Top 20 # Cay Lan Duoi Cao / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Inkndrinkmarkers.com

Nông Dân “Hốt Bạc” Nhờ Ớt Cay Lai, Ớt Cao Sản / 2023

 Ớt cay cao sản, ớt cay lai xuất khẩu đã giúp nhiều nông dân “đổi đời”, thậm chí có người còn bỏ nghề thời trang chuyển sang trồng ớt công nghệ Israel.

Sau hơn 4 tháng trồng, chăm sóc hơn 15 ha ớt cay cao sản của 500 hộ nông dân xã Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa đã đến kỳ thu hoạch; năng suất bình quân đạt từ 15 – 20 tấn quả/ha. Với giá bán tại ruộng là 7.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí người trồng vẫn lãi cao.

Sau khi trừ chi phí, nông dân Thái Hòa thu 7 triệu đồng/sào ớt cao sản, tính ra 1 ha đạt gần 150 triệu đồng/sào. 

Dự án trồng ớt cao sản được HTX Nông nghiệp xã Nghĩa Thuận triển khai cho các hộ nông dân trồng. Đến nay, sau hơn 4 tháng cây ớt đã chín rộ, vào vụ thu hoạch đại trà. Năng suất bình quân đạt từ 1,5 – 2 tấn/sào, giá 1 kg ớt cao sản hiện được thương lái thu mua tại ruộng thấp nhất 7.000 đồng/kg; sau khi trừ chi phí người trồng thu về từ 7 triệu đồng/sào.

Theo ông Cao Văn Quyết ở xóm 6, xã Nghĩa Thuận, nhà ông trồng 1,3 sào ớt cao sản ông thu được gần 10 triệu đồng sau 4 tháng.

Toàn xã  Nghĩa Thuận có 15ha trồng ớt cao sản được trồng trên đất cằn, đất cát pha. Nhờ được chăm sóc đúng quy trình nên ớt sinh trưởng và phát triển tốt, sai quả. Thời gian thu hái ớt trong vòng 3 tháng; Hiện tại, tiểu thương đang về tận ruộng để thu mua cho bà con.

Ông Trần Đại Thắng – cán bộ HTX Nông nghiệp xã Nghĩa Thuận khẳng định: Đây là năm đầu tiên giống ớt cao sản được trồng tại xã và cho thấy hiệu quả hơn hẳn các loại cây trồng khác. Với năng suất và giá bán như hiện nay, mỗi ha trồng ớt có thể thu về từ 160 triệu đồng; trừ chi phí, công chăm sóc mỗi ha cho lợi nhuận khoảng 80 triệu đồng sau hơn 7 tháng trồng. Với đà này, năm tới HTX tiếp tục nhân rộng diện tích ớt trên toàn xã.

Năng suất ớt ở xã Nghĩa Thuận (thị xã Thái Hòa) bình quân đạt từ 1,5 – 2 tấn/sào. 

Việc đưa giống ớt cao sản vào trồng ở các xứ đồng ở Nghĩa Thuận, thị xã Thái Hòa không chỉ nhằm đa dạng hóa cây trồng còn góp phần nâng cao thu nhập cho nông dân. Tuy nhiên, để tránh tình trạng trồng ồ ạt dẫn đến việc đầu ra sản phẩm gặp khó khăn, HTX nông nghiệp Nghĩa Thuận cần kịp thời đưa ra các giải pháp, định hướng phù hợp cho bà con.

Còn tại tỉnh Hòa Bình, năm 2017, từ nguồn vốn hỗ trợ phát triển sản xuất, UBND xã Thượng Bì (huyện Kim Bôi) đã ký hợp đồng với Công ty TNHH Ớt Việt Nam triển khai mô hình trồng ớt xuất khẩu. Công ty đã cung cấp giống ớt cay lai F1 số 20 vào trồng trên diện tích 4ha với 36 hộ tham gia.

Mô hình khởi động từ tháng 10/2017, thời gian sinh trưởng, phát triển khoảng 70 ngày là cây ớt cho thu hoạch. Đây là lần đầu tiên cây ớt được đưa về trồng tại địa phương nhưng được đánh giá là loại cây dễ trồng, dễ chăm sóc. Các hộ tham gia được tập huấn quy trình trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh…

Giống ớt cay lai F1 số 20 phù hợp với đồng đất và khí hậu nên sinh trưởng tốt, cho trái nhiều, mẫu mã quả đẹp. Ớt đã cho thu hoạch 3 lứa quả, năng suất trung bình đạt từ 1 – 1,3 tấn quả/sào, tổng thu hái 3 lứa ước trên 11 tấn. Với giá bán cho Cty là 10.000đồng/kg (giá bao tiêu thấp nhất là 5.000 đồng/kg), bà con rất yên tâm sản xuất, không lo đầu ra…

Trồng ớt cay lai xuất khẩu thu nhập 250 triệu đồng/ha. 

Ông Bùi Văn Tú, Chủ tịch UBND xã Thượng Bì cho biết, so với cấy lúa, trồng ngô thì cây ớt cho thu nhập cao gấp 3 lần. Việc chuyển đổi diện tích đất kém hiệu quả sang trồng cây trồng mới đang là một hướng đi đúng. Theo đánh giá thì mỗi 1ha trồng ớt bà con thu được 250 triệu đồng (1ha thu hoạch được 25 tấn quả). Từ thành công của mô hình, trong năm 2018 xã sẽ tiếp tục nhân rộng ra các xóm khác với diện tích khoảng 8ha.

Một gương điển hình về làm giàu nhờ trồng ớt đó là “lão nông” Nguyễn Thị Kim Xuân ở Củ Chi (TP.HCM). Nhờ áp dụng công nghệ sản xuất nông nghiệp tiên tiến từ Israel, bà Xuân đã phát triển được trang trại ớt sạch, rộng 3 hecta, mỗi ngày cung cấp thị trường 500kg ớt, thu về hơn 800 triệu đồng/tháng.

