn và dai, mặt trên bóng xanh với các vân đậm nhạt, mặt dưới có nhỉều chấm nâu đỏ dày đặc đến đồng màu nâu đỏ.

    Cụm hoa mang một hoa, ít khi có hai hoa, kích thước hoa 9x12cm, hoa thường nở vào mùa đông xuân, độ bền hoa 20-44 ngày, ít thơm.

    Cây ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ che 10-40%, nhiệt độ 8-35QC, giá thể thích hợp là dớn, xơ dừa hoặc mùn và nên bả sung đá vôi.

    Loài lan Hài hằng (Paphiopedilum hangianum)

    Hoa lan Hài hằng (Paphiopedilum hangianum)

    Hiện diện ở Tuyên Quang, Bắc Cạn với độ cao trung bình từ 800 – 1OOOm. Hoa có màu vàng đến vàng nhạt hay vàng xanh, mọc trên đất hay bám trên đá.

    Cây có lá thuôn dài, to và cứng, mặt trên có màu xanh đậm, mặt dưới có màu xanh nhạt. Cụm hoa mang 1 hoa hiếm khi có 2 hoa, kích thước hoa 16xl4cm, hoa thường nở vào mùa xuân, độ bền hoa 20-44 ngày, rất thơm.

    Cây lan ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ che 10-40%, nhiệt độ 8-35°c, giá thể thích hợp là dớn, xơ dừa và nên bổ sung đá vôi.

    Loài Hài vàng chấm tía (nâu) (Paphiopedilum concolor)

    Hoa lan Hài vàng chấm tía (nâu) – Paphiopedilum concolor

    Loài lan này có mặt ở Ninh Bình, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hài Phòng, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Bắc Giang với độ cao trung bình từ 100 – lOOOm, lan dễ trồng, hoa lan thường có màu trắng đến vàng nhạt, trên cánh có nhiều chấm nhỏ màu nâu đỏ, mọc trên đất. Cây lan có lá hình xoan dài, màu xanh với các vân đậm nhạt ở trên mặt và mặt dưới có nhiều chấm màu nâu đỏ đôi khi đồng nhất màu nâu đỏ ở mặt dưới. Cụm hoa lan thường mang 1-3 hoa, kích thước hoa 6x6cm, hoa thường nở vào mùa xuân hè, độ bên hoa 20-44 ngày, ít thơm. Cây ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ che 10-40%, nhiệt độ 10-35°c. Giá thể thích hợp là dớn, xơ dừa.

    Loài Hài Hê len (Paphiopedilum helenae)

    Hoa Hài Hê len – Paphiopedilum helenae

    Loài lan này có mặt ở Cao Bằng tại độ cao 800-1000m, hoa lan có màu vàng nhạt, đài trên màu vàng với mép màu trắng, mọc bám trên đá. Cây nhỏ với các lá cứng, hơi dày và hẹp dài, mặt trên có màu xanh đậm với mép lá có màu vàng nhạt hay trắng xanh, mặt dưới xanh nhạt với gốc lá có các chấm nhỏ màu nâu đỏ. Cụm hoa mang một hoa, kích thước hoa 6x7cm, hoa lan thường nở vào mùa thu đông, độ bền hoa 20-44 ngày, không thơm. Cây lan ưa ẩm và thoáng, ánh sáng tán xạ che 10-40%, nhiệt độ 10-35°c. Giá thể thích hợp là dớn, xơ dừa và nên bổ sung đá vôi.

    Loài Hài tía (Paphiopedilum purpuratum)

    Hoa lan Hài tía – Paphiopedilum purpuratum

    Một số loài địa lan thuộc chi lan Kiếm:

    Cây lan có bộ lá xanh, bóng, đẹp, hoa lan nở vào dịp tết Nguyên Đán, đặc biệt hoa có hương thơm rất hấp dẫn như loài lan Mạc Đại Hoàng Biên – Cymbidium sp. Cây mọc nhiều ở vùng núi phía Bắc giáp Trung Quốc, vùng Hoà Bình, Lai Châu, Sơn La.

    Một số loài địa lan cũng thuộc chi lan Kiếm nhưng nở hoa vào cuối tháng 9 đến tháng 11 dương lịch. Cây lan có bộ lá đẹp, cứng, hoa thơm, đặc biệt là những ngày có gió heo may mùi thơm lại càng hấp dẫn.

    Đại diện cho loại này là Trần Mộng – Cymbidium sp, Đông Lan – Cymdibium sp. Cây phân bố rộng ở các vùng núi đá vôi thuộc các tỉnh phía Bắc.

    Một số loài đáng chú ý khác:

    Lan sậy (Arudina graminifolia) có thân mảnh, lá dạng cỏ. Cụm hoa mọc từ đỉnh, nhiều hoa nhưng hoa nở dần. Hoa lớn, màu hồng họng tía với đốm vàng nở không có mùa xác định. Loại có rải rác ở các bãi ven núi từ Bắc vào Nam. Thỉnh thoảng có bán ở Hà Nội nhưng ít người trồng.

    Các loài địa lan lai tạo (Địa lan hoa to)

    Theo phân loại thực vật, địa lan có chừng 48 loài, ở Trung Quốc có 30 loài, được chia ra làm hai loại là loại hoa nhỏ và hoa to. Hiện nay có khoảng 20 loại lan được dùng lam nguyên liệu lai tạo, gồm có loại hoa lan như Lan đầu hổ Lan mỹ hoá Lan bích ngọc, Lan đầu hổ Tây Tạng, Lan độc chiếm xuân, phong lan tím, phong lan châu Âu, phong lan đức thị, đại tuyết lan…

    Những giống lan lai được tạo thành từ các loài trên có tới vài nghìn. Hiện nay có những loại ra hoa sớm, ra hoa muộn, muộn trung bình, có loại cho hoa to, hoa xanh, hoa nhiều màu, lại có hoa hình dáng, màu sắc, hương thơm đa dạng.

    Các giống lan Việt Nam có khoảng 900-1000 giống, phần đông do các khoa học nước ngoài tìm ra do đó đều có tên khoa học. Cũng vì vậy nhiều cây chưa có tên Việt Nam hoặc có tên nhưng do một vài người đặt ra hoặc có tên từ trước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lan Trầm Loại Hoa Vạn Người Mê Đòi Hỏi Kỳ Công Chăm Sóc
  • Trầm Trắng, Trầm Rừng Trắng Thái Lan, Dendrobium Parishii Var Alba
  • Lan Mokara: Ý Nghĩa, Hình Ảnh Đẹp, Các Mẫu Hoa Đẹp Dùng Mokara
  • Lan Ý Thảo Là Lan Gì? Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Nở Hoa Đúng Dịp Tết
  • 【Hót】# 1Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Trầm Tím
  • Kỹ Thuật Chăm Sóc Lan Denro Chuẩn Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Denro
  • Lan Đùi Gà Cách Nhận Biết Và Cách Chăm Sóc Chi Tiết
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Hoàng Thảo Đùi Gà Dẹt
  • Hướng Dẫn Ươm Trồng Và Chăm Sóc Lan Đai Châu Rừng
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Lan Giáng Hương Tam Bảo Sắc
  • Bài Viết Chọn Lọc

    Dendrobium là một giống lan có nhiều loài trong họ Orchidaceae giống gồm hơn 1.600 loài. Giống chiếm vị trí lớn nhất là Bulbopllyllum. Phân bố trên các vùng thuộc Châu Á nhiệt đới, tập trung nhiều nhất ở Đông Nam Á và Úc Châu. Nếu như các nước Nam Mỹ tự hào về các loài thuộc giống Cattleya tuyệt đẹp của mình, thì các nước Đông Nam Á cũng hãnh diện vì có giống Dendrobium vô cùng phong phú.

    Không có một dạng chung nhất về hoa, cây, cũng như cách trồng của giống Dendrobium với số loài quá lớn này. Điều kiện sinh thái cũng rất đa dạng, có nhiều loài chỉ mọc và ra hoa ở vùng lạnh, có loài ở vùng nóng, có loài trung gian. Cũng có loài thích nghi với bất cứ điều kiện khí hậu nào.

    Thế giới Dendrobium là một thé giới vô cùng phức tạp, ngay sự ra hoa thuộc loài các giống cũng có 2 lĩnh vực hoàn toàn khác nhau: một nhóm gồm các loài thuộc giống Dendrobium ra hoa vào đầu mùa mưa do quá trình khô hạn trong mùa nắng, nhóm khác ra hoa vào dịp Tết và hiện nay chưa được biết một cánh chắc chắn do ảnh hưởng của quang kỳ hay sự thọ hàn, hoặc do tác động hiệp trợ của cả 2 yếu tố.

    Giống Dendrobium gồm nhiều loài thích nghi với các điều kiện sinh thái khác nhau. Có thể tạm chia Dendrobium làm 2 nhóm chính: nhóm ưa lạnh và nhóm ưa nóng.

    Nhóm Dendrobium ưa lạnh sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ lý tưởng là 15°C gồm các giống được lấy từ các vùng cao nguyên của Việt Nam và Miến Điện trên cao độ 1000m ví dụ các loài Vảy cá (Dendrobium Linlleyi), Thủy Tiên Tím (Dendrobium amabile), Long nhãn kim điệp (Dendrobium fimbriatum). Các loài này nếu được trồng ở nhiệt độ cao hơn hoặc bằng 25°C, thì cây vẫn sống, nhưng phát triển yếu hơn và hiếm bao giờ ra hoa.

    Nhóm Dendrobium ưa nóng, gồm đa số các giống Dendrobium rừng của Châu Úc, Indonêxia, Malaixia và các loài của giống Dendrobium lai hiện được trồng tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, nhiệt độ thích hợp cho các hoài của nhóm này là 25°C. Tuy nhiên các giống Dendrobium lai chịu được một nhiệt độ cao hơn nhiều.

    Ngoài ra còn có một nhóm Dendrobium trung gian có thể sống ở cả vùng lạnh và vùng nóng, những ở vùng lạnh cây sinh trưởng và ra hoa nhiều hơn ví dụ các loài Dendrobium Primulinum, Dendrobium fanmeri, Dendrobium chrysotoxum nhiệt độ lý tưởng của các loài này là 20°C.

    Dendrobium cũng như đa số các giống lan khác chỉ phát triển tốt trong điều kiện không khí ẩm và thoáng, ẩm độ tương đối cần thiết là 70%. Cấu tạo giá thể quá ẩm và úng là điều kiện bất lợi cho sự sinh trưởng của giống Dendrobium vì có thể toàn bộ rễ bị thối và biểu hiện là các cây con mọc từ phần ngọn của thân.

    Ở thành phố Hồ Chí Minh, Dendrobium được trồng trong điều kiện ánh sáng nhiều hơn, 70% ánh sáng khoảng 20.000-30.000 lux, vì thế các loài thuộc giống này sẽ được tưới nước nhiều hơn Cattleya: 2 lần/ngày từ tháng 5 đến tháng 11, 3 lần ngày từ tháng 12 đến tháng 2 và 1 lần/ngày từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 4.

