Top 3 # Cach Trong Hoa Lan Phalaenopsis Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 2/2023 # Top Trend | Inkndrinkmarkers.com

Cach Trong Va Cham Soc Hoa Dang Tieu

Đăng tiêu là một loài cây dây leo phát triển nhanh, rất xanh vào mùa hè và cho hoa đẹp nên thường được lựa chọn để trồng lấy bóng mát mùa hè.

Đặc điểm của hoa đăng tiêu

Hoa Đăng tiêu tên khoa học là Campsis grandiflora, có nhiều tên khác như lăng tiêu, hoa nữ uy, lan tiêu… , xuất phát từ khu vực phía Bắc của châu Mỹ.

Đăng tiêu thuộc loài dây leo hóa gỗ, cây phát triển nhanh, nhiều cành nhánh. Đăng tiêu có thể leo cao đến hàng chục mét, lá kép, hình bầu dục, thuôn nhọn 2 đầu, viền lá có răng cưa. Mùa đông cây rụng lá, bắt đầu mọc lại vào mùa xuân, vào mùa hè thì cây xum xuê lá.

Hoa đăng tiêu hình chuông như hoa loa kèn, có nhiều màu sắc như đỏ cam, vàng cam, đỏ tươi, vàng… đậm dần về mép hoa. Hoa mọc thành chùm từ 5-8 bông, rất sai hoa. Mùa hoa nở rộ từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm, rất bền, có thể đến 5-7 ngày.

Đăng tiêu có quả, hình nang dài, cứng và nhọn ở 2 đầu, hạt đăng tiêu có cánh.

Đăng tiêu phát triển nhất là vào mùa hè, nên thường được trồng thành giàn làm mát cho ngôi nhà. Hoa đăng tiêu đẹp và rực rỡ, rất thích hợp để trồng trang trí

Các gia đình thường trồng đăng tiêu trên sân thượng hoặc ban công, sau đó để cây rủ xuống, vừa mát lại rất đẹp.

Cách trồng hoa đăng tiêu

Nhân giống đăng tiêu bằng hạt: bạn có thể nhân giống đăng tiêu bằng hạt, tuy nhiên, thời gian gieo trồng sẽ khá lâu (khoảng 60 ngày). Nên gieo hạt vào đầu mùa thu

Giâm cành: tốt nhất nên giâm cành vào mùa xuân để cây có thể phát triển được đúng vào mùa hè.

Đất trồng: nên chọn đất tơi xốp, nhiều dinh dưỡng và thoát nước tốt. Khi gieo hạt hoặc giâm cành có thể sử dụng đất cát pha thịt thì cây sẽ nhanh lên hơn.

Ánh sáng: Nên trồng ở nơi có ánh sáng tốt thì cây sẽ xanh tốt và ra nhiều hoa, hoa đậm màu hơn.

Nhiệt độ: Đăng tiêu ưa khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, chịu lạnh kém nên cây thường rụng lá vào mùa đông.

Chăm sóc định kì: Nên thường xuyên dọn dẹp lá vàng vì không chỉ gây mất thẩm mĩ mà còn có thể trở thành nơi chứa mầm bệnh. Bạn cũng nên cắt tỉa các cành yếu và rối, để cho các cành khỏe phát triển.

Tưới nước: Cây ưa ẩm và phát triển nhanh nên thời kì đầu cần tưới nước khá nhiều.

Bón phân: Bạn nên thường xuyên bón phân vì cây phát triển khá nhanh.

Chú Ý Bón Phân Cho Cây Lan Xanh Tốt, Nhiều Hoa, Cach Trong Lan

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, trồng hoa lan không quá khó nhưng phải hiểu được đặc tính loại lan mình trồng để chăm sóc thành công. Việc bón phân cho cây hoa lan là yếu tố rất quan trọng.

Trồng hoa lan cho thu nhập kinh tế cao nên được nhiều nông dân chuyển đổi từ đất trồng lúa thu nhập thấp, đất trũng thấp sang trồng hoa lan. Ngoài những công ty lớn đầu tư trồng hoa lan với kỹ thuật cao thì không ít nông dân chuyển sang trồng lan nhưng chưa nắm vững kỹ thuật chăm sóc, nhất là bón phân.

Theo khuyến cáo của TS. Nguyễn Đăng Nghĩa, giám đốc Trung tâm nghiên cứu & phát triển nông nghiệp nhiệt đới, cần tuân thủ nguyên tắc bón phân theo đúng loại phân, giai đoạn và liều lượng. Bón phân cho cây lan vừa đủ, không bón quá nhiều một lần mà cần cho chúng “ăn” thường xuyên.