Sau khi tốt nghiệp ngành Trung cấp Mỹ Thuật chúng tôi bà Xuân gắn bó với công việc thiết kế thời trang, sản xuất trang phục quần áo cung cấp hàng cho các siêu thị. Bà theo nghề thời trang gần 30 năm. Đến năm 2015, trong một lần nói chuyện qua điện thoại với người chị ruột định cư bên Úc đang phát triển trang trại nông nghiệp bằng công nghệ tiên tiến của Israel cho thu nhập cao, đồng thời nắm bắt nhu cầu cần sản phẩm nông nghiệp sạch của người dân hiện nay, bà Kim Xuân quyết định chuyển nghề sản xuất thời trang sang đầu tư nông nghiệp sạch.

Bà Nguyễn Thị Kim Xuân đã tạo nên vườn ớt sạch với công nghệ nông nghiệp Israel mang lại thu nhập cao. 

“Trong hai năm gần đây, người dân đang rất hoang mang trước các loại thực phẩm bẩn gây hại sức khỏe và hướng đến sản phẩm sạch. Đồng thời, chị tôi ở bên Úc thường xuyên gọi điện chia sẻ kinh nghiệm và động viên thực hiện trang trại nông nghiệp sạch. Sau nhiều đêm suy nghĩ và bàn bạc với gia đình, tôi mới bắt đầu thực hiện”, bà Kim Xuân chia sẻ.

Nói là làm, bà Xuân mạnh dạn bỏ ra 60 triệu đồng thuê mảnh đất rộng 3 hecta/năm, trên địa bàn xã Trung Lập Thượng (H.Củ Chi) và thuê máy cày về xới đất, vun thành từng luống. Sau đó, bà thuê người phủ bạt nilon lên các luống giữ độ ẩm của đất, ngăn cỏ dại và lấy bọc nilon làm thành các “bầu giá thể” đặt thành từng hàng trên luống đất cách nhau khoảng 5cm.

Cây ớt được trồng cách ly hoàn toàn với mặt đất.

Cũng theo bà Xuân, sau khi hoàn thành đặt bịch giá thể lên luống, ngăn cách hoàn toàn với mặt đất, bà tiếp tục mua hạt giống ớt chỉ thiên, chỉ địa về ươm cây. Cây lên khoảng 1 tháng sẽ được trồng vào bầu giá thể. Đồng thời, vườn ớt còn được thiết kế hệ thống tưới nước nhỏ giọt tự động để cung cấp độ ẩm và nước cho cây phát triển tốt. Vườn ớt cũng được bọc lưới cách ly hoàn toàn với môi trường bên ngoài để tránh côn trùng gây hại.

Cây ớt được trồng với công nghệ này sẽ sinh trưởng tốt, cho nhiều trái. Trái ớt khi chín có độ bóng đẹp, khi bẻ đôi trái ra sẽ có mùi thơm. “Khi mọi người trồng ớt trực tiếp xuống đất, đất ẩm thấp nên cây ớt dễ bị nấm. Cây ớt trồng với công nghệ Israel được cách ly hoàn toàn với đất bằng lớp nilon tránh được các loại bệnh. Có thể thu hoạch nhiều năm liên tiếp nhưng năng suất vẫn tăng cao. Cây ớt khi trồng xuống, sau hai tháng bắt đầu ra trái và từ tháng thứ 3 trở đi là bắt đầu thu hoạch”, bà Xuân cho hay.

Cây ớt có thể cho năng xuất cao trong nhiều năm tiếp theo. 

Theo bà Xuân, mỗi ngày thu hoạch toàn vườn ớt rộng 3 hecta, bà thu được khoảng 500kg, cung cấp cho các siêu thị trên địa bàn chúng tôi giá 55.000 đồng/kg. Tính ra thu nhập một tháng khoảng hơn 800 triệu đồng (chưa trừ chi phí). Thị trường ớt ở chúng tôi đang cần rất nhiều, mỗi ngày cung cấp sản lượng ớt lớn như vậy nhưng trại ớt của bà bán ra vẫn không đủ. Cây ớt trồng theo công nghệ này không có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và dư lượng nitrat nên an toàn với sức khỏe người tiêu dùng.

Ớt được bà Kim Xuân đóng gói trước khi cung cấp hàng cho các siêu thị. 

Hiện tại, trang trại ớt của bà Xuân tạo việc làm ổn định cho hàng chục lao động ở địa phương, có ngày công từ 250.000 – 300.000 đồng/ngày./.

Kỹ Thuật Chăm Sóc Cây Cao Su Đạt Chuẩn, Ky Thuat Cham Soc Cay Cao Su Dat Chuan / 2023

Bài viết sau đây sẽ hướng dẫn bà con cách chọn giống cũng như các kỹ thuật chăm sóc cây cao su từ nhỏ tới lớn.

A. NGUỒN GỐC 

Cây cao su (Hevea brarileneis) thuộc họ thầu dầu, có nguồn gốc từ Nam Mỹ. Năm 1877, cây cao su lần đầu tiên được đưa vào Việt Nam, trải qua hơn một thế kỷ tồn tại và phát triển, cao su đã khẳng định được vị thế là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, với sản phẩm chính là mủ ngoài mủ thì gỗ, dầu từ hạt cao su cũng mang lại giá trị đáng kể… Bên cạnh đó, việc trồng cao su còn đem lại lợi ích về môi trường (phủ xanh đất trống, chống xói mòn…). Vì vậy, cần phải chăm bón cây cao su ngay từ đầu để đạt được sản lượng mủ cao và ổn định.

B. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC 

Cao su là cây gỗ có rễ ăn sâu 3 m đến 5 m nếu đất tốt rễ có thể ăn sâu đến 10 m. Chiều cao của cây phụ thuộc vào đỉnh sinh trưởng (chồi ngọn) và có thể cao từ 10 – 25 m. Lá cao su là lá kép lông chim. Hoa cao su là loại hoa đơn tính, hoa đực bao quanh hoa cái nhưng thụ phấn chéo do hoa đực nở sớm hơn hoa cái. Quả nang gồm ba buồng mỗi buồng có một hạt. Khi cắt ngang thân cây có thể thấy rõ ràng 3 phần là gỗ, vỏ và tượng tầng. Mủ cao su chỉ thấy xuất hiện nhiều trong phần vỏ nên vỏ sẽ được xem xét chi tiết hơn so với các phần khác.

Vỏ gồm 4 lớp:

– Lớp mộc thiềm: Lớp này dưới 1 năm tuổi thường mỏng và không đáng kể làm nhiện vụ bảo vệ các lớp bên trong.