    Sự tưới nước 1 lần./ngày trong mùa nghỉ sẽ làm cho các giả hành của giống Dendrobium rụng lá và nhăn nheo nhưng điều chắc chắn xảy ra khi mùa mưa đến, những chồi non sẽ mọc lên rất nhanh và rất mạnh, các chồi hoa sẽ hình thành dần. Hoa sẽ nở trong thời gian 3 tháng sau khi mưa, và có thể kéo dài đến tháng 12.

    Nếu phân bón là điều kiện quyết định sự ra hoa của Cattleya, thì sự thay đổi các điều kiện sinh thái trong mùa nẫng và mùa mưa là nguyên nhân chính quyết định sự ra hoa của các loài thuộc giống Dendrobium (một số loài khác thuộc giống này ra hoa vào dịp Tết sẽ nói rõ ở phần ánh sáng). Quá trình khô hạn trong mùa nghỉ từ đầu tháng 3 đến cuối tháng 4 sẽ giúp cây dự trữ dưỡng liệu để chuẩn bị một mùa hoa hứa hẹn trong tương lai.

    Khái niệm về mùa nghỉ đối với một số giống lan nói chung và giống Dendrobium nói riêng là hoàn toàn mới. Ở thành phố Hồ Chí Minh và các tình phía Nam, từ lâu các nhà vườn ở đây đều trồng lan không có mùa nghỉ.

    Mùa nghỉ là thời gian tuyệt đối cần thiết đối với giống Dendrobium sự theo dõi trong 5 năm (1979 – 1983) cho thấy rằng đối với loài Dendrobium American Beauty, Dendrobium Pompadour… một thời gian nghỉ 2 tháng sẽ giúp cây lan đến tuổi thành thục và có thể thu hoạch từ 3 – 4 cành hoa, mỗi cành từ 20-25 hoa rất dễ dàng, một vấn đề mà các nhà trồng lan đang ao ước và đây cũng là mấu chốt giải quyết phẩm chất các cành hoa Dendrobium sẽ xuất khẩu trong tương lai.

    Dendrobium là giống ưa sáng, có thể trồng trong điều kiện ánh sáng trực tiếp hay khuếch tán ánh sáng hữu hiệu cho giống Dendrobium là 70%, vì thế giàn che với độ che sáng 30% dưới đất và 40% ở trên cao với cường độ ánh sáng từ 15.000-30.000 lux rất thích hợp cho sự phát triển của Dendrobium.

    Các chậu Dendrobium được treo trong giàn không nên quá gần nhau, mà phải có khoảng cách 25cm cho các loài có dạng lớn và 15cm cho các loài có dạng nhỏ, nhằm mục đích tạo cho cây có đầy đủ ánh sáng và độ thoáng. Nếu có đầy đủ giống, ta nên trồng một loài Dendrobium đồng nhất trong giàn, hoặc nếu một giàn trồng nhiều giống khác nhau nên chọn những cây cùng kích thước (để sự phân bố ánh sáng được điều hòa) và những cây cùng tuổi (để việc sử dụng phân bón dễ dàng hơn).

    Dendrobiun có thể trồng dưới ánh sang trực tiếp cây vẫn phát triển tốt, tuy nhiên để ngăn ngừa trường hợp cây bị bỏng lá, ta phải tập cho các cây thích nghi từ từ và các chậu khi trồng phải treo hơi khít vào nhau. Đối với các loài thuộc giống Dendrobium, phải nên nhớ, thà rằng cây bị bỏng lá vì thừa ánh sáng lơn là thiếu.

    Thiếu ánh sáng đối với các loài thuộc giống này sẽ gây ra sự thoái hóa rõ rệt, số lượng hoa cũng rất ít, cây èo ọt. Trái lại, thừa ánh sáng đối với các loài thuộc giống Dendrobim, chỉ làm cho cây xấu đi vì lá quá vàng hoặc các giả hành trơ trụi, nhưng cây sẽ thích nghi dần và vẫn đảm bảo cây ra hoa nhiều và đẹp. Dù sao điều kiện ánh sáng lý tưởng vẫn cho kết quả tối nhất.

    Ngoài ra thời gian chiếu của ánh sáng trong ngày là điều kiện quyết định sự ra hoa của một số loài chịu ảnh hưởng bởi quang kỳ, ví dụ: lan Giá hạc, Long tu, Kim điệp chỉ ra hoa với điều kiện ánh sáng có thời gian chiếu ít hơn 10 giờ trong ngày. Tuy nhiên, một giả thiết khác cần được nghiên cứu cung có thể các loai hoa này ra hoa do sự thọ hàn vào tháng 12. Loài lan Thạch hộc chỉ cần bị lạnh trong vài giờ, cây sẽ trổ hoa sau 1 tuần lễ.

    Phải nhớ rằng Dendrobim thân đứng là loài lan đòi hỏi dinh dưỡng cao, vì thế chúng cần rắt nhiều phân bón và có thể dùng rất nhiều dạng phân bón khác nhau.Còn các loại Dendrobium thân thòng ăn phân yếu phải dùng nồng độ thật loãng. Phân heo có thể dùng rất tốt bằng dạng tưới pha thật loãng hay phân khô vò chặt thành từng viên dài đặt phía trên bề mặt giá thể.

    Phân bánh dầu khô cung được dùng hữu hiệu bằng cách ngâm nước rồi pha thật loãng để tưới hay dùng thắng từ viên bánh dầu khô: dùng đầu ngón tay đặt cách xa giả hành khoảng 5cm. Rễ lan sê hấp thụ dần dần các dưỡng chất được phóng thích qua quá trình tưới nước. Một số các loại phân hữu cơ khác cũng được dùng như phân tôm cá, phân trâu bò khô…

    Các loại phân vô cơ được dùng, thường có công thức 30-10-10 dùng 3 lần/1 tuần với nồng dộ 1 muỗng cà phê/4lít. Trong suốt mùa tăng trưởng (từ đầu tháng 5 đến cuối tháng 1) một tháng trước khi bước vào mùa nghỉ (trong suốt tháng 2) ta bón phân 10-20-30 làm 2 lần/1 tuần để tạo một sức chịu đựng cho cây trước khi bước vào mùa nghỉ.

    Trong mùa tăng trưởng nếu cây có nụ hoa, ta thay phân 30-10-10 bằng phân 10-20-20 với chu kỳ bón như trên cho đến kho hoa tàn. Trong mùa nghỉ hoàn toàn không bón phân. cho Dendrobium, hay đúng hơn giảm và không bón phân cho Dendrobium khi cây hoàn tất thời kỳ tăng trưởng hằng năm của nó. Thường Dendrobium hoàn tất thời kỳ tăng trưởng vào tháng 9 đến tháng 10 khi mà những lá cuối cùng của nó thấy được trên đỉnh giả hành và thân.

    Thời kỳ tăng trưởng hoàn tất, bạn giảm nước tưới và thức ăn từ từ cho đến khi không còn gì nữa trong một thời gian chừng 4 tuần, vào lúc này cây cần càng nhiều ánh nắng càng tốt- phối hợp Với điều kiện khí hậu tháng 12 ngày ngắn và nhiệt độ mát – những giống thay lá hằng năm chuẩn bị rụng lá để hình thành phát hoa.

    Các giống không thay lá ít biểu lộ hơn và thường chỉ rụng một đến hai lá ở các giả hành và thân già ít khi các nhà vườn trồng lan, dùng các loại phân riêng rề, thường phân bón được dùng ở dạng hỗn hợp gồm vô cơ, và đôi khi những chất phụ gia là các loại sinh tố và các nguyên tố vi lượng.

    Mặc dù các loài thuộc giống Dendrobium cần và sử dụng rất nhiều phân bón, nhưng bạn phải cẩn thận, phân bón chính là con dao hai lưỡi, lạm dụng phân bón dù là phân hữu cơ cũng đưa đến tác hại, kết quả cuối cùng là sự chết. Bạn có thể giảm nồng dộ phân bón theo tỷ lệ, để rút ngắn thời gian tưới giữa 2 lần, nhưng nếu tăng nồng độ phân bón, nhằm mục đích kéo dài thời gian giữa 2 lần tưới là một ý nghĩ sai lầm.

    Giá thể của Dendrobium có cấu tạo tương tự như các loài thuộc giống Cattleya, nghĩa là chậu phải thật thoáng và không úng nước. Tuy nhiên do bản năng sinh học và cấu trúc thực vật với giả hành có thân, các loài thuộc giống Dendrobium có thể dùng giá thể hơi ẩm hơn Cattleya chút ít nhưng không được làm thối căn hành.

    Vì thế một số loài Dendrobium có thể phát triển trên các giá thể là xơ dừa hay cá quả dừa, dùng như một cái chậu chứa sẵn giá thể. Tuy nhiên nếu giá thể là xơ dừa phải hạn chế số lần tưới nước, nếu chậu là quả dừa nguyên phải cưa phần đáy, nếu không cây bị thối vì quá ẩm. Cũng có thể trồng cây lan Dendrobium với căn hành cách đáy chậu khoảng 3cm, rồi rải thật thoáng xung quanh căn hành một số rễ lục bình giặt sạch. Với cách trồng này thì kích thước chậu và cây phải thật tương xứng. Tuy nhiên, giá thể than và gạch vản tỏ ra hiệu quả nhất.

    So với Cattleya, mùa nghỉ của các loài thuộc giống Dendrobium, cần thiết hơn nhiều. Mùa nghỉ của Dendrobim quyết định phẩm chát hoa trong mùa mưa đến. Tùy địa phương việc chọn thời gian nghỉ Dendrobium có khác nhau, riêng ở thành phố Hồ Chí Minh mùa nghỉ của Dendrobium nên bắt dầu từ tháng 3 đến cuối tháng 4.

    Một câu hỏi được đặt ra là, các loài của giống Dendrobium sau khi hoàn thành giả hành, một chồi mới được phát sinh ngay lúc bắt đầu sự nghỉ ngơi, bạn phải giải quyết như thế nào ? Theo chúng tôi, nếu chồi còn nhỏ, mắt chỉ hơi phồng lên, có thể giảm bớt nước tưới và mang vào một nơi khô và mát.

    Nếu chồi đã lớn trên 5mm, ta phải duy trì lượng nước tưới và phân bón để đảm bảo cho cây phát triển bình thường cho đến khi chồi trưởng thành và hình thành một giả hành hoàn chỉnh. Ta sẽ cho cây nghỉ ngơi với thời gian muộn hơn để cây lấy lại sức, nếu không chồi non này sớm muộn cũng sẽ bị lụi và xem như cây lan đã mất đi một mắt để hình thành một hướng (lead) mới.

    Dendrobium là một giống lan rất nhạy cảm khi cấu tạo giả thể không thích hợp cho việc phát triển của nó và biểu hiện là, một số cây con mọc trên ngọn thân của các giả hành. Khi có điều này xảy ra bạn phải tiến hành thay chậu , vì chắc chắn các giá thể trong chậu đã bị hư. Hiện tượng này là do cấu tạo một giá thể quá ẩm như xơ dừa.

    Chỉ một thời gian ngắn thay giá thể, xơ dừa bị mục và lắng xuống đáy chậu tạo thành một lớp mùn úng nước. Chính vì thế các rễ hoàn toàn trong điều kiện úng thủy sẽ bị thối toàn bộ. Ngoài ra chính lớp mùn là điều kiện sinh sống thuận lợi của các côn trùng. Các loài này tác động cùng với sự bất lợi vì thừa nước, cắn phá toàn bộ rễ của cây lan. Do bản năng sinh tồn cây lan sẽ phản ứng bằng cách mọc ra một số cây con trên ngọn để duy trì nòi giống.