Chú ý giai đoạn bón phân phù hợp, người trồng sau khi mua lan giống (từ cây cấy mô) đạt chuẩn xuất vườn về trồng là bắt tay ngay vào chăm sóc, bón phân. Đây là giai đoạn bắt đầu trồng tại vườn sản xuất cho tới khi cây đạt tuổi trưởng thành chuẩn bị ra hoa, giai đoạn này kéo dài từ 4 – 8 tháng tùy loài lan, một số loài có thể kéo dài 12 tháng hoặc hơn. Đây là giai đoạn cây sinh trưởng mạnh nhất, tăng trưởng cả về số lượng và khối lượng nên rất cần bổ sung đủ dinh dưỡng để cây sinh trưởng và hình thành mầm hoa.

Vì vậy, phân bón cho giai đoạn này chú ý độ đạm cao như NPK 30-10-10 hay bổ sung phân đạm cá 6-3-3, phân sinh học. Phun phân bón lá 16-16-8 định kỳ kết hợp chế phẩm sinh học, vi sinh. Chú ý các loại phân chậm tan để cây hấp thu liên tục, tăng cường phân hữu cơ, sinh học cho cây phát triển khỏe mạnh, vượt cành nhanh.

Có thể sử dụng phân hạt chậm tan loại Nutricote 19-6-12 và Nutricote 14-14- 14 rải trên bề mặt chậu lan. Nếu giá thể trồng bằng than củi thì không rắc loại này vì phân sẽ bị lọt xuống đáy chậu mà sử dụng loại cho vào túi lưới.

Khi cây sinh trưởng khỏe mạnh, đến thời điểm hình thành mầm hoa thì cần chế độ dinh dưỡng khác giai đoạn trước. Đây là thời điểm quan trọng khi cây chuẩn bị ra hoa nên chú ý phân bón để vườn ra hoa đồng loạt, hoa đạt chất lượng loại một khi xuất bán.

Giai đoạn chuẩn bị ra hoa cây lan cần cung cấp phân bón có hàm lượng lân (P) cao, đồng thời bổ sung một số chất điều hòa sinh trưởng, các nguyên tố dinh dưỡng vi lượng thiết yếu như Mg, Zn, Bo…

Chú ý không bổ sung phân chứa đạm cao như giai đoạn trước mà bón phân có hàm lượng NPK 10-30-10 hoặc NPK 10-30-30, bổ sung phân vi lượng chứa Mg, Zn, Bo, phun dinh dưỡng hỗ trợ phân hóa mầm hoa.

Sang giai đoạn khi cây bắt đầu nhú phát hoa đến khi hoa nở, giai đoạn này cần chú trọng chất lượng hoa, phát hoa dài, số lượng hoa nhiều và hoa lớn, màu sắc đẹp, cánh hoa dày cứng, lâu tàn.

Nếu giai đoạn trước chăm cây sinh trưởng tốt, cây khỏe mạnh, dinh dưỡng cân đối và có bổ sung phân hữu cơ, phân sinh học… thì giai đoạn sau sẽ cho chất lượng hoa đạt chuẩn chứ không phải chờ khi cây ra hoa mới chăm phát hoa.

Khi cây đã ra hoa là tiếp tục duy trì, bổ sung thêm dinh dưỡng để có cành hoa chất lượng đến khi xuất vườn hoặc cắt cành. Lúc này sử dụng loại phân NPK 10- 10-30, 15-15-15, phun phân hữu cơ, sinh học như Supagro, Wehg, Vinaxanh…

Chú ý phun khi hoa mới nhú, phun 2 – 3 lần, mỗi lần cách nhau 4 – 5 ngày theo liều hướng dẫn, phun nhẹ lên phát hoa và lá, rễ.

Chú ý khi có nụ hoa nở thì không phun vào cành hoa. Lưu ý khi bón và phun phân cho hoa lan là nên tiến hành lúc 7 – 9 giờ sáng, chiều thì phun nước cho cây hấp thu phân. Đến sáng hôm sau phun nước sạch rửa trôi hết phân bón còn bám trên lá.

Hạn chế bón phân vào chiều tối, nhất là phun xịt phân chứa đạm cao.

Khí hậu phía Nam thích hợp hoa lan sinh trưởng quanh năm, cung cấp đủ dinh dưỡng cây lan cho hoa theo chu kỳ, không có thời gian nghỉ.