– Lớp gia cát thô: Lớp này có hoạt động sinh lý kém. Đây là lớp dày nhất, có thưa thớt những tế bào ống nhựa mủ đã già, mất khả năng sản xuất mủ.

– Lớp gia cát tinh: Lớp này khá dày, mật độ tế bào ống mủ nhiều hơn so với lớp trước.

– Lớp da cát lụa: Có độ dày khá mỏng, nhưng ở đây tập trung chủ yếu các tế bào ống mủ hoạt động sinh lý mạnh (90% ống nhựa mủ được tìm thấy ở đây).

– Tượng tầng: Là nơi sản xuất ra tế bào gỗ và tế bào libe trong đó có hệ thống ống mủ cao su. Bên cạnh đó tượng tầng còn hoạt động có tính chu kỳ.

Để khai thác mủ có hiệu quả phải cạo đúng độ sâu, nếu cạo qúa cạo thì cho mủ ít, còn nếu cạo phạm thì cho mủ nhiều, nhưng hàm lượng mủ quy khô thấp, ảnh hưởng đến tượng tầng, vỏ sau khi tái sinh sẽ có hiện tượng u lồi và không thể khai thác tiếp trên lớp vỏ tái sinh đó. Bên cạnh đó, còn gây nên bệnh xì mủ, loét sọc miệng cạo…

C. YÊU CẦU SINH THÁI CỦA CAO SU

I. Các yếu tố khí hậu, đất đai

Để trồng cây cao su có hiệu quả kinh tế thì phải xét đầy đủ các yếu tố như: Thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡng, dinh dưỡng khoáng….

1. Nhiệt độ 

Cây cao su phát triển tốt ở vùng nhiệt đới ẩm có nhiệt độ trung bình 22 – 30oC (Nhiệt độ thích hợp là 26 – 28oC). Nhiệt độ thấp ảnh hưởng đến quá trình khai thác mủ và sinh trưởng của cây. Nhiệt độ dưới 18oC ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt, tốc độ sinh trưởng của cây chậm lại. Nếu dưới 10oC hạt mất sức nảy mầm. Nếu dưới 5oC thì cây bị nứt vỏ, chảy mủ hàng loạt, đỉnh sinh trưởng bị khô, cây chết.­­­

Còn trên 30oC mủ chóng đông hoặc có thể đông ngay trên miệng cạo và gây hiện tượng khô mủ.

2. Lượng mưa và ẩm độ không khí

Cao su thường được trồng ở những vùng có lượng mưa từ 1.500 – 2.500 mm/năm. Số ngày mưa thích hợp trong năm là 100 – 150 ngày. Cây cao su cần nước nhưng không chịu được sự úng nước và gió. Cao su có thể chịu hạn được 4 – 5 tháng tuy nhiên sản lượng mủ trong những tháng này sẽ giảm.

Ẩm độ không khí có thể tương quan thuận với dòng chảy mủ khi khai thác. Am độ không khí thích hợp nhất là 75%.

3. Gió

Cây cao su không chịu được gió, gió lớn thường gây gãy đổ. Mức độ gió thích hợp cho cao su là từ 2 – 3 m/s.

4. Đất đai

Cao su có thể trồng được trên 3 loại đất là đất đỏ Bazan, đất xám Potzon trên phù sa cổ và đất sa phiến thạch.

Đất trồng cao su phải có độ sâu tầng đất mặt trên 1 m vì rễ cao su không xuyên qua tầng đá ong, không xuyên qua mực nước ngầm và tầng đá mẹ.

II. DINH DƯỠNG KHOÁNG

Hàm lượng các nguyên tố khoáng trong mủ cao su.

Bộ phận phân tích

Các nguyên tố trong chất khô (%)

Chất khô (mg/100 gr)

N

P

K

Mg

Na

Mn

Fe

Cu

Bo

3,4

0,22

0,9

0,4

9

25

15

1,8

5,0

Mủ

0,6

0,12

0,4

0,12

1. Đạm

Đạm rất cần trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Đạm làm tăng chu vi thân (vanh), tăng mật độ lá và lá có màu xanh đậm. Bón đạm còn điều tiết dinh dưỡng của các nguyên tố khác như lân và kali. Đạm tham gia trực tiếp vào việc tổng hợp nên mủ cao su… Tuy nhiên, việc bón đạm nhiều sẽ làm cho gỗ phát triển kém dễ gãy, đề kháng kém với sâu bệnh. Thiếu đạm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây cao su, làm tán lá phát triển hẹp, cây thấp lùn.

2. Kali 

Kali có khả năng điều tiết quá trình trao đổi chất, góp phần quan trọng trong các phản ứng sinh hoá của tế bào. Kali ảnh hưởng nhiều nhất đến dòng chảy mủ và tăng hàm lượng mủ quy khô.

Nếu cây thiếu kali thì sẽ làm giảm chu vi thân, chiều cao, số lá và làm cho hàm lượng Magiê trong mủ tăng lên dẫn đến mủ dễ bị đông trên miệng cạo. Vì thế, kali có thể hạn chế đựợc bệnh khô cành, tăng tinh chống gió bão, khắc phục một phần khô miệng cạo.

3. Lân

Lân cần thiết cho sự phân bào và phát triển của mô phân sinh, kích thích sự sinh trưởng của rễ, tăng sự hình thành thân, lá và quả. Cây thiếu lân thì đỉnh sinh trưởng kém phát triển, lá có màu đỏ hay đỏ gạch, lá nhỏ, vành thân kém phát triển. Lân cần nhất trong giai đoạn cây con.

4. Các nguyên tố vi lượng

Vi lượng là những nguyên tố mà cây cao su cần với hàm lượng không nhiều nhưng không thể thiếu được vì nó là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và phẩm chất mủ cao su. Nếu thiếu vi lượng sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây cao su. Có thể sử dụng vi lượng tổng hợp HUMIX bón cho cây cao su 1 năm bón 2 lần vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa có tác dụng ổn định độ mủ và lượng mủ.

III. CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY CAO SU

Cây cao su sau một thời gian trồng khoảng 3 – 5 năm tuỳ theo giống, loại cây con và điều kiện ngoại cảnh có thể ra hoa lần đầu. Mỗi năm, cây ra hoa từ 1 – 2 lần. Tuy nhiên, để phân chia các giai đoạn sinh trưởng của cây cao su người ta không dựa vào đặc tính sinh lý của cây mà dựa vào các thời kỳ mà cây cho sản lượng mủ khác nhau để phân ra thành các giai đoạn sinh trưởng.

1. Giai đoạn cây con trong vườn ươm

Là thời gian từ khi gieo hạt cho đến khi cây xuất khỏi vườn ươm, thời gian này có thể kéo dài từ 6 – 24 tháng tuỳ vào loại stump.

Giai đoạn này cây chủ yếu tăng trưởng theo chiều cao còn chu vi thân tăng chậm. Bình quân mỗi tháng cây có thể cho thêm 1 tầng lá mới.

Trong điều kiện nhiệt độ dưới 18oC, khô hạn hoặc bị bệnh thì tốc độ tăng trưởng về chiều cao cây, số lá, đường kính thân bị chậm lại. Đây là nhược điểm của những vùng có mùa đông lạnh sản xuất cây con.

Cây con cần được chăm sóc cẩn thận từ dinh dưỡng và nước tưới để nhanh chóng đạt được tiêu chuẩn cây ghép.

Cây con cần phải tiến hành tưới nước thường xuyên và kết hợp phun Phân Bón Qua Lá HUMIX CD Cao Su khi cây xuất hiện một tầng lá ổn định và ngừng phun trước khi ghép 1 tháng.

2. Giai đoạn kiến thiết cơ bản (KTCB)

Đây là thời gian dài (5 – 7 năm) mà nhà nông chỉ đầu tư chứ không thu lợi nhuận, vì thế tìm cách rút ngắn giai đoạn này là hướng quan trọng trong sản xuất cao su hiện nay.

Cây cao su từ 1 – 3 năm tuổi người nông dân cần có kế hoạch trồng xen các loại cây ngắn ngày để góp phần tăng thêm thu nhập đồng thời có tác dụng giữ đất. Tuỳ theo chân đất, nguồn vốn mà chọn loại cây trồng xen cho phù hợp.

Bên cạnh đó, để rút ngắn giai đoạn này cần phải tiến hành chăm sóc ngay từ đầu đặc biệt là khâu bón phân và làm cỏ. Nếu thiếu dinh dưỡng trong giai đoạn này thì giai đoạn kinh doanh sinh trưởng kém, lượng mủ thấp. Hơn thế nữa, việc bù đắp thiếu hụt dinh dưỡng của cây khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh thường không mang lại hiệu quả cao và tốn kém hơn nhiều.

Cây Cao su có thể tự cân đối về nước tưới trong giai đoạn này không như những cây công nghiệp dài ngày khác (tiêu, cà phê…).

Trong giai đoạn này, tiến hành bón Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX Chuyên Dùng Cao Su.

3. Giai đoạn khai thác mủ (hay là giai đoạn kinh doanh)

Đây là thời kỳ dài nhất tính từ cây bắt đầu khai thác mủ cho đến khi cây thanh lý. Căn cứ vào khả năng cho mủ người ta chia làm 3 thời kỳ đó là thời kỳ khai thác cao su non, thời kỳ khai thác cao su trung niên và thời kỳ khai thác cao su già.

a. Thời kỳ khai thác cao su non

Thời kỳ này kéo dài từ 10 – 12 năm, cây phát triển mạnh về số lượng cành, nhánh, chu vi thân, độ dày vỏ và sản lượng mủ tiếp tục tăng.

Vỏ ở thời kỳ này mỏng, mềm đang tăng trưởng mạnh nên việc cạo mủ cần phải có tay nghề cao, tránh cạo phạm vào gỗ.

Vườn cao su thời kỳ này thường âm u, ẩm thấp là môi trường rất thuận lợi cho nhiều loại bệnh phát triển mạnh thành dịch đặc biệt là bệnh phấn trắng, bệnh rụng lá mùa mưa…

Trong giai đoạn này cần phải cung cấp dinh dưỡng đầy đủ để tăng sản lượng mủ. Dùng phân HCSH HUMIX Chuyên Dùng Cho Cao Su.

b. Thời kỳ cao su khai thác trung niên

Khi năng suất không còn tăng nhiều nữa và giữ vững mức năng suất đó thì cao su bước vào thời kỳ khai thác trung niên. Tuỳ theo chế độ chăm sóc, khai thác trước đó, khai thác hiện tại và giống mà thời kỳ này dài hay ngắn. Nếu vườn trong các thời kỳ trước không được chăm sóc tốt thì khi bước vào thời kỳ này chỉ duy trì năng suất cao trong 1 thời gian ngắn và sau đó giảm năng suất. Bên cạnh đó, khai thác giai đoạn trước thái quá và cạo phạm cũng gây trở ngại lớn.

c. Thời kỳ khai thác cao su già

Khi năng suất mủ giảm mạnh và không có cách nào phục hồi được thì lúc đó cây đã bước vào thời kỳ khai thác cao su già. Lúc này, vườn cây rất mẫn cảm với bệnh rụng lá mùa mưa.

IV. TRỒNG MỚI VÀ CHĂM SÓC CAO SU

1. Giống

Thời gian đầu của việc trồng cao su thì thường trồng những thực sinh. Người ta chọn những hạt tốt từ cây bố mẹ để làm giống và mở rộng diện tích. Tuy vậy, những vườn trồng từ hạt thường không đồng đều và có độ biến động cao. Vì thế, ngày nay người ta sử dụng phương pháp nhân giống vô tính bằng cách ghép. Có rất nhiều loại giống như: GT1, RRIM 600, PB235, VM515, Pb260, RRIC121.

2. Trồng mới cây cao su

a. Chọn đất trồng

Đất có tầng dày sâu từ 1 m trở lên, không có lớp đá mẹ hoặc đá ong xen ngang, mực nước ngầm vào thời điểm cao nhất cách mặt đất tối thiểu 1m và mực nước không quá 1 tháng.

b. Mật độ

Đất đỏ: 7×3 m tương ứng với 476 cây/ha.

Đất xám: 6×6 m tương ứng với 555 cây/ha.