    Quan sát hiện tượng các cây con mọc trên chồi ngọn cũng sẽ giúp các nhà vườn kiểm tra xem cách trồng như thế đã hợp lý chưa ? Nhất là về điều kiện nước tưới và bón phân. Ngoài ra với chu kỳ 2 năm một lần, ta nên thay chậu vì trong quá trình sinh trưởng, ít nhiều chậu bị đóng rêu, giá thể bị hư hao, cây mất cân đối.

    Việc thay chậu cũng tiến hành tương tự như Cattleya. Dendrobium và Cattleya rất giống nhau về vấn đề nhân giống, nghĩa là cũng cắt từng 3 tép một và các trình tự tiến hành cũng như Cattleya, nhưng mùa nghỉ của Dendrobium là 2 tháng. Vì thế ta phải cắt Dendrbium thành từng đoạn 3 tép trước Cattleya 1 tháng.

    Các cây con mọc trên ngọn thân thì phương pháp nhân giống đơn giản. Bạn tách rời cây con khỏi thân cây mẹ bằng một vết cất chỗ tiếp giáp. Một số người sợ rằng, với cách cắt nhu trên cây sẽ không đảm bảo tỷ lệ sống, nên vội vàng cắt thêm một đoạn thân cây mẹ.

    Thật ra không có sự khác biệt nhiều về sự tăng trưởng giữa cây cắt ngay chỗ tiếp giáp và cây cắt với một đoạn thân cây mẹ. Do đó một việc làm như vậy là lãng phí, vì trên đoạn thân cây mẹ này có thể cho thêm vài cây con nữa trong tương lai. Thực tế chứng minh rằng với 1 giả hành Dendrobium, nhiều khi có thể cho đến 15 cây con.

    Bạn nên có sự chọn lựa thật kỹ càng: nếu để cây con, thì cây mẹ sẽ yếu sức và ngược lại việc lấy cây con quá non sẽ có. tỷ lệ tử vong cao. Tùy hoàn cảnh và ý định sẽ giúp bạn có một suy xét hữu hiệu nhất. Ngoài ra Dendrobium là giống giả hành có thân, vì thế hư các mắt ngủ của căn hành không gây sự chết tuyệt đối Ở cây như giống Cattleya và chính nhờ hiểu biết này, bạn có thể nhân giống các giống Dendrobium quí một giả hành duy nhất vẫn đảm bảo cây sống.

    Cực đoan hơn, Dendrobium có thể nhân giống bằng cách cắt từng đoạn thân mang khoảng 2 mắt một, nhúng 2 đầu đoạn cắt, vào parafin hoặc bôi son, vôi… Đặt các đoạn nằm ngang, trên mặt cát ẩm, che lại bởi một lồng kính, ba ngày phun một lần dung dịch urê, 1 muỗng càphê/4 lít nước, cộng thêm cả sinh tố B1, với một nồng độ 10 phần triệu (10 ppm) trong thời gian 2 tuần liên tục. Sau đó chỉ phun mỗi dung dịch nửa muỗng cà-phê trong 4 lít + sinh tố B1 cho đến khi cây mọc các cây con. Phun hàng tuần trong các tuần kế tiếp.

    Vì lan Dendrobium cần được bón nhiều loại phân hữu cơ khác nhau và môi trường xơ dừa sẽ mục nát sau một thời gian ngắn được trồng. Đây là 2 nguyên nhân gây ra nhiều sâu bệnh hại cho các loài dán và cuốn chiếu cắn phá rễ trong giá thể.

    Một loại rệp dính màu vàng, kích thước rất bé khoảng đầu tăm, thường xuất hiện trên bề mặt lá. Loại này tác hại trên cây qua việc hút nhựa. Đối với các loài côn trùng cắn phá Dendrobium thì loại trừ chúng tương đối dễ dàng bằng Serpa, Bassa, nồng độ 1/500.

    Mặc dù Dendrobium là cây kháng bệnh rất mạnh, tuy nhiên cây vẫn bị nấm và virut tấn công, nếu điều kiện vệ sinh quá kém. Nguy hiểm nhất là bệnh khô thân gần gốc và giả hành do một loài virut xâm nhập, làm cho các giả hành bị khô và chết. Đây cũng là một trong những nguyên do làm cây mọc cây con trên ngọn thân. Có thể ngừa bệnh cho giống Dendrobium với khoảng cách dài hơn Cattleya là nửa tháng xịt 1lần bằng các loại thuốc ngừa nấm Topsil, Zineb, Bencmyl với nồng độ 1/400.

    Cây lan Den. hercoglossum (hồng câu) sau 1-2 năm sẽ rụng hết lá để ra hoa hay cây chúng tôi sẽ tàn sau 2-3 tuần. Lan chịu nước vào mùa hè, bớt tưới nước vào mùa đông.

    Những cây Den. anosmum (dã hạc), lituiflorum, pulchellum, lowianum, finlayanum, heterocarpum, parishii, pieradii, nobile (Thạch hộc), tortile, chrysanthum, wardianum sẽ rụng lá trước và khi đang ra hoa. Cần tưới nhiều nước vào mùa hè và mùa đông thì bớt tưới.

    Những cây Den. amabile, chrysotoxum (Kim điệp), farmeri, densiflorum, moschatum (Thái bình), thyrsiflorum (Thủy tiên), brymerianum, fimbriatum, lindleyi không rụng lá và xanh tốt quanh năm. Những cây thuộc loại này đừng bao giờ để khô.

    Những cây lan có thân hình dáng như củ khoai và hoa màu vàng thường hay bị những con ong vò vẽ và chuột đến viếng thăm, cắn phá do vậy nên cẩn thận bảo vệ.

    Đối với vườn Lan các bạn cần chú ý tới lưới che nắng có thể tham khảo Lưới che nắng cho Lan

    Để kiểm tra độ ẩm các bạn tham khảo thiết bị kiểm tra độ ẩm đất , Máy đo độ phì nhiêu của đất, Máy đo pH đất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Lan Dendro Xuân, Chi Tiết & Hình Ảnh
  • Chăm Sóc Làn Da Tuổi Dậy Thì Cùng Oriflame
  • Chăm Sóc Da Tuổi Dậy Thì: Vượt Qua Tự Ti Về Làn Da
  • 11 Mẹo Chăm Sóc Làn Da Luôn Căng Bóng Ở Tuổi 50
  • Bí Quyết Chăm Sóc Làn Da Trẻ Sơ Sinh Bị Chàm Đúng Cách * Hello Bacsi
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Lan Denro

    --- Bài mới hơn ---

  • Lan Đùi Gà Cách Nhận Biết Và Cách Chăm Sóc Chi Tiết
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Hoàng Thảo Đùi Gà Dẹt
  • Hướng Dẫn Ươm Trồng Và Chăm Sóc Lan Đai Châu Rừng
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Lan Giáng Hương Tam Bảo Sắc
  • Kinh Nghiệm Trồng Và Chăm Sóc Lan Hạc Đỉnh Nâu Nở Hoa
  • Hoa Lan Dendro được nhập từ Thái Lan về, được trồng phổ biến tại Việt Nam, hiện nay lan Dendro được nhiều người yêu thích vì loài hoa này có nhiều màu sắc khác nhau và cũng dễ chăm sóc hơn nhiều loài hoa cảnh khác.

    1. Thiết kế nhà lưới trồng hoa lan dendro

    Ngày nay, có lưới nilon màu đen có tác dụng tản nhiệt và hạn chế ánh sáng mặt trời được bán rộng rãi trên thị trường nên rất thuận tiện.

    + Khung sườn giàn hoa lan : cần phải làm cho thật chắc chắn.

    + Trụ đứng : phải được dựng bằng sắt hoặc bê tông để bảo đảm thời gian dài, có thể chằng ngang dọc để vững hơn. Trụ phải cao khoảng 3-3.5m.

    + Giàn che nắng: sử dụng để che ánh sáng mặt trời trực tiếp. Thông thường làm bằng lưới nilon, cái này rất dễ sử dụng.

    + Giàn treo lan: để treo phong lan, tốt nhất làm bằng thép không rỉ hoặc gác bằng cây tầm vông, cây tre hay ống nước tròn để móc chậu lan vào. Giàn treo làm cao khoảng 1,8m để đi vào chăm sóc không bị đụng đầu.

    Khi treo giò lan phải treo chậu cùng chiều dài, cái móc treo lan cũng phải có độ dài bằng nhau và trồng cùng độ tuổi, cùng loài phong lan để dễ chăm sóc. Treo lan phải ngay hàng thẳng lối thì trông mới đẹp.

    + Kệ để lan: cao cỡ 0,8 m có lỗ vừa bằng chậu, không tốn móc treo và tầm vông giữa giàn; còn để được nhiều chậu.

    2. Yêu cầu sinh thái đối với loài hoa lan dendro

    – Ánh sáng: loài hoa này rất cần ánh sáng, lượng ánh sáng khoảng 70% ánh sáng mặt trời. Nếu cao quá làm cây bị cháy lá. Còn nếu thiếu sáng thì cây ốm yếu, lá mỏng, hoa nhỏ và có thể không ra hoa.

    – Độ ẩm: cần khoảng 50-80%

    – Độ thông gió: thông thoán, môi trường lúc nào cũng ẩm và mát mẻ để lan dễ phát triển. Nói chung ở đâu có mặt bằng ở đó có thể làm được lan. Có thể làm vòi nước phun sương, tưới nhiều nước hơn để giữ ẩm …

    3. Kỹ thuật trồng lan dendrobium

    Cây giống dendrobium mới mua về phải đặt ở vị trí thóang mát, và tiến hành phòng trừ nấm bệnh cho cây trước khi trồng.

    Giá thể trồng thông thường trồng bằng than gỗ, vỏ thông, dớn, xơ dừa, gạch… Nhưng phải sát trùng trước khi trồng. Chậu thường dùng là chậu nhựa hoặc chấu đất

    Cách trồng: Cách trồng Dendrobium phổ biến nhất hiện nay là trồng trong chậu. Trồng cây sát mép chậu và hướng chồi phát triển nằm phía trong. Trồng chặt và không bị lung lay.

    Trồng trên thân cây: có thể trồng trên thân cây sống hoặc thân cây đã chết. Đối với cây sống trong quá trình trồng phải chú ý tán cây sao cho ánh sáng phù hợp với lòai lan được trồng. Đối với cây chết chọn các cây gỗ rồi cưa thành khúc sau đó bó các đơn vị lan vào thân gỗ và chăm sóc.

    4. Kỹ thuật chăm sóc lan dendro

    + Tưới nước: lượng nước tưới tuỳ theo giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây và tuỳ theo mùa. Mùa nắng tưới 2 lần vào lúc sáng sớm và 3 giờ chiều, tưới ướt lá và giá thể là được.