Trồng lan Vanda, Mokara sử dụng phân bón qua lá là chính, chọn phân chứa thành phần theo từng giai đoạn như trên. Phân bón rất quan trọng cho cây lan, chú ý thường xuyên sử dụng phân bón tăng cường bộ rễ cho cây, rễ càng nhiều cây càng khỏe, càng nhiều hoa. Cần thiết thường xuyên bổ sung phân bón qua lá có nguồn gốc hữu cơ (rong biển, amino acid, humic acid,…) giúp cây xanh tốt, tăng đề kháng với bệnh hại. Phân vô cơ chỉ nên dùng đúng theo từng thời kỳ (1 tháng/ lần) kết hợp với vi lượng.

ANH ĐỨC(Theo Khoa Học Phổ Thông)

Phalaenopsis – Lan Hồ Điệp – Dân Chơi Lan

Để lan Hồ điệp phát triển tốt, ngoài việc phải biết cách trồng lan hồ điệp, biết cách chăm sóc cho cây lan, chúng ta phải chú ý đến điều kiện ngoại cảnh của lan Hồ điệp mới có thể giúp cây phát triển được tốt nhất.

Ánh sáng cho lan hồ điệp

Hoa lan Hồ điệp đã và đang được sản xuất với số lương lớn nhất so với các loài lan khác trên thị trường. Môi trường sống tự nhiên của chúng là ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong tự nhiên chúng bám trên các cành cây trong rừng, dưới bóng râm của các tán lá. Do đó cần có ánh sáng cho lan hồ điệp thích hợp để chúng phát triển.

Các khuyến cáo của chúng tôi đối với người trồng có tính chất thương mại, là ánh sáng cho lan Hồ điệp thích hợp với cường độ từ 1.000 đến 2.000 nến. Cây Hồ điệp lớn của tôi (từ đây trở đi, tất cả chủ từ đều chỉ tiến sĩ Wang) có tên là Phalaenopsis Tam Butterfly (mất bốn năm rưỡi từ khi gieo hạt), đã ra hoa mùa thứ ba, trong điều kiện cường độ ánh sáng cho lan hồ điệp bằng 600-1.000 nến, với hoa lớn đạt 10 cm (4 inch), trên một vòi hoa có phân nhiều nhánh. Nhìn chung, khi trời trở nên mát mẻ (18,3 oC) thì cần có ánh sáng cho lan hồ điệp mạnh hơn, và giảm cường độ sáng cho lan hồ điệp khi trời trở nên nóng hơn (30 oC), nhằm tránh cho lá bị quá nhiệt, dẫn đến tình trạng cháy lá. Những khí khổng trên mặt lá lan Hồ điệp sẽ mở ra trong thời gian không có ánh sáng để tiếp nhận carbon dioxide, và chúng gần như đóng lại vào ban ngày để bảo toàn nước. Điều này sẽ giúp cho lá có cơ hội giải tỏa nhiệt trên lá bằng cách trao đổi nhiệt.

Các cây lan Hồ điệp nhỏ thường mọc ở những nơi có cường độ ánh sáng thấp hơn 1.000 nến. Đối với tôi, các cây lan nhỏ tôi đặt dưới ánh sáng 800 đến 1.000 nến trong thời gian 2 tuần lễ, sau đó tôi lấy chúng ra khỏi chai (cấy mô) chuyển ra nơi có cường độ ánh sáng 1.500 nến để thúc cho cây lan hồ điệp phát triển.

Phần lớn những người có sở thích trồng Hồ điệp trong nhà hoặc dưới ánh sáng nhân tạo, trong môi trường này, mức độ ánh sáng cho lan hồ điệp mà chúng hấp thu trong 24 giờ thấp hơn đáng kể so với các điều kiện về ánh sáng cho lan hồ điệp với điều kiện lý tưởng trong nhà kính. Song dù sao những người đó vẫn có những cây Hồ điệp ra hoa. Vậy câu hỏi đặt ra là bao nhiêu ánh sáng mà cây Hồ điệp cần để cho chúng phát triển và ra hoa?