Hố đào: Dài 70 cm, rộng 50 cm, sâu 60 cm.

c. Thời vụ

Trồng mới vào đầu mùa mưa khi đất có đủ độ ẩm. Lịch trồng cho vùng Miền Đông Nam Bộ và Tây Nguyên như sau:

Trồng Stump trần: 1/6 – 15/7 dương lịch.

Trồng Stump bầu: 15/5 – 30/8 dương lịch.

d. Xen canh trong vườn cao su

Trong giai đoạn cây cao su còn nhỏ chưa giao tán người nông dân tiến hành trồng xen giữa 2 hàng cao su các loại rau màu, mè hay các loại cây họ đậu, cây trồng xen phải đảm bảo cách xa hàng cao su khoảng 1 m.

3. Bón phân

Sử dụng Các loại phân HUMIX dùng chăm bón cho cây cao su gồm:

Phân Hữu Cơ Tổng Hợp HUMIX SCR Cao Su.

Phân Gà Xử Lý HUMIX.

Phân HCSH HUMIX CD Cao Su.

Phân Phun Qua Lá HUMIX CD Cao Su.

a. Vườn ươm

Chuẩn bị bầu đất: Lượng đất, phân chuẩn bị cho một túi bầu là 20 – 30 gr Phân Gà Xử Lý trộn với 2.000 – 2.200 gr đất bột. Khi cây xuất hiện 1 tầng lá ổn định thì sử dụng Phân Phun Qua Lá HUMIX CD Cao Su pha với tỷ lệ 1/200 (1 lít phân pha với 200 lít nước). Phun định kỳ 10 ngày 1 lần và ngừng phun trước khi ghép 1 tháng.

b. Trồng mới

Sử dụng Phân Hữu Cơ Tổng Hợp HUMIX SCR Cao Su bón lót từ 1 – 2 kg/hố và trộn phân kỹ vào hố trước khi trồng Stump.

c. Giai đoạn kiến thiết cơ bản

Dùng Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX Chuyên Dùng Cao Su. Mỗi năm bón 2 lần vào đầu và cuối mùa mưa.

Năm 1 – 2 bón 1,2 tấn/ha/năm.

Năm 3 – 5 bón 1,2 – 2 tấn/ha/năm.

Từ sau khi trồng đến 1 năm tuổi bón bổ sung dinh dưỡng cho cây bằng Phân Phun Qua Lá HUMIX Chuyên Dùng Cao Su pha với tỷ lệ 1/100 để tưới gốc hoặc tỷ lệ 1/200 (40 ml/8 lít) phun lên lá, định kỳ 7 – 10 ngày/lần.

d. Giai đoạn kinh doanh

Dùng Phân Hữu Cơ Sinh Học HUMIX Chuyên Dùng Cao Su 1 năm bón 2 lần.

Lần 1 bón vào tháng 4 – 5 là 1,5 – 2 tấn/ha.

Lần 2 bón vào tháng 10 là 1,5 – 2 tấn/ha.

Hàng năm bón bổ sung thêm Phân Gà Xử Lý HUMIX với lượng bón 2 tấn/ha vừa cung cấp dinh dưỡng cho cây vừa giữ ẩm cho đất.

Cách bón: Từ năm thứ nhất đến năm thứ tư, cuốc rãnh theo hình chiếu của tán cây, rải phân đều sau đó lấp đất lại.

Từ năm thứ năm trở đi bón theo băng rộng giữa 2 hàng cao su đã sach cỏ sau đó phủ bằng lá khô.

4. Phòng trừ sâu bệnh

A. Sâu hại

Đối với cây cao su thì vấn đề về sâu hại không đáng lo ngại tuy nhiên không phải vì thế mà chúng ta không quan tâm. Có một số loại sâu hại phổ biến trên vườn cao su như sau.

1A. Câu cấu hại lá

Câu cấu găm lá già chừa lại gân lá còn đối với ấu trùng thì ăn rễ non của cây. Anh hưởng rất lớn đến quá trình quanh hợp, nếu câu cấu cắn phá nhiều thì sẽ làm cho cây bị suy dinh dưỡng, cây còi cọc và ảnh hưởng đến khả năng cho mủ.

Biện pháp cơ học: Dùng vợt bắt

Biện pháp hoá học: Phun thuốc trừ sâu qua lá và đất dùng các thuốc Bian 40 ND, Sumiudin 0,05 – 0,1%.

Các loại sâu ăn lá: An chồi ngọn dùng thuốc Rasudin 40 ND, Bian 40ND phun vào giai đoạn hình thành lá non chưa ổn định.

2A. Mối mọt

Mối mọt gặm rễ cây gây chết cây. Và có khi còn gặm cả vỏ tươi.

Biện pháp canh tác: Tủ gốc giữ ẩm phải cách xa gốc.

Không lấp rác cỏ tươi xuống hố trồng.

Phương pháp hoá học: Bam 5H 15 – 20 kg/ha.

Lantrek 40 EC nồng độ 0,15- 0,2 % dùng tưới lên gốc.

3A. Nhện đỏ và nhện vàng

Gây hại vào các đợt ra lộc non, chích hút chủ yếu ở giai đoạn cây con, vườn kiến thiết cơ bản. Chúng chích hút mặt dưới lá làm lá biến dạng, co lại và tạo gợn sóng.

Dùng thuốc: Comite 73 EC, Admire 050 EC, Ortus 5SC.

B. BỆNH HẠI

1B. Bệnh phấn trắng (Nấm Oidium Heavea)

Bệnh thường xuất hiện khi cây mới mọc lá hay trên những lá non gần trưởng thành. Xuất hiện vào tháng 1- 4 tuỳ thuộc từng vùng, nếu thiếu đạm, sương mù và cây gặp lạnh thì bệnh còn gây hại nhiều hơn.

Triệu chứng:

Lá bị bệnh thường mọc rủ xuống, mất hết vẽ bóng loáng thường ngày, phiến lá cong queo ở rìa mặt dưới thường xuất hiện những đám phấn trắng. Nó thường xuất hiện từ đỉnh lá và kéo xuống viền lá, nếu bệnh nặng thì lá rụng hàng loạt gây nên hiện tượng rụng lá lần thứ hai trong năm, và có thể gây hiện tượng khô cành.