    + Bón phân: chia 3 giai đoạn chính:

    A. Giai đoạn cây con: Từ cây mô mang ra vườn ươm đến khi ra vườn trồng sản xuất (từ 4-6 tháng)

    Phân thường dùng:

    + Ademon dùng 2-6 giọt/lít nước

    + NPK 30-10-10 hoặc NPK 30-15-10 dùng 0.5g-1g/lít

    + Vitamin B1 dùng 1ml/lít

    + Phân Hữu Cơ 1ml/lít

    Phun định kỳ 2 lần trên tuần, có thể dùng phân NPK cùng vitamin B1 để tưới cho lan con. Ademon kết hợp với Phân Hữu cơ

    5. Giai đoạn cây ra vườn sản xuất đến cây trưởng thành: giai đoạn phát triển mạnh nhất

    B giai đoạn trưởng thành

    Phân thường dùng:

    + Phân Đạm cá 2ml/lít nước

    + NPK 20-20-20 (1-1.5gam/lít)

    + Vitamin B1 dùng 1ml/lít

    + NPK 30-15-10 dùng 1-1.5g/lít Phun định kỳ 5 ngày/ lần.

    + Phân Trung Vi Lượng 1-2ml/lít

    Cách dùng:

    Phân NPK 30-15-10 kết hợp vitamin B1 phun 2 lần/tuần. Phun liên tiếp 2-3 tuần; sau đó phun 1 lần NPK 20-20-20 kết hợp Phân Trung Vi Lượng; tiếp theo phun phân cá. Sau đó phun lặp lại phân 30-15-10 và Vitamin B1 như từ đầu.

    Hơn nữa, có thể bón thêm vào gốc bằng phân Dynamic 5-7 cục/gốc.

    C. Giai đọan cây chuẩn bị ra hoa và nuôi hoa:

    Loại phân thường dùng:

    – NPK 20-20-20 (1-1.5gam/lít)

    – Phân Đạm cá 2ml/lít nước

    – Vitamin B1 dùng 1ml/lít

    – NPK 6-30-30 1g/l

    – Canxi Bo 1-2ml/lít

    Cách dùng phun 2 lần trên tuần kết hợp NPK với B1, Canxi Bo với Đạm Cá

    – Phòng trừ sâu bệnh: Thực hiện phun thuốc phòng định kỳ 7-10 ngày /lần. Có thể sử dụng luôn phiên thay đổi các thuốc khác nhau.

    Thuốc trừ bệnh thường dùng là Rhidomil, Aliette, Physan, Chubeca, Dithane

    Thuốc sâu trị: Nhện Đỏ, Bọ Trĩ, Rệp Sáp …

    Nguồn SƯU TẦM VÀ TỔNG HỢP

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Chăm Sóc Lan Denro Chuẩn Nhất
  • Tìm Hiểu Về Lan Dendro Xuân, Chi Tiết & Hình Ảnh
  • Chăm Sóc Làn Da Tuổi Dậy Thì Cùng Oriflame
  • Chăm Sóc Da Tuổi Dậy Thì: Vượt Qua Tự Ti Về Làn Da
  • 11 Mẹo Chăm Sóc Làn Da Luôn Căng Bóng Ở Tuổi 50
  • Chuẩn Bị Dụng Cụ Trồng Lan Denro Cây Cấy Mô

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Dòng Lan Hoàng Thảo Kèn
  • Cách Chăm Sóc Lan Hoàng Thảo Kèn Cho Hoa Quanh Năm
  • Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Hoa Lan Hỏa Hoàng Đẹp Nhất
  • Kỹ Thuật Trồng Lan Hồ Điệp Đúng Cách Ra Hoa To Và Đẹp
  • Kỹ Thuật Trồng Lan Hạc Đỉnh
  • Chuẩn bị dụng cụ trồng LAN Denro cây cấy mô – Web chia sẻ những kinh nghiệm trồng cây cảnh hữu ích nhất.

    Chuẩn bị dụng cụ trồng LAN Denro cây cấy mô

    Chuẩn bị dụng cụ trồng LAN Denro cây cấy mô

    Mr Thuận 09382 09381

    Thanh toán qua tài khoản ngân hàng

    Thông tin chuyển khoản

    *********************************************************************

    Ngân hàng Vietcombank Chi nhánh Cần Thơ

    Số tài khoản: 0111000193677

    Tên chủ tài khoản: TRƯƠNG HỮU THUẬN

    LƯU Ý:

    Qúy khách vui lòng thêm số điện thoại của quý khách hàng vào nội dung chuyển tiền để tiện liên hệ giao hàng.

    *********************************************************************

    Địa chỉ Cơ Sở 1:

    39 Đường 30 KDC Hưng Phú 2 (Công Ty 8), Quận Cái Răng, Tp.Cần Thơ

    Bản đồ Google maps:

    Địa chỉ Cơ Sở 2:

    522 Nguyễn Chí Thanh, P. Thới An Đông, Q. Bình Thủy, Tp.Cần Thơ

    Bản đồ Google maps:

    TRANG TRẠI CÔN TRÙNG

    Đăng Ký Theo Dõi Kênh Miễn Phí

    Nơi chia sẻ những kinh nghiệm trong nông nghiệp chăn nuôi khép kín bền vững. Thông qua nhiều mô hình chăn nuôi tại Trang trại.

    – Nuôi trùn quế bằng phân của các động vật ăn cỏ như: Trâu, bò, ngựa, dê, thỏ,.. tạo ra được 2 sản phẩm chính đó là: thịt trùn quế làm thức ăn cho gia cầm, gia súc, thủy hải sản. Hai là phân trùn quế làm phân bón cho tất cả các loại cây trồng giúp tơi xốp đất và cây sinh trưởng bền vững

    – Nuôi Dế mèn thái bằng các loại rau như: Rau muống, rau lang, lá khoai mì,…tạo ra 2 sp thịt dế có thể chế biến trong nhà hàng, chim cá cảnh, người đi câu cá,…Phân dế làm phân bón cho tất cả các loại cây trồng.

    – Nuôi ruồi lính đen xử lý rác thải hữu cơ rất hữu hiệu tạo ra 2 sản phẩm: Ấu trùng ruồi lính đen dùng làm thức ăn cho gia cầm, gia súc, thủy hải sản,..Phân ấu trùng ruồi lính đen dùng làm phân bón.

    – Nuôi chim cút thả vườn là mô hình chăn nuôi khép kín cho ăn côn trùng giảm chi phí thức ăn xuống mức thấp nhất có thể. Giúp tăng lợi nhuận trong các mô hình chăn nuôi.

    – Nuôi chim trĩ thả vườn cũng áp dụng cho ăn các loại côn trùng như dế, ấu trùng ruồi lính đen, trùn quế,…nhằm giúp vật nuôi phát triển tự nhiên.

    – Nuôi cá trê cũng áp dụng cho ăn các loại côn trùng đã mang lại hiệu quả tích cực.

    Ứng dụng các loại côn trùng làm thức ăn cho gia cầm, gia súc, thủy hải sản đã giúp giảm chi phí thức ăn xuống còn 20% và giúp vật nuôi tránh khỏi những bệnh tật cơ bản trong chăn nuôi.

    . : : DẾ MÈN THÁI : : .

    Diện tích nuôi dế đạt 1.000m2 sản lượng dế thương phẩm cung cấp thức ăn cho 10.000 con Chim Cút

    Cung cấp hàng ngàn khay trứng dế giống cho bà con cả nước. Chúng tôi luôn mong muốn mang lại nhiều lợi ích cho bà con làm nông nghiệp chăn nuôi cả nước.

    . : : TRÙN QUẾ : : .

    Trùn quế là gì?

    Trùn quế là giống trùn được thuần hóa, có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ Megascocidae được đưa vào nuôi công nghiệp với qui mô vừa và nhỏ, thuộc nhóm trùn ăn phân, thường sống trong môi trường có nhiều chất hữu cơ đang phân hủy.

    Kích thước trùn quế trưởng thành từ 10 – 15 cm, nước chiếm khoảng 80 – 85%, chất khô khoảng 15 – 20%. Hàm lượng các chất (tính trên trọng lượng chất khô) như sau:

    Protein: 68 -70%

    Lipid: 7 – 8%,

    Chất đường: 12 -14 %

    Tro 11 – 12%.

    Do có hàm lượng Protein cao nên trùn quế được xem là nguồn dinh dưỡng bổ sung quý giá cho các loại gia súc, gia cầm, thủy hải sản…

    . : : PHÂN TRÙN QUẾ: : .

    Phân trùn quế là gì?

    Phân trùn quế là chất thải của trùn quế sau khi trùn quế ăn phân, hoặc các loại rác thải hữu cơ. Phân trùn quế có hàm lượng dinh dưỡng rất cao và có nhiều vi sinh có lợi cho cây trồng. Để có được phân trùn quế đạt chất lượng tốt nhất, phân trùn quế phải được ủ trong trại nuôi từ 6-10 tháng mới thu hoạch và đem bón cho cây trồng thì khỏi chê.

    . : : CHIM CÚT : : .

    Trại chim cút tại Cần Thơ chia sẻ cách đơn giản làm máy ấp trứng với giá rẻ ai cũng có thể sở hữu 1 cái để dành ấp trứng cút, trứng gà, trứng vịt hay trứng chim kiểng.

    . : : RUỒI LÍNH ĐEN: : .

    Mô hình nuôi Ấu trùng Ruồi lính đen khai thác làm thức ăn cho vật nuôi luôn được chúng tôi quan tâm và phát triển diện tích nuôi lên 1.000m2 nuôi trong tương lai.

    Cung cấp trứng Ruồi lính đen và ấu trùng ruồi lính đen giống cho bà con cả nước nhằm mang lại giải pháp giảm chi phí thức ăn cho vật nuôi..

    bán lan cấy mô tại cần thơ

    #Chuẩn #bị #dụng #cụ #trồng #LAN #Denro #cây #cấy #mô.