Tôi trồng mấy cây lan Hồ điệp Joseph Hampton ‘Diane’, thuộc loại sinh sản vô tính, đã được giải thưởng danh dự của Hội Hoa lan Hoa kỳ. Cây này tôi trồng trong nhà kính với ánh sáng vào lúc trưa tối đa là 1.400 nến. Khi những bông hoa đầu tiên của mỗi cây nở đầy đủ (mãn khai) là vào cuối tháng Giêng năm 1993. Để tìm ra manh mối nhu cầu về ánh sáng mà lan Hồ điệp cần, tôi đã di chuyển các cây này vào một phòng, điều chỉnh cường độ sáng ở các mức 50, 100, 150 hoặc 250 nến, bằng ánh sáng của đèn ống, có ánh sáng lạnh, trong suốt 12 giờ mỗi ngày, nhiệt độ trong phòng là 20 và 25 oC, tôi nhận thấy rằng cây Hồ điệp mà tôi đặt dưới cường độ ánh sáng 100 nến vẫn tiếp tục ra hoa dài ngày hơn (127 ngày), hơn hẳn những cây đặt dưới cường độ ánh sáng 150 hoặc 250 nến (chỉ có 118 ngày, xem bảng 1). Song dù sao, hoa của những cây đặt dưới cường độ ánh sáng 50 và 100 nến (đây là cường độ ánh sáng trong hầu hết các cơ quan) thì hơi nhỏ hơn (chỉ từ 10,6 cm đến 10,9 cm), nhỏ hơn các cây đặt dưới ánh sáng cao hơn (11,2 cm). Nụ hoa luôn phát triển đầy đủ ngay trong điều kiện ánh sáng cho lan hồ điệp chỉ ở mức 50 nến. Như vậy có thể kết luận rằng, cây lan Hồ điệp chỉ cần cung cấp 50 nến trong thời gian 12 giờ mỗi ngày cũng đủ để chúng phát hoa. Sự khác nhau có thể xuất hiện ở các loài lan lai tạo khác.

Những cây lan hồ điệp này được tôi giữ dưới cường độ ánh sáng tương ứng trên hai năm tròn, cho đến cuối tháng Hai, 1995. Trong suốt thời gian đó, những cây để dưới ánh sáng 50 hoặc 100 nến đều không ra hoa vào mùa ra hoa của chúng. Chỉ có một nửa số cây giữ ở cường độ ánh sáng 150-250 nến mới cho ra hoa. Còn những cây để ở mức 50 nến chỉ cho lá dài và rất đẹp (Bảng 1). Do cường độ ánh sáng cho lan hồ điệp đã tăng lên, nhiều lá đã hình thành với nhiều dài lớn hơn (Bảng 2). Tất cả những lá trưởng thành có chiều dài tương tự nhau (34 cm), không kể là ở cường độ ánh sáng nào.

Kết quả thí nghiệm trên cho thấy rằng, nhu cầu cường độ ánh sáng tối thiểu cho sự phát triển tính chất thực vật và sự tái tạo của lan Hồ điệp là khác nhau. Mặc dù ánh sáng cho lan hồ điệp ở mức 50 nến đủ để cho các cây lan phát triển lá, nhưng các cây lan hồ điệp khỏe mạnh cần mức độ ánh sáng cao hơn 250 nến để có thể một trăm phần trăm đều ra hoa. Điều này có thể giải thích vì sao nhiều người trồng lan Hồ điệp không ra hoa, mặc dù họ đã giữ nhiệt độ nơi trồng đúng và đủ để cây phát hoa, có nghĩa là họ đã không cung cấp đủ lượng ánh sáng cần thiết cho chúng.

Khi ánh sáng cho lan hồ điệp yếu thì phải tăng thời gian phơi sáng để có tổng lượng ánh sáng đủ theo yêu cầu của cây lan hồ điệp.

Các nghiên cứu cho thấy rằng nhiều loài lan không phát triển tốt và một số cây trở nên úa vàng do để phơi sáng liên tục. Các lá cây lan Hồ điệp phát triển đầy đủ và hấp thu carbon dioxide tốt chính là vào thời gian không có ánh sáng trong ngày. Vì thế mỗi ngày nên có thời gian để lan trong bóng tối để chúng phát triển tốt nhất.

Có một kinh nghiệm của riêng tôi như sau, cùng một lúc tôi dùng bốn phòng, tôi phơi sáng các cây ở mức sáng 800, 300 hoặc 40 nến, 12 tiếng mỗi ngày, trong suốt 68 ngày, nhiệt độ trong phòng là 20 oC vào ban ngày và 15 oC vào ban đêm. Các cây khác tôi để trong bóng tối liên tục. Kết quả là những cây được phơi sáng dưới cường độ 800 nến hoặc 300 nến thì nhú vòi hoa sau 5 tuần lễ, trong khi các cây được phơi sáng ở mức độ 40 nến, thì đến cuối tuần lễ thứ sáu vẫn chưa thấy nhú vòi hoa. Những cây nói sau, sau đó chúng được chuyển vào nhà kính thì chúng lại ra hoa bình thường. Về điểm này, tôi nghĩ rằng nó cũng giúp ích nếu được áp dụng. Đó là làm chậm việc ra hoa của cây lan và cho chúng ra hoa vào thời điểm mà mình mong muốn.