Biện pháp: 

– Chọn giống kháng bệnh.

– Tăng phân đạm và kali giúp ra lá tập trung tránh lá ra vào tháng cao điểm bệnh.

– Trị bệnh bằng lưu huỳnh bột phun lên cả hai mặt lá 5 – 6 lần và cách nhau 1 tuần.

– Phun Sumieight 0,2%.

2B. Bệnh héo đen đầu lá nấm Colletortrichum Gloesporioides 

Cũng giống như bệnh phấn trắng, bệnh này thường gây hại trên các tầng lá non và chồi non chủ yếu trên cây cao su nhỏ tuổi và bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa. Bệnh nặng có thể làm cho cây chết từ trên xuống dưới.

Triệu chứng: 

Các đốm bệnh thường xuất hiện đầu lá có hình tròn và đường kính nhỏ hơn 2 mm, bên trong của đốm có màu vàng và bìa có màu nâu.

Biện pháp: 

– Phòng bệnh là chính, phải tạo điều kiện cho vườn cây thông thoáng.

– Không trồng những giống mẫn cảm với bệnh.

– Phun phòng Zineb (0,3 – 0,5%), oxit clo đồng(0,5 – 1%)…

3B. Bệnh rụng lá mùa mưa (Nấm Phytophthora Botryosa và P. Palmivora)

Bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa nhất là những vùng xuất hiện ở những vùng mưa dầm và gây hại nặng trên vườn khai thác.

Triệu chứng: 

Lá có đốm nâu đen, ở giữa có điểm trắng, tược non có đốm đen, khô rồi chết, trái non cũng có đốm đen khô và rụng. Trên những cuống lá bị rụng đó có những cục mủ khô trắng, bệnh còn lây lan đến miệng cạo gây nên hiện tượng loét sọc miệng cạo rất nguy hiểm.

Biện pháp: 

– Cần khơi mương chống úng, làm thông thoáng vườn cây.

– Khi cây bị bệnh nặng trên 50% thì phải tiến hành ngừng cạo cho đến khi mọc lớp lá mới hình chân chim thì tiến hành bắt đầu cạo lại.

– Giai đoạn này khó phòng trị vì lúc này cây cao su quá cao lớn.

4B. Bệnh nấm hồng (Nấm Corticium Salmonicolor)

Bệnh này thường gây hại nặng vào giai đoạn khai thác cao su non, và phá hại nặng nhất vào giai đoạn 3 – 8 năm tuổi. Bệnh này thường xuất hiện vào mùa mưa có thể gây chết cành và nếu nặng thì phải cưa ngọn. Bệnh dễ lây lan thành dịch theo gió, mưa và côn trùng.

Triệu chứng: 

Bệnh thường xuất hiện ở nơi phân cành, đầu tiên là giọt mủ chảy ra và có nấm trắng giống như màng nhện, sau đó vết bệnh chuyển từ từ sang màu hồng đậm và lan rộng. Bệnh nặng mủ chảy thành những vệt dài và hoá đen. Cuối cùng héo rũ lá chuyển sang màu vàng và ngay dưới vết bệnh mọc những chồi dại.

Phòng trừ: 

– Vệ sinh đồng ruộng, tiêu huỷ những cành khô do bệnh gây ra.

– Làm thông thoáng vườn cây trong mùa mưa ẩm.

– Dùng giống kháng bệnh với nấm hồng.

– Dùng thuốc hoá học: Validacin 5L (thuốc đặc hiệu) 1,2 %, Validacin 3L 2%, dung dịch Bordeaux 1% (phun) và 5% (quét).

5B. Bệnh loét sọc mặt cạo (Nấm Phytophora palmivora)

Bệnh gây hại trên mặt cạo vào mùa mưa 6-11 bệnh có nhiều tên khác nhau như sọc đen và thối miệng cạo, bệnh là thối, khô miệng cạo tái sinh và làm giảm sản lượng mủ.

Triệu chứng 

Phần vỏ tái sinh gần đường cạo xuất hiện các đường chỉ màu đen song song. Sau đó lớn dần tạo thành từng vết lún vào có màu đen rộng hơn cây tăm và dài chừng vài cm. Nấm bệnh tấn công vào vỏ, phá hại hệ thống mủ gây xì mủ có mùi hôi thối, đường miệng cạo bị lở ra, nứt vỏ.

Phòng trừ

– Không cạo khi vỏ cạo còn ướt, không cạo phạm vì nấm dễ xâm nhập gây bệnh.

– Tạo vườn thông thoáng.

– Dùng Ridomil pha với nước vôi nồng độ 2 – 3% và quét 1 băng rộng 2 – 3 cm trên miệng cạo vào thời gian sau khi thu mủ trong mua mưa.

6B. Bệnh khô mủ

Còn có nhiều tên gọi là khô miệng cạo, vỏ nâu. Bệnh thường xuất hiện trong suốt thời kỳ khai thác. Hiện nay vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân, hiện vẫn xem là bệnh sinh lý.

Triệu chứng 

Mủ đông ngay trên miệng cạo trước khi rơi vào chén, vỏ bên dưới bong dần có nhiều đường nứt dọc, cuối cùng nổi lên những bướu lớn, cứng và dần lên đến tận gốc cuối cùng cây phải bỏ đi.

Phòng trừ 

– Cạo đúng kỷ thuật.

– Bón phân đầy đủ nhất là đối với vườn kích thích mủ.

– Khi vườn có hơn 10% cây bị bệnh thì ngừng cạo.

5. Khai thác mủ cao su

– Thời vụ cạo: Mở miệng cạo vào tháng 3 – 4 và tháng 10 – 11 trong năm. Nghỉ cạo khi cao su bắt đầu rụng lá vào tháng 1 – 2. Khi lá bắt đầu nhú hình chân chim thì tiến hành cạo lại.

– Kỹ thuật cạo: Cách mở miệng từ đông sang tây tức là từ mặt tiền sang hậu và mở theo 1 hướng trong lô.

– Cách mở: Cạo 3 đường thứ nhất là cạo chuẩn, đường thứ hai là vạc nên, đường thứ 3 là hoàn chỉnh miệng cạo.