    Chuẩn bị dụng cụ trồng LAN Denro cây cấy mô.

    trang trại côn trùng,kỹ thuật nuôi dế,ruồi lính đen,trứng ruồi lính đen,ấu trùng ruồi lính đen,nông nghiệp tự nhiên,chim cút thả vườn,trứng cút giống,cút giống,kỹ thuật nuôi ruồi lính đen,Chuẩn bị dụng cụ trồng LAN Denro cây cấy mô,Lan Denro cấy mô,Trồng lan denro,Lan Denro đủ màu,dụng cụ trồng lan,Cây lan Denro giống,vườn lan Denro cần thơ,trồng LAN Denro cây cấy mô,kỹ thuật trồng LAN Denro cây cấy mô,trồng LAN Denro,kỹ thuật trồng LAN Denro

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỹ Thuật Trồng Lan Dendrobium Trong Nhà Lưới
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Trồng Lan Đuôi Chồn Cho Người Mới Chơi Lan
  • Hướng Dẫn Kỹ Thuật Cần Có Khi Trồng Và Chăm Sóc Cát Lan
  • Kỹ Thuật Trồng Lan Cơ Bản
  • Kỹ Thuật Trồng Phong Lan Cơ Bản (Phần 2)
  • Cẩm Nang Các Loại Hoa Phong Lan Kiều Thủy Tiên

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Hoa Phong Lan
  • Tìm Hiểu Hoa Phong Lan Tím Ở Nước Nào
  • Phong Lan Vảy Rồng_Đặc Điểm, Hướng Dẫn Kỹ Thuật Nhân Giống Tại Nhà
  • Cây Hoa Quế Lan Hương Đặc Điểm Cách Trồng Và Chăm Sóc
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Hoa Lan Cơ Bản
  • Tổng hợp 11 loại phong lan Kiều Thủy tiên

    1. Dendrobium amabile ( Hoàng thảo Thủy tiên hường, kiều hường, Tím Huế)

    2. Dendrobium brymerianum (Hoàng thảo Hoàng Long Vỹ/ Kiều râu/ tua môi)

    3. Dendrobium chrysotoxum (Hoàng thảo Hoàng Lạp, Sơn thủy tiên “Nếu là loại lá dày”)

    4. Dendrobium densiflorum – Dendrobium griffithianum (Hoàng thảo Thủy Tiên mỡ gà)

    5. Dendrobium fameri (Hoàng thảo Thủy Tiên Vuông)

    6. Dendrobium harveyanum (Hoàng thảo Thủy Tiên râu/ tua cánh).

    7. Dendrobium jenkensii (Hoàng thảo Vẩy rắn)

    8. Dendrobium lindleyi – Dendrobium aggregatum (Hoàng thảo Vẩy rồng)

    9. Dendrobium palpebrae (Hoàng Thảo Thủy Tiên vàng)

    10. Dendrobium sulcatum (Hoàng thảo Thủy Tiên dẹt)

    11. Dendrobium thyrsiflorum (Hoàng thảo Thủy tiên cam; thân tròn và dài, lá bản to)

    Cách nhận biết các loại phong lan kiều thủy tiên

    Cây thuộc loại giả hành lớn, khác với farmeri thân vuông, amabile thân tròn, màu nâu hoặc xanh đen; dài từ 40-100 cm, lá mọc so le từ khoảng giữa thân đến ngọn. Hoa mọc từ gốc lá, có nhiều kiểu hoa. Phát hoa màu tím, cánh trắng họng vàng (Thường gọi là phong lan kiều hồng, kiều hường)

    Đặc điểm nhận dạng thủy tiên tím: lá hơi thuôn nhọn, rất dày và cứng, thân dài màu nâu đen, thường có 3 đến 4 lá trên thân. Lan kiều tím thuộc loại thân to nhất họ nhà kiều, lá cứng, dày dễ dàng nhận biết.

    2. Thủy tiên môi râu – Dendrobium brymerianum

    Khác với những họ thủy tiên thông thường, loại này có gốc nhỏ, thân phình ra 1 đoạn sát gốc rồi thuôn tròn, dài lên đến ngọn, có cùng đặc điểm của thủy tiên là lá tập trung ở đỉnh, không rụng lá theo chu kỳ hàng năm, phát hoa thành chùm dài rủ xuống.

    Mô tả: Phong lan kiều rụng lá, thân cao chừng 50 cm Hoa nở vào mùa Xuân và mùa Thu, từ 1 đến 5 chiếc rất thơm nhưng mau tàn, to 5-7.5 cm, mọc từ các đốt của thân đã rụng lá

    3. Thủy Tiên Hoàng Lạp – Dendrobium chrysotoxum

    Thường ở độ cao trên 100m. Chúng có giả hành hình dùi bắp, hẹp ở đáy; lớn mập ở giữa rồi thon lại, có nhiều sóng dọc thấp, màu vàng khi già, cao đến 30cm, mập ú to 3-5cm đường kính; mang 6-7 lá ở đỉnh, dài 8-15cm, rộng 2.5-3cm. Chùm hoa mọc mạnh, nghiêng xéo ra rồi cong xuống, dài đến 20cm với nhiều hoa thưa. Hoa to cỡ 5cm, thơm, màu vàng đậm, ánh như sáp, trung tâm môi vàng cam, có lông và rìa mép.

    Đây là loài có hoa đẹp đã được lai tạo với cây Den. pulchellum để có cây Den. Illustre rồi lai trở lại với Den. pulchellum một lần nữa để có cây Den. Gatton Sunray, được ưa chuộng trên thế giới, đã đoạt giải FCC (First …) của AOS (America Orchids Society).

    4. Thủy Tiên mỡ gà – Dendrobium densiflorum:

    Nó trông tựa như Den. farmeri với giả hành có 4 cạnh nhưng tròn hơn và đậm màu lục hơn. Phát hoa dày, toàn màu vàng; môi đậm hơn, hình phễu chứ không xòe tròn, trung tâm màu vàng cam, có rìa mịn ở mép.

    Cây này khá dễ để nhận ra với thân cây dài. hình vuông với các cạnh chuốt tròn chứ không sắc cạnh như farmeri, vuông đều từ gốc đến ngọn. Bản lá to, rộng, hơi mỏng so với kích thước lá. Cánh hoa vàng, lưỡi vàng, toàn bộ chùm hoa ánh lên sắc vàng rực rỡ, là một loại đáng để sưu tầm.

    5. Thủy tiên trắng – Dendrobium farmeri – Kiều trắng, kiều vuông.

    Cây cỡ trung bình, gốc nhỏ, thân phình to ở giữa hình vuông, ngọn nhỏ có khoảng 3-5 lá. Lá bền không rụng như những loài thân thòng. Cây thường có xu hướng mọc thẳng lên trên nên thích hợp trồng đứng trong giỏ treo. Hoa mọc thành chùm, cánh trắng họng vàng, có cây cánh tím (loại cánh tím ít xuất hiện ở Việt Nam) không thơm hoặc ít thơm, hoa nhanh nở, tàn trong vòng 5-7 ngày.

    6. Thủy tiên tua, thủy tiên râu cánh – Dendrobium harveyanum

    Cây thuộc loại trung bình dài 20-40cm, thân tròn màu xanh, có nhiều rãnh khía dọc thân, lá nhỏ, mỏng. Hoa thường ra thành nhiều chùm trên 1 thân, loại này xứng đáng để đứng trong bộ sưu tầm bởi hình dáng kỳ dị của bông hoa với cánh hoa có nhiều tua ren, lưỡi bông xù, cả chùm hoa màu vàng kim rực rỡ.

    7. Dendrobium jenkensii (Hoàng thảo Vẩy rắn – lan vẩy rắn – lan vẩy cá – vảy cá)

    Dễ nhầm với vảy rồng, nhưng vảy cá nhỏ hơn nhiều, thân chỉ bằng đầu ngón tay với 1 lá nhỏ, cứng ở đỉnh. Hoa thường ra đơn 1-2 bông trên 1 mắt hoa, màu vàng đậm, hoa nhỏ hơn vảy rồng.

    Hoàng thảo Vẩy rắn thường bị nhầm lẫn với kim điệp thường – Den capillipes vì hoa giống nhau, nhưng thân khác nhau. ngoài ra Vẩy Rồng cũng dễ nhầm lẫn với Vẩy Rắn – Den. jenkinsii nhiều người dễ lầm nhất với loại này.

    8. Hoàng thảo vẩy rồng – Dendrobium lindleyi – Dendrobium aggregatum

    Hoàng thảo Vẩy Rồng là loại lan thơm, tuy không nhiều nhưng rất dịu. Vẩy Rồng thường bị nhầm lẫn với kim điệm thường – Den capillipes vì hoa giống nhau, nhưng thân khác nhau. ngoài ra Vẩy Rồng cũng dễ nhầm lẫn với Vẩy Rắn – Den. jenkinsii nhiều người dễ lầm nhất với loại này.

    Phân Biệt Vẩy Rồng và Vẩy Rắn: so sánh thân và cành hoa, thân Vẩy Rồng lớn hơn Vẩy Rắn, Hoa của Vẩy Rồng thành cuống dài 5 – 15 bông (Vẩy Rồng có thể ra được cành 20 bông) Vẩy Rắn thì 1 cành ít bông hơn.

    10. Thuỷ tiên dẹt – Kiều dẹt – Dendrobium sulcatum

    9. Dendrobium palpebrae (Hoàng Thảo Thủy Tiên vàng)

    Cũng gọi là Thủy tiên trắng: thân vuông 4 cạnh, cánh đài ngắn 14-17mm, cánh môi có nhiều lông tua dài, lá kèm hoa ngắn 6-8 mm, hoa nhanh tàn.

    Giả hành hình thoi có 4 cạnh rõ rệt nhất là ở phân nữa bên trên, cao cỡ 30cm với 3-4 lá mọc tập trung ở đỉnh; lá xoan thon, dài 8-10cm, rộng 3.5-5cm. Chùm hoa ở gần ngọn, thường ở trên các giả hành đã rụng lá, dài đến 25-30cm. Hoa to cỡ 5cm, màu trắng với môi tròn màu vàng có viền trắng ở mép. Mùa hoa khoảng tháng Giêng (tháng 1 âm lịch) nhưng cũng có thể ra hoa thất thường trong năm.

    Nở hoa vào mùa xuân với nhiều hoa rộng 2.5cm màu vàng tươi. Hoa có mùi thơm. với nhiều chùm hoa, rủ ngắn thành từng chùm rất đẹp

    11. Hoàng thảo Thủy tiên cam, Dendrobium thyrsiflorum

    Là giống hoa khá đẹp với hoa cánh trắng, lưỡi vàng 1 màu, chùm hoa kín tròn một màu trắng với những đốm vàng lung linh. Thân hơi vuông với nhiều rãnh khía dọc, dài như amabile. Ưa ẩm và thoáng, thích nắng giống như amabile.

    Đây là loài khó cho hoa ở vùng nóng, chúng sống ở vùng cao nơi có tán lá dày. Thân hình dùi có luống rãnh, cao đến 40cm, 4-6 lá ở gần đỉnh, màu lục đậm, dài 10cm, rộng 3-4cm. Phát hoa thòng, mang 30-50 hoa khít nhau. Lá dài và cánh hoa trắng hay vàng nhạt, môi xòe tròn, màu cam đậm có rìa mịn ở mép.

    Loại này thân tròn hoa có màu giống với Thủy tiên trắng (Dendrobium farmeri – thân vuông) và Thủy tiên Dendrobium palpebrae Lindl (thân vuông).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tranh Ghép Hoa Phong Lan Hồ Điệp Tím Treo Tường Amia 1238
  • 99 Mẫu Mã Về Hoa Phong Lan Đẹp Tặng Sinh Nhật ( Không Nên Bot Lỡ Nhé )
  • Anh Nông Dân Làm Giàu Từ Hoa Phong Lan Dendro Nắng
  • Ý Nghĩa Hoa Bò Cạp Vàng.
  • Bệnh Vàng Lá Trên Hoa Phong Lan. Thuốc Trị Bệnh Vàng Lá Cho Phong Lan
  • Cách Chăm Sóc Lan Denro Cho Hoa Quanh Năm Đặt Năng Suất Cao

    --- Bài mới hơn ---

  • Trồng Và Chăm Sóc Nhất Điểm Hoàng Và Lan Giả Hạc Pháp
  • Lan Đột Biến Giả Hạc Hawaii
  • Cách Chăm Sóc Lan Giả Hạc Đẹp
  • Lan Phi Điệp Là Gì: 5 Lưu Ý Khi Trồng Và Chăm Sóc Lan Giả Hạc
  • Hướng Dẫn Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Phi Điệp (Giả Hạc)
  • Trong bài viết này sẽ hướng dẫn cách chăm sóc lan Dendro đơn giản nhưng mang lại năng suất cao nhất cho nhà vườn.