– Cạo xuôi: Từ năm thứ nhất đến năm thứ 11 và độ dốc miêng cạo là 30 – 35o.

– Cạo ngược: Từ năm thứ 12 trở đi thì cây cao su bắt đầu bước vào cạo ngược với độ đốc miệng cạo là 35o.

Giờ cạo: Cạo từ sáng sớm khi nhìn thấy rõ miệng cạo, cạo càng sớm càng tốt mùa mưa thì phải để lúc ráo nước trên mặt cạo mới tiến hành cạo. Trút mủ vào lúc 10 – 11 giờ trưa tránh trut quá muộn sẽ làm đông mủ.

Hiện nay nhiều bà con đã áp dụng chế phẩm Trichoderma Bima cho cây cao su: Trichoderma Bima có thể dùng rãi trực tiếp vào vườn hoặc ủ phân. Trường hợp rãi trực tiếp vào vườn, giúp phân huỷ chất hữu cơ có sẵn trong vườn, giúp cây hấp thu tốt hơn, từ đó dẫn đến chất lượng mủ cao hơn (sản lượng cao và độ mủ cao hơn), ngoài ra khi cây phát triển tốt và hấp thu dinh dưỡng nhiều hơn trước thì mấy mùa vụ sau mình dùng ít phân hơn; giảm khoảng 30 – 50% phân bón.

Việc dùng Trichoderma ủ để tự ủ phân, giúp bà con tận dụng nguồn nguyên liệu có sẵn ở địa phương để tạo phân hữu cơ, phân hữu cơ do mình tự sản xuất có chất lượng cao nhưng giá thành chỉ bằng 1/2 so với việc mua phân như bình thường. Dùng Trichoderma vào vườn cao su giúp phân giải chất hữu cơ thành dạng dễ hấp thu cho cây, đồng thời khống chế mầm bệnh trong vườn, giúp cho việc phòng ngừa bệnh tốt hơn.

Lan Hồ Điệp Đà Nẵng, Lan Ho Diep Da Nang, Cung Cấp Cây Lan Hồ Điệp Tại Đà Nẵng, Cung Cap Cay Lan Ho Diep Tai Da Nang, Lan Hồ Điệp, Lan Ho Diep, Mua Cây Lan Hồ Điệp, Mua Cay Lan Hồ Điệp, Bán Cây Lan Hồ Điệp, Ban Cay Lan Hồ Điệp / 2023

Thực chất, loài hoa hoang dã này có kỹ thuật trồng cây và chăm sóc không quá khó như nhiều người vẫn nghĩ. Lan hồ điệp (tên khoa học là Phalaenopsis) thuộc họ lớn nhất trong vương quốc các loài cây, họ lan Orchid Orchidaceae, có nguồn gốc từ Đông Nam Á, Philippines và Australia. Những loài cây này thường bám chặt vào cây ở trong rừng sâu hoặc bám vào đá. Chúng có lá to, rộng, mọng nước và cuống hoa uốn cong mang nhiều hoa. Thông thường, một câysẽ có từ 5 đến 10 lá và nhiều rễ màu trắng.

Lan hồ điệp có nhiều hình dáng và kích cỡ. Người trồng có thể đặt cây vào chậu riêng hoặc bỏ nhiều cây chung vào một chậu. Chậu thông thường có thể chứa được nhiều cây và cây có thể ra hoa trong vòng hai năm nếu được chăm sóc hợp lý.

Lan hồ điệp cần ánh sáng để phát triển tốt. Trong nhà, loài cây này nên đặt ở vị trí gần cửa sổ có ánh sáng nhưng nên tránh ánh sáng mặt trời trực tiếp. Người chơi hoa có thể cho đèn chiếu sáng nhân tạo. Các đèn chiếu sáng nên đặt ở phía trên của cây và nên chiếu ít nhất 12 đến 16 giờ hàng ngày. Trường hợp ở trong nhà kính, cây nên được che bằng tấm vải, nhất là trong mùa hè.

Lan hồ điệp cần độ ẩm từ 50-80% . Nếu độ ở môi trường có độ ẩm thấp hơn, người trồng có thể dùng màn che để hạn chế cây thoát hơi nước. Một biện pháp đề phòng khác là giữ cây ở trong chậu có chứa sỏi hay đá cuội và nước. Người chơi hoa phải đảm bảo cây phải luôn ở trên sỏi, đá cuội và không chạm vào nước. Việc tưới nước cho loài cây này rất quan trọng và người chăm cây nên thực hiện một cách cẩn thận.

Việc bón phân cho cây nên được tiến hành thường xuyên hơn vào mùa hè và khi cây đang trong giai đoạn tăng trưởng. Trong mùa đông, cây sẽ sử dụng chất hữu cơ ít hơn. Người chăm cây cần luôn tưới nước cho cây đầy đủ trước khi bón phân. Loại phân bón với công thức ổn định như NPK 14-14-14 là tốt nhất cho cây. Cây đang ra hoa cần được sử dụng phân công thức có hàm lượng photpho cao hơn. (10-30-20%).

Lan hồ điệp rất thu hút sâu hại như: sâu đục nụ, nhện, rệp, ốc sên. Những loài sâu hại bám vào lá cần được loại bỏ bằng nước xà phòng hoặc thuốc trừ sâu sau đó người chơi hoa nên rửa sạch lại lá bằng một miếng vải mềm.

Hoa lan hồ điệp thường sẽ tàn sau khi nở 3 tháng. Sau khi hoa tàn, người trồng có thể điều khiển cho cây ra hoa lại bằng cách cắt bỏ toàn bộ cuống hoa,phương pháp này rất tốt nếu cuống hoa đã già và có màu nâu. Tuy nhiên, nếu cuống hoa còn màu xanh, người chơi hoa chỉ nên cắt một đốt trên cuống hoa. Đoạn cành được cắt bỏ nên có độ dài khoảng 10-12cm, điều này có thể giúp cây hình thành một cành mới trong vòng 2-3 tuần sau.

Lan hồ điệp có thời gian sống rất dài, vì vậy người chăm cây cần thay chậu cho cây. Có hai lý do mà cây cần được thay chậu, một là cây không sinh trưởng được trong chậu đang trồng, hai là giá thể bị phân hủy và không đủ không khí để duy trì cho rễ cây phát triển tốt. Việc thay chậu có thể thực hiện một lần trong một năm hoặc hai năm, mùa thích hợp nhất để thay chậu là mùa xuân.

Rễ cây phát triển lan ra sẽ phủ lên chậu và giá thể ở trong chậu làm bịt kín các khe hở giữa các rễ, không có khoảng trống giữa giá thể và rễ cây. Điểm bắt đầu của thân cây nên được giữ một đoạn ngắn ở dưới giá thể. Sau khi thay chậu, người chăm nên giữ cây trong bóng mát và tưới nước sau 3 ngày.

Sau Tết, khi đa phần hoa trên các cần lan đã tàn, muốn cho cây sống sót và nhanh phục hồi, ta nên dỡ chậu lan ra thành từng cây một để trồng và chăm sóc.

Các cây lan hồ điệp trưng bày ngày Tết thường ghép vào các chậu lớn tạo nên những giò lan rực rỡ. Tuy nhiên, sau Tết, do các gia đình bận rộn nên thường quên hoặc chăm sóc lan không chu đáo, vì thế phần lớn lan bị chết hoặc không thể phát triển, hoặc lụi dần do người chơi không mấy quan tâm đến hoặc chưa biết chăm sóc nó ra sao sau khi tàn hoa.

– Đối với các lá bị bệnh ít, tỷ lệ vàng úa chưa quá 1/3 lá thì ta cố gắng giữ lá đó bằng cách dùng dao lam hoặc dao thật sắc khoét bỏ phần bị lá bị hỏng.

– Đối với các lá bị bệnh nhiều, mặt sau lá có dấu hiệu nấm, nhện loang rộng nên cắt bỏ hoàn toàn.

Tiếp theo, xử lý phần gốc và rễ: Người trồng nên quan sát rễ cây. Đa phần các cây hồ điệp trồng công nghiệp bằng rêu nước, dịp Tết do người nhà vườn hoặc người chơi tưới nước nhiều, do vận chuyển, cắm que sắt uốn hoa làm cho rễ cây bị thối rất nhiều. Ta cần rút bỏ bầu nhựa.

– Nếu thấy rễ cây vẫn còn tươi xanh, thối ít thì ta cố gắng giữ nguyên cả bầu của cây, dùng kéo sạch cắt bỏ tất cả các rễ thối, để nguyên các rễ vẫn còn tươi xanh. Bôi vôi, hoặc sơn móng tay, hoặc thuốc làm liền da cây, hoặc keo 502 vào tất cả các vết cắt đặt nguyên bầu cây vào chậu, dùng dây cố định chặt gốc cây lan không cho lung lay. Đổ dớn cọng đã xử lý nấm vào xung quanh chậu vỗ nhẹ cho hơi chặt, không phủ kín lên gốc để quan sát sự phát triển của rễ cây.

– Nếu rễ cây bị hỏng nhiều, gỡ bỏ toàn bộ phần rêu nước trong bầu cây để cắt rễ thối, cắt bỏ toàn bộ các rễ bị thối hoặc dập gãy. Bôi vôi, keo vào vết cắt, bỏ ít xốp vào đáy chậu.

Cây bị cắt gần như hết rễ nên rất khó đứng vững trong chậu. Dùng một thỏi xốp hình chữ nhật, đặt vào chính giữa gốc cây, cho cây lên cục xốp đó. Buộc dây vào gốc và buộc cố định chắc chắn sang hai bên không cho cây bị lung lay khi cầm chậu.

– Để cây vào chỗ mát, tránh mưa tuyệt đối, để khô khoảng ba ngày sau thì tưới đẫm toàn bộ chậu 1 lần.

– Pha phân bón B1 hoặc thuốc kích thích tăng trưởng như Atonic, K/H …thật loãng, tỉ lệ 1/2 thìa cà phê cho 20 lít nước phun sương ẩm hàng ngày.

– Khoảng 1-2 tuần sau, các rễ mới nhú ra, đợi khi rễ non cắm vào giá thể thì đổ thêm một lớp đất vào.

– Sau 1-2 tháng cây phát triển ổn định trở lại, bón phân, tưới nước bình thường.

NỘI DUNG: SƯU TẦM VÀ BIÊN SOẠN

Kỹ Thuật Trồng Ớt Cay / 2023

Ớt cay là một loại gia vị được sử dụng trong nhiều gia đình Việt, tuy nhiên mức thụ ở phân khúc này vẫn còn ít. Hiện nay ớt cay còn được trong công nghiệp chế biến thực phẩm và dược liệu để chế biến thành các loại thuốc trị ngoại khoa như phong thấp, nhức mỏi, cảm lạnh hay nội khoa như thương hàn, cảm phổi, thiên thời…nhờ tính chất capsaicine chưa trong trái. Nhờ vậy nhu cầu và diện tích ớt ở nhiều nước có nhiều hướng gia tăng.

I: CÂY ỚT CAY Tên khoa học: Capsicum frutescens L. Họ cà: Solanaceae

Ở Việt Nam việc canh tác ớt chưa được quan tâm, phần lớn canh tác lẻ tẻ, không đầu tư thâm canh cao nên năng suất thấp, thường chỉ đạt 800-1.000kg ớt tươi /1.000m2.

Thân: khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh. Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125-135 cm. Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống.

Lá: Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông.

Hoa: Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa. Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn. Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắng hoặc tím. Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái. Phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật.

Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40 % tùy giống, do đó cần chú ý trong công tác để giống và giữ giống thuần.

Trái: Trái có 2-4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đen vàng; trái không cay hay rất cay.

Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khẩu dưới dạng quả khô. Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khô không rời cuống. Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1. Trái chưá nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng,

Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 18-30oC. Nhiệt độ cao trên 32oC và thấp dưới 15oC. Cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng. Ớt là cây không quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay phát triển tốt và cho năng suất cao. Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ.

III. GIỐNG ỚT

Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu NN Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

1. Giống lai F1:

– Giống Chili (công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt và cho năng suất cao.

– Giống số 20 (công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m2.

– Giống Hiểm lai 207 (công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

2. Giống địa phương:

– Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái.

Giống ớt Chỉ Thiên – Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

– Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái rất cay và kháng bệnh đén trái tốt nên trồng được trong mùa mưa.