    Hoa lan Dendro không quá phô trương hay sang trọng. Nó mang trong mình sự nhẹ nhàng tinh tế. Đặc biệt khi nhìn lan dendro có gì đó cuốn hút đến lạ kỳ. Loại hoa này có mùi hương thoang thoảng, ngọt ngào, giúp bạn giải tỏa mọi căng thẳng sau những giờ làm việc. Ngoài ra nó sẽ là món quà vô giá giúp bạn tươi tắn và tràn đầy năng lượng hơn cho mỗi buổi sáng.

    Đặc điểm sinh trưởng của lan Dendro:

    Lan Dendro thích hợp với những vùng khí hậu ấm áp, nhiệt độ từ 27 đến 32 độ C. Còn vào ban đêm bạn nên để nhiệt độ từ 16 đến 18 độ C, không nên để nhiệt độ thấp quá vì như vậy cây sẽ dễ bị rụng lá.

    + Ánh sáng:

    Lan Dendro rất cần ánh sáng, lượng ánh sáng 70% ánh sáng mặt trời. Nếu như bạn để ánh sáng quá cao thì cây sẽ bị cháy lá, còn thiếu sáng thì cây thì sẽ bị ốm yếu, lá mỏng, hoa nhỏ và có thể không ra hoa.

    + Độ ẩm: Sẽ cần từ 50 đến 80%.

    + Độ thông gió: Đòi hỏi phải có sự thông thoáng, độ ẩm thích hợp và mát mẻ để cho cây dễ phát triển hơn. Nhìn chung, ở đâu có mặt bằng là bạn có thể trồng được lan Dendro, chỉ cần thiết kế hệ thống vòi nước phun sương, tưới nước nhiều để giữ ẩm là được.

    +Tưới nước :

    • Vào mùa nắng: cần tưới đẫm cây 2 lần vào sáng và tối (sáng từ 7 giờ đến 8 giờ, chiều từ 14 giờ đến 15 giờ. Ngoài ra cần tùy thời tiết nắng gió hay không mà quyết định tưới xen thêm giữa 2 lần tưới chính bằng những lần tưới nhẹ.
    • Vào mùa mưa: vẫn tưới cây 2 lần vào sáng chiều nhưng sáng tưới trễ hơn, chiều tưới sớm hơn và tưới ít nước hơn. Tưới lan Dendro vào mùa mưa chủ yếu là tưới xả sau mỗi đợt mưa để phòng trong nước mưa có các độc tố, hóa chất, axit ảnh hưởng đến cây lan, đặc biệt là những cơn mưa đầu mùa và cuối mùa.

    ◊Cây lan thiếu nước: thiếu nước sẽ làm cây lụi dần, không ra chồi mới, ra hoa được.

    • Sau 16 giờ chiều đất trồng quá khô sẽ rút nước ngược lại từ rễ ra, lá sẽ mất bóng, cây héo. Về lâu dài cây sẽ bị ảnh hưởng:
    • Thân:Ốm, giả hành teo lại (có khía dọc thân).
    • Lá: mỏng, dài, vàng héo rồi rụng.
    • Rễ: ra rất dài bò ra ngoài chậu mà không chui vào chất trồng.
    • Đọt, chồi non: Bị thui lại không phát triển liên tục.
    • Giả hành mới: Sẽ ngắn, ốm nên ra hoa sớm khi còn thấp.

    ◊Cây lan dư nước: cây dễ chết, thối rễ

    • Sau 16 giờ chiều đáy chậu vẫn chưa khô, đất trồng còn đẫm nước (trừ những ngày ban đêm gió vẫn còn rất mạnh như trong tháng 2-4 âm lịch). Về lâu dài cây sẽ bị ảnh hưởng:
    • Rễ:Bị thối nhũn, rất ít rễ bám vào chất trồng.
    • Lá:Vàng nhưng lại dày, mềm (khác với thiếu nước là lá cũng vàng nhưng mỏng, dai).
    • Giả hành mới: Mọc yếu, dễ bị thối nhũn.
    • Nấm bệnh và côn trùng xuất hiện rất nhiều:bệnh đốm lá xuất hiện rất nhiều nên lá càng dễ rụng. Trên mặt chất trồng rêu xanh, mốc đen nhiều

    Kỹ thuật trồng và chăm sóc hoa lan Dendro:

    +Khi chọn vị trí trồng bạn nên trồng ở những nơi thoáng mát và tránh ẩm thấp, Giá thể trồng thông thường bằng than gỗ, vỏ thông, dớn, xơ dừa, gạch… Nhưng phải sát trùng trước khi trồng. Chậu thường dùng là chậu nhựa hoặc chậu đất.

    +Bạn có thể trồng và chăm sóc hoa lan Dendro trên thân cây sống hoặc thân cây đã chết. Đối với cây sống trong quá trình trồng phải chú ý tán cây sao cho ánh sáng phù hợp với loài lan được trồng. Đối với cây chết chọn các cây gỗ rồi cưa thành khúc sau đó bó các đơn vị lan vào thân gỗ và chăm sóc.

    Cách bón phân cho cây hoa lan Dendro:

    Đợt 1: Giai đoạn cây con: khi cây con được khoảng 4-6 tháng tuổi

    Phân thường dùng:

    – Atonik dùng 2-6 giọt/lít nước.

    – NPK 30-10-10 hoặc NPK 30-15-10 dùng 0.5g-1g/lít.

    – Vitamin B1 dùng 1ml/lít.

    Phun định kỳ 2 lần trên tuần, có thể dùng phân NPK cùng vitamin B1 để tưới cho cây lan con.

    Đợt 2: Giai đoạn cây ra vườn sản xuất đến cây trưởng thành

    +Đây là giai đoạn cây phát triển thân lá mạnh nhất. Các loại phân cần sử dụng trong giai đoạn này là:

    – Phân cá Fish Emulsion 1ml/lít nước.

    – NPK 20-20-20 (1-1.5gam/lít).

    – Vitamin B1 dùng 1ml/lít.

    – NPK 30-15-10 dùng 1-1.5g/lít Phun định kỳ 5 ngày/ lần.

    +Cách phun:

    Phân NPK 30-15-10 kết hợp vitamin B1 phun 2 lần/tuần. Phun liên tiếp 2-3 tuần; sau đó phun 1 lần NPK 20-20-20; tiếp theo phun phân cá. Sau đó phun lặp lại phân 30-15-10 và vitamin B1 như từ đầu. Hơn nữa, có thể bón thêm vào gốc bằng phân Dynamic 5-7 cục/gốc.

    Đợt 3: Giai đọan cây chuẩn bị ra hoa và nuôi hoa:

    Loại phân thường dùng trong giai đoạn này là:

    • – NPK 20-20-20 (1-1.5gam/lít).
    • – Phân cá Fish Emulsion 1ml/lít nước.
    • – Vitamin B1 dùng 1ml/lít.
    • – NPK 6-30-30 1g/l.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chăm Sóc Dendro Nắng Của Chị Yến Lê
  • Quy Trình Trồng Và Chăm Sóc Lan Dendrobium
  • Hướng Dẫn Chăm Sóc Phong Lan Con
  • Cách Trồng Và Chăm Sóc Lan Cấy Mô Hiệu Quả
  • Hướng Dẫn Trồng Và Chăm Sóc Lan Nữ Hoàng Bóng Đêm
  • Cẩm Nang Phân Bón: Phân Chuồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Trình Bón Phân Cho Cây Lạc (Đậu Phộng)
  • Kỹ Thuật Trồng Và Bón Phân Cho Cây Mai
  • Bón Phân Đơn Hay Phân Npk Tổng Hợp Tốt Hơn Cho Cây
  • Cách Sử Dụng Bánh Dầu Làm Phân Bón Hiệu Quả Cho Cây Kiểng
  • Phân Bón Cây Kiểng Dành Cho Người Bận Rộn
  • 1. Khái niệm về phân chuồng

    – Phân chuồng là hỗn hợp phân và nước giải do gia súc bài tiết ra (phân chuồng không độn) cùng với chất độn chuồng và thức ăn thừa của gia súc.

    – Đây là loại phân hữu cơ khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới, mang đầy đủ tác dụng của phân hữu cơ, khác nhau về thành phần và tỉ lệ các chất dinh dưỡng có chứa trong phân.

    – Sử dụng phân chuồng tốt còn là 1 biện pháp xử lý nguồn phế thải gây ôi nhiễm môi trường từ chăn nuôi rất hiệu quả. Vì trung bình lượng phân do gia súc thải ra trong suốt quá trình sinh trưởng thường gấp 20 lần trọng lượng của nó. Khối lượng các chất thải rất lớn này là nguồn gây ôi nhiễm môi trường rất lớn nếu không được xử lý tốt. Đồng thời phân chuồng sau khi được xử lý bón cho cây trồng lại tạo ra sản phẩm phục vụ cho con người.

    2. Thành phần của phân chuồng

    2.1. Thành phần

    – Thành phần của phân chuồng không ổn định, phụ thuộc vào thành phần của các phần cấu thành, trong đó phần có ảnh hưởng lớn nhất là phân và nước giải do gia súc bài tiết ra.

    – Thành phần các chất có trong phân gia súc (phân chuồng không độn) cũng không ổn định do phụ thuộc vào: Loại gia súc, tình trạng sức khỏe, tuổi gia súc, chế độ cho ăn, hình thức chăn nuôi.

    Vậy: Thành phần chính của phân gồm khoảng 65 – 68% nước, 15 – 28% các hợp chất hữu cơ của thức ăn mà gia súc tiêu hóa chưa triệt để.

    – Nước chiếm tỷ lệ lớn nhất trong phân gia súc. Trong nước phân của gia súc có đa dạng các chất hữu cơ dễ phân hủy: Ure, axit ureic, axit benzoic, các muối hòa tan: Axetat, cacbonat, oxalat, photphat, sulfat và 1 số chất kích thích sự phát triển của bộ rễ. Trong nước phân, nước giải gia súc thường có 0,2 – 0,25%N, 0,01%P2O5, 0,4 – 0,5%K2O.

    – Phân gia súc luôn chứa nhiều các hợp chất hữu cơ như: Các hợp chất xenlulo, gluxit, hemixenlululo, linhin, chất béo, chất sáp, các hợp chất đạm hữu cơ, lân hữu cơ, lưu huỳnh hữu cơ, và nhiều chủng loại axit hữu cơ. Các chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cây này luôn khá đầy đủ về chủng loại nhưng có tỷ lệ rất thấp đối với mỗi yếu tố.

    – Ngoài ra trong phân gia súc còn có rất nhiều chủng loại và số lượng các vi sinh vật, trong đó VSV phân giải xenlulo chiếm đa số và khá nhiều chủng VSV phản nitrat hóa.

    – Các chất độn chuồng thường dùng là các chất có khả năng hút nước cao, thành phần dinh dưỡng thấp. VD: Rơm rạ, than bùn, lá xong tử diệp, mạt cưa.

    – Trung bình trong phân chuồng (bao gồm đủ các phần cấu thành) có chứa 0,35%N, 0,22%P2O5, 0,6%K2O, 0,2 – 0,6%CaO, 0,05 – 0,45%MgO, 0,05%S. Ngoài ra, trong 1 tấn phân chuồng còn có trung bình: 2g Cu, 4g B, 30 – 50gMnO, 82 – 96g Zn.

    2.2. Các yếu tố có thể ảnh hưởng tới thành phần và chất lượng của phân chuồng

    – Gia súc: Mỗi loại gia súc có đặc điểm dinh dưỡng khác nhau nên thành phần phân do chúng bài tiết ra cũng khác nhau. Tình trạng sức khỏe, tuổi gia súc và cách nuôi dưỡng gia súc cũng ảnh hưởng đến thành phần, chất lượng phân. Trong số các loại phân gia súc thì phân trâu bò thường nghèo dinh dưỡng hơn cả.

    – Chất độn chuồng: Có tác dụng làm tăng khối lượng và chất lượng của phân chuồng do khối lượng và khả năng hấp thụ của chất độn làm giảm việc mất đạm và các chất dinh dưỡng khác. Chất độn còn làm cho chuồng trại được vệ sinh hơn, tạo cho đống phân tơi xốp, ẩm để hoạt động phân giải của VSV được thuận lợi.

    – Lượng chất độn chuồng càng nhiều, càng làm tăng khối lượng phân chuồng và giảm việc mất đạm, nhưng nếu quá nhiều lại làm cho phân trở nên khó phân giải. Lượng chất độn chuồng hợp lý cho mỗi đầu gia súc trong 1 ngày đêm đối với: lợn 1 – 2kg, bò: 4 – 5kg, trâu: 5 – 7 kg.

    – Phương pháp chế biến, bảo quản phân: Phương pháp bảo quản chế biến cũng ảnh hưởng rõ đến thành phần, chất lượng của phân chuồng. Các phương pháp chế biến phân để nhanh có phân chuồng sử dụng thường dẫn đến mất nhiều chất hữu cơ và đạm hơn.

    3. Tính chất của phân chuồng

    Phân chuồng là loại phân hữu cơ điển hình, rất phổ biến, có đầy đủ tác dụng của phân hữu cơ (cải tạo tính chất đất, cũng cấp dinh dưỡng, tham gia vào vòng tuần hoàn tự nhiên và bảo vệ môi trường).

    – Về mặt dinh dưỡng phân chuồng có các đặc điểm sau:

    Là loại phân hỗn hợp, có chứa hầu hết các nguyên tố dinh dưỡng từ đa lượng đến trung lượng, vi lượng và cả các chất kích thích sinh trưởng. Trong ba nguyên tố dinh dưỡng đa lượng thì: Kali chiếm tỷ lệ cao nhất, và chủ yếu ở dạng dễ tiêu đối vói cây trồng, lân có hệ số sử dụng khá, đạm chủ yếu ở dạng hữu cơ nhưng cũng có một phần dễ tiêu mà cây trồng có thể sử dụng ngay (NH4+, NO3-). Do vậy, bón phân chuồng với liều lượng thích đáng sẽ cung cấp từ từ dinh dưỡng cho cây trồng, bón nhiều cũng không sợ gây ảnh hưởng xấu tới cây như trường hợp bón nhiều phân khoáng cho các cây trồng mẫn cảm với nồng độ muối cao.

    – Tuy nhiên phân chuồng cũng có nhiều nhược điểm, cụ thể như sau:

    + Tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng (kể cả đa lượng) có trong phân chuồng đều ở mức thấp (<1%), hiệu quả chậm hơn nhiều so với phân hóa học. Do vậy để đáp ứng tốt yêu cầu dinh dưỡng của cây trồng, khi bón phân chuồng rất cần phải kết hợp bón với phân hóa học.

    + Sử dụng phân chuồng có chi phí vận chuyển, bảo quản và bón phân lớn so với phân hóa học.

    – Phân chuồng là loại phân hữu cơ cần thiết phải bảo quản, chế biến do các lí do sau:

    + Phân thải ra không được bón ngay vì sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, chất lượng phân sẽ bị giảm đi nhiều nếu không được bảo quản tốt. Trong phân chuồng còn có thể có: Mầm mống bệnh, hạt cỏ dại cần được xử lý trước khi dùng.

    – Trong quá trình chế biến phân chuồng, khối lượng phân và tỉ lệ chất hữu cơ giảm đi đáng kể so với ban đầu nhưng tỷ lệ N, P2O5, K2O tăng lên. Tùy theo mức độ phân giải của phân người ta phân biệt: phân chuồng tươi ít biến đổi, phân nửa hoai mục, phân hoai mục và mùn.

    – Phân chuồng phản ánh khá trung thực thành phần hóa học của đất ở địa phương, do đất nghèo hay giàu chất dinh dưỡng nào đó thì trong phân chuồng cũng sẽ nghèo hay giàu chất dinh dưỡng đó.

    – Nước giải gia súc, nước phân chuồng có thể coi là loại phân hỗn hợp NPK (có 0,2 – 0,25% N, 0,01% P2P5, 0,4 – 0,5% K2O) ở dạng hòa tan mà cây trồng có thể sử dụng ngay được, nhưng cũng rất dễ mất N dưới dạng NH3).

    4. Kỹ thuật sử dụng phân chuồng

    – Phân chuồng sau khi được ủ phải được ủ vận chuyển sớm ra ngoài đồng và vùi ngay vào trong đất để tránh mất đạm ở dạng dễ tiêu (35 – 40%).

    – Nên dùng phân chuồng nửa hoai mục trong trồng trọt vừa có lợi về mặt cung cấp dinh dưỡng cho cây vừa có lợi về mặt cải tạo đất. Do loại phân này chứa nhiều đạm hơn và tác động đến việc hình thành kết cấu, cải tạo đất tốt hơn mùn.

    – Chỉ dùng phân chuồng được ủ hoai mục hoàn toàn khi bón cho ruộng mạ, vườn ươm cây con, và các loại rau ngắn ngày.

    – Không nên bón phân chuồng tươi, nhất là khi phân có độn nhiều rơm rạ vì quá trình phân giải rơm rạ trong đất làm hàm lượng đạm và lân dễ tiêu trong đất giảm đi dù là tạm thời cũng làm cho cây gặp khó khăn.

    – Hiệu lực của phân chuồng kéo dài qua nhiều năm, do hệ số sử dụng các chất đinh dưỡng N, P, K của phân chuồng kéo dài qua nhiều năm.

    – Về mặt cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng có thể coi bón phân chuồng trước hết nhằm đảm bảo cung cấp dinh dưỡng Kali vì so với N, P phân có hàm lượng kali thương cao hơn cả, mà hiệu lực của kali trong phân như kali trong phân hóa học.

    – Hiệu lực của phân chuồng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của phân đem dùng, điều kiện khí hậu thời tiết và đất đai nơi bón phân, đặc tính sinh học của cây được bón phân.

    – Nên phối hợp bón phân chuồng đồng thời với phân hóa học do tác động tương hỗ mà làm tăng hiệu lực chung của việc bón phân.

    – Phân chuồng chỉ nên bón lót, bón xong cần được vùi ngay vào đất để tránh N. Bón phân chuồng ở vùng đất có thành phần cơ giới nhẹ, khí hậu khô cần vùi sâu hơn. Khi buộc phải bón thúc bằng phân chuồng thì phải dùng loại phân được ủ hoai mục hay nước phân.

    – Phân chuồng có hàm lượng dinh dưỡng thấp lại hạn chế về N, phản ánh trung thực tính chất hóa học đất ở địa phương. Vì vậy trong thâm canh cây trồng không thể chỉ dựa vào phân chuồng, mà phải căn cứ vào năng suất kế hoạch để bổ sung thêm phân hóa học mới có thể đạt năng suất cây trồng cao, phẩm chất tốt. Cũng không thể chỉ dựa vào phân chuồng mà cải tạo hiệu quả tính chất hóa học đất và đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng vi lượng cho cây trồng.

    Nguồn: Giáo trình phân bón

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kĩ Thuật Bón Phân Cho Cây Mai Một Cách Đầy Đủ Nhất
  • Hướng Dẫn Chăm Sóc Cây Mai Sau Tết Chuẩn Chuyên Gia
  • Phân Bón Hỗn Hợp Npk 15
  • Ceo Phạm Văn Tam Ra Mắt Thương Hiệu Phân Bón Hữu Cơ Ba Con Bò
  • Công Ty Phân Bón Ba Lá Xanh
  • Cẩm Nang Phân Bón

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Bón Cây Mai Vàng
  • Phân Bón Lá Magie Sunphat (Mgso4) Ấn Độ
  • Cung Cấp Phân Bón Magie Nitrate Mg(No3)2 Cao Cấp
  • Phân Bón Mặt Trời Mới Đạm Xanh N+
  • Trình Diễn Phân Bón Mặt Trời Mới Cho Cây Ớt, Khổ Qua
  • 1. Khái niệm chung về phân xanh

    1.1. Khái niệm về phân xanh

    – Phân xanh là biện pháp trồng cây có khả năng cố định đạm (chủ yếu là cây bộ đậu) rồi vùi chất xanh vào đất nhằm cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, đồng thời làm giàu các chất dinh dưỡng mà chủ yếu là N và chất hữu cơ cho lớp đất canh tác.

    – Đây là biện pháp sản xuất phân hữu cơ tại chỗ, đặc biệt có ý nghĩa đối với các vùng đất đồi núi, đất bạc màu và vùng canh tác xa khu dân cư là những nơi có nhu cầu sử dụng phân hữu cơ cao lại gặp khó khăn về vận chuyển.

    – Phân xanh còn là biện pháp sản xuất N sinh học nhờ cây bộ đậu (có các vi sinh vật cộng sinh ở rễ nên có khả năng cố định N khí quyển) với việc sử dụng 40 – 60 kg P2O5 và K2O cho 1 ha để sản xuất ra lượng N đủ để cung cấp cho chính bản thân cây bộ đậu, đồng thời còn để lại từ 60 – 200 kg N/ha cho cây trồng khác.

    Lưu ý: Trong điều kiện phân lân có nhiều, giá lại rẻ còn phân đạm có ít giá thành cao, trồng cây phân xanh còn là biện pháp biến lân thành đạm.

    1.2. Đặc điểm của cây phân xanh

    Để cây phân xanh có thể đáp ứng được những yêu cầu nêu trên, các cây phân xanh được lựa chọn theo 1 số tiêu chuẩn sau:

    – Cây có khả năng phát triển mạnh: Do cây cần có bộ rễ phát triển mạnh, tán lá phát triển nhanh, có khả năng cho năng suất chất xanh cao trong 1 thời gian ngắn.

    – Có khả năng thích ứng dụng: Không mẫn cảm với pH, không đòi hỏi chất dinh dưỡng, có khả năng đồng hóa lân khó tiêu cao, phát triển cả được trên đất có tầng canh tác mỏng, chịu hạn hay thừa ẩm tốt.

    – Ít bị sâu bệnh: Do sâu bệnh có khả năng lan truyền từ loại cây này sang loại cây khác, vụ trồng này sang vụ trồng khác. Để đảm bảo không lây hại sâu bệnh cho cây trồng chính thì cây phân xanh cần ít sâu bệnh.

    – Có hệ số nhân giống cao: các cây phân xanh thường là các cây dễ trồng, có thể trồng dưới nhiều hình thức khác nhau (có thể trồng bằng cành, hạt, hom,…) Tuy nhiên hình thức trông bằng hạt là hình thức cơ bản và thuận tiện nên các cây phân xanh thường có nhiều hạt, hạt có kích thước nhỏ, dễ nảy mầm và phát tán.

    – Có hàm lượng N, P, K cao: Nhất là N, đồng thời có tỷ lệ C/N không quá cao để chóng hoai mục.

    – Có nhiều tác dụng: Có thể sử dụng làm phân bón, làm thức ăn cho chăn nuôi, là cây che phủ đất chống xói mòn rửa trôi, thân cành có thể làm củi đun,…

    1.3. Phân loại cây phân xanh

    Căn cứ vào đặc điểm thực vật học và tác dụng của cây phân xanh người ta chia chúng thành 2 nhóm lớn:

    * Nhóm cây phân xanh vùng đồi núi

    – Nhóm cây phân xanh vùng đồi núi có 2 nhiệm vụ chủ yếu là làm phân bón và che phủ đất chống xói mòn. Đồng thời chúng đảm bảo có thể chịu chua và hạn cao, mọc tốt trên đất có tầng canh tác mỏng, có tán lá che phủ đất càng nhanh càng tốt. VD: Cốt khí, keo dậu, cỏ Stylo, chàm, đậu mèo, đậu triều…

    * Nhóm cây phân xanh vùng đồng bằng

    – Nhóm cây phân xanh trên đất bạc màu: Là các loại cây phân xanh có khả năng chịu chua, chịu hạn, chịu nghèo chất dinh dưỡng Vd: Các loại muồng (lá dài, lá tròn, lá ổi, mũi mác, muồng sợi,…), các loại đậu, điền thanh hoa vàng.

    – Cây phân xanh trên đất mặn: Là các cây có thể phát triển bình thường trong điều kiện đất có tổng số muối tan đạt tới 0,4% Vd: Điền Thanh Ai Cập, điền thanh hạt tròn, điền thanh lưu niên.

    – Các cây phân xanh phù hợp cho ruộng lúa: Là các cây sống được trong điều kiện thừa ẩm. Phân xanh phổ biến ở vùng đất lúa là điền thanh hoa vàng, bèo dâu.

    2. Vai trò của phân xanh

    2.1. Tác dụng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng ngay vụ từ đầu

    – Hàm lượng đạm tổng số trong phân xanh thường cao hơn phân chuồng (điền thanh tươi có hàm lượng đạm 0,5%, lân 0,07%, kali (0,15%), đồng thời phân xanh có hàm lượng đạm dễ tiêu cũng như hệ số sử dụng chất dinh dưỡng cao gấp 2 lần phân chuồng.

    Vì vậy khi vùi cây phân xanh đúng lúc thân lá non có tỷ lệ dinh dưỡng cao, tỉ lệ C/N thấp, nhiều nước phân sẽ nhanh chóng phân giải để cung cấp thức ăn cho cây trồng, làm tăng năng suất cây trồng rõ, có thể gấp 2 lần so với bón cùng lượng phân chuồng ngay ở vụ đầu. Tác dụng của cây phân xanh ở đất càng xấu càng rõ.

    2.2. Phân xanh là biện pháp tổng hợp cải tạo đất nhanh và hiệu quả

    – Sử dụng phân xanh có thể cải tạo nhanh và tổng hợp hóa tính đất do:

    + Lượng phân xanh lớn với tỉ lệ N cao khi được vùi vào đất có tác dụng làm tăng nhanh hàm lượng hữu cơ và N cho lớp đất canh tác.

    + Bộ rễ cây phân xanh phát triển mạnh lại có khả năng sử dụng dạng dinh dưỡng khó tiêu cao nên hút được nhiều thức ăn cả dễ tiêu và khó tiêu từ các tầng đất sâu tích lũy vào trong cây rồi làm lớp đất mặt ngày càng trở nên giàu dinh dưỡng.

    – Sử dụng phân xanh còn có khả năng cải tạo nhanh và tổng hợp tính chất vật lý của đất do:

    + Tác dụng của lượng chất xanh sau khi cày vùi làm tăng chất hữu cơ, mùn, làm cho đất có kết cấu, chế độ nước, chế độ khí, chế độ nhiệt tốt hơn cho đất.

    + Tác dụng của rễ cây phân xanh trong việc nén ép và phân cắt đất làm cho lớp đất canh tác sâu thêm và tơi xốp có kết cấu hơn nên phì nhiêu hơn.

    – Phân xanh còn tạo điều kiện tốt cho vi sinh vật hoạt động và phát triển nhanh:

    Hoạt động của các vi sinh vật đất bắt đầu tăng từ khi cây bắt đầu sinh trưởng phát triển, đặc biệt vào thời điểm khi cây hình thành nốt sần. Hoạt động của VSV đất càng mạnh sau khi cầy vùi cây phân xanh vào đất.

    Kết luận: Như vậy cây phân xanh là biện pháp cải tạo đất hiệu quả, đặc biệt với các vùng đất mới khai hoang, đất bạc màu, đất cát, đất mặn ven biển.

    2.3. Tác dụng cải tạo đất mặn của cây phân xanh

    – Trong đất mặn có tổng số muốn tan cao (0,4%) và có nhiều Na+ gây ảnh hưởng xấu đến cây và đất. Chính vì vậy việc trồng cây phân xanh chịu mặn có tác dụng sau:

    + Che phủ đất nhanh nên giảm được lượng nước bốc hơi từ mặt đất, giảm được việc tăng nồng độ mặn và bốc mặn từ mước ngầm.

    + Nhờ phân giải chất hữu cơ khi vùi cây phân xanh vào đất mà làm giảm tác hại phân tán keo đất của Na+.

    2.4. Tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn, rửa trôi chất dinh dưỡng và giữ cho đất, chống cỏ dại phát triển

    – Tác dụng chóng xói mòn, rửa trôi: Khi mặt đất có cây phân xanh che phủ tránh được mưa xối trực tiếp phá vỡ kết cấu đất và chảy tràn trên mặt đất thành dòng cuốn trôi đất và các chất hòa tan, đồng thời cản được gió nên có tác dụng chống xói mòn rửa trôi do nước và gió gây nên.

    – Tác dụng giữ nước cho đất: Do cây che phủ mặt đất không cho ánh nắng chiếu trực tiếp vào đất, nên giảm được sự tiêu hao chất hữu cơ và bốc hơi nước của đất, đồng thời nước lại dễ dàng theo các rễ cây phân xanh thấm được nhiều vào đất nên giữ được nước cho đất.

    – Tác dụng chống cỏ dại phát triển: Cây phân xanh phát triển mạnh thành thảm thực vật có ích (nhất là khi trồng các cây phân xanh thân bò) có tác dụng lấn át không cho cỏ dại phát triển.

    2.5. Tác dụng cung cấp thức ăn cho gia súc và giải quyết chất đốt

    – Tác dụng làm nguồn thức ăn cho chăn nuôi: Do các cây phân xanh có chưa tỉ lệ alcaloit thấp (bèo dâu, đậu mèo, keo dậu, cỏ Stylo,…) nên không có chất gây độc, đắng khi gia súc ăn , lại có hàm lượng dinh dưỡng cao vì ngoài vai trò làm phân bón các cây phân xanh còn có tác dụng làm nguồn thức ăn cho chăn nuôi rất tốt.

    – Tác dụng làm chất đốt: nhiều cây phân xanh có đặc điểm thực vật học là những cây thân bụi, thân gỗ, nên việc trồng cây này vừa có khả năng lấy lá xanh bón ruộng, vừa có thể lấy thân cành làm chất đốt rất tốt. Vd: keo dậu, cốt khí, điền thanh,…

    3. Kỹ thuật sử dụng phân xanh

    3.1. Vị trí cây phân xanh trong hệ thống canh tác

    – Việc bố trí trồng cây phân xanh trong hệ thống luân canh dựa vào các đặc điểm chủ yếu sau: Tập quán canh tác của người dân, tình hình đất đai, nhân lực, lơi ích về mặt kinh tế và giá trị ngày công lao động ở địa phương trên cơ sở phục vụ cây trồng chính,…

    – Cây phân xanh trồng xen: Là hình thức trồng cây phân xanh cùng với cây trồng chính, thường phát triển mạnh ở vùng trồng các cây dài ngày trước khi cây trồng chính khép tán.

    – Cây phân xanh trồng gối: Là hình thức gieo, trồng cây phân xanh vào cuối vụ của cây trồng chính vụ trước, sau khi thu hoạch cây trồng chính vụ trước, để phân xanh phát triển tiếp thêm 1 thời gian, rồi vùi làm phân bón cho cây trồng chính ở vụ sau.

    – Phân xanh trồng thuần: là hình thức trồng riêng cây phân xanh ở 1 nơi, cắt lá đi bón cho cây trồng chính ở 1 nơi khác. Thường là phương pháp trồng cây phân xanh để tận dụng đất đai.

    3.2. Kỹ thuật vùi phân xanh

    Thời gian vùi hoặc cắt cây phân xanh thích hợp nhất là lúc cây có năng suất chất khô cao nhất, tổng sản lượng N tích lũy trong lá cao nhất, tỉ lệ C/N thấp, dễ bị phân giải. Vd: đối với cây bộ đậu là thời kỳ cây bắt đậu ra hoa. Khi vùi cây phân xanh cần chú ý một số điểm sau.

    – Bón thêm lân: khi cày vùi cây phân xanh vừa xúc tiến nhanh việc phân giải chất hữu cơ và làm cân đối hơn việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.

    – Đối với đất trồng màu: đất có thành phần cơ giới nhẹ cần vùi phân xanh sâu vào tầng có độ ẩm ổn định. Vùi phân xanh trên đất chua cần bón thêm vôi hay photpjorit, lân nung chảy để tạo thuận lợi cho hoạt động phân giải chất hữu cơ. Nên vùi phân xanh trong vụ hè để thuận lợi cho quá trình phân giải chất hữu cơ.

    – Khi vùi phân xanh trên đất trồng lúa cần chú ý tránh để phân xanh phân giải trong điều kiện yếm khí của ruộng lúa ngập nước có thể dẫn đến viễ khử các hợp chất S chứa trong phân thành H2S gây ức chế việc hút nước và dinh dưỡng của cây lúa. Để khắc phục hiện tượng này cần vùi cây phân xanh vào đất sớm, tốt nhất trước khi đưa nước vào ruộng, sau khi đưa nước vào rồi thì lại tiến hành bừa kỹ nhiều lần, ở trên đất chua phải tiến hành bón vôi. Để an toàn nên cày vùi trước khi cấy khoảng 20 ngày.

    Nguồn: Giáo trình phân bón

    --- Bài cũ hơn ---

  • Map ( Monoamoni Photphat )
  • Phân Bón Map Và Những Điều Có Thể Bạn Chưa Biết!
  • Công Ty Cp Phân Bón Miền Nam
  • Phân Bón Lá Đầu Trâu Mk501 Chuyên Dùng Cho Lan, Cây Cảnh
  • Những Loại Phân Bón Cải Làm Tăng Độ Chua Của Đất Phổ Biến
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100