Bước tiếp theo là tôi đặt ba nhóm lan Hồ điệp cấy mô (sinh sản vô tính) vào trong ba phòng trồng lan với điều kiện đã nói ở trên, nhưng không phải là tất cả được đặt trong tối, một nhóm được đặt dưới ánh sáng 800 nến trong mỗi chu kỳ là hai tuần. Kết quả mỹ mãn, so với nhóm được phơi sáng, tôi đã làm chậm thời gian ra hoa của các nhóm trong tối đúng bằng thời gian chúng ở trong bóng tối. Sau đó cả ba nhóm này đã nở hoa cứ mỗi hai tuần lễ kể từ khi ra nụ. Còn chu kỳ phát hoa của chúng rất chính xác là 123 ngày kể từ khi chồi hoa nhú ra đến khi hoa nở, số lượng hoa cũng như kích thước của hoa của tất cả các cây lan hồ điệp đều như nhau.

Do các điều kiện về môi trường trong các nhà kính thay đổi bất thường nhiều hơn là môi trường được kiểm soát tốt trong các phòng thí nghiệm, vì vậy tôi cũng không chắc kinh nghiệm này có giúp ích được nhiều cho những người trồng lan thương mại hay không.

Vào năm 1995, tôi được sự trợ giúp của Hội Hoa lan Hoa kỳ, tôi tiến hành một thí nghiệm khác đối với các cây lan Phalaenopsis Tam Buterfly. Để tránh cho các cây lan trong nhà kính bị quá nhiệt, tôi đã dùng các tấm vải đen làm che mất 93 phần trăm ánh sáng (râm 93%) trong thời gian hai, ba, bốn hoặc năm ngày trong một tuần lễ, chỉ cho các cây lan hồ điệp tiếp xúc với ánh sáng trong thời gian tôi bỏ các tấm vải đen che phủ ra. Thí nghiệm này được tiến hành vào ngày 15 tháng Chín, trước thời gian chồi hoa hình thành và kết thúc vào 22 tháng Giêng. Kết quả như sau:

Các cây không bị che nở hoa vào ngày 8 tháng Hai, 1996.

Các cây bị che 5 ngày một tuần, ra chồi hoa vào ngày 10 tháng Hai, và nở hoa vào ngày 9 tháng Năm, 1996 (xem bảng 3).

Không có sai biệt về số lượng cũng như kích thước của hoa. Mặc dù, các cây lan hồ điệp được che 4 ngày/tuần cũng ra hoa chậm hơn có một tháng trong mùa hoa 1995-1996. Nhưng cây có tuổi non hơn một năm so với các cây thí nghiệm cũng ra hoa vào vụ hoa 1995-1996 nhưng chậm hơn ba tháng.

Người ta có thể tìm cách sắp xếp cho các cây lan hồ điệp nở hoa theo ý muốn và có thể để cây lan trong bao lâu trong các cuộc thí nghiệm. Tôi đã che phủ một số lượng lớn cây lan hồ điệp Plalaenopsis Tam Betterfly trong một cái lồng, mỗi tuần năm ngày, bắt đầu từ ngày 2 tháng Giêng. Tôi đưa một nhóm ra khỏi cuộc thí nghiệm vào mỗi tuần khác và đặt chúng dưới các điều kiện được quy nạp. Cuộc thực nghiệm này đã thành công, các cây đó ra hoa  vào thời gian sau đó (bảng 3). Những cây còn lại tôi đưa ra ngoài vào ngày 2 tháng Ba, chúng đã không ra hoa cho tới đầu tháng Sáu, và số lượng hoa cũng ít hơn (18 so với 41 đối với những cây có kiểm soát, xem bảng 4). Do nhiệt độ không khí trong nhà kính tăng lên vào cuối mùa xuân, nên các vòi hoa xuất hiện chậm hơn mà thời gian nở hoa lại ngắn.

Nhiệt độ không khí dưới tấm phủ cao hơn không khí trong nhà kính từ 2 đến 4 oC. Vì thế chúng ta cần quan tâm nhiều đến vấn đề nhiệt độ, đừng để nó tăng lên cao quá. Vì vậy các cây được che phủ để làm chậm việc ra hoa có thể sẽ an toàn hơn và tốt hơn ở nơi có nhiệt độ không khí mát mẻ hơn. Nếu không sẽ có một số cây nhú vòi hoa ngay trong thời gian bị che phủ. Khi thấy hiện tượng này thì ngay lập tức đưa những cây đó ra ngoài nơi có ánh sáng thích hợp cho lan hồ điệp. Ở những vùng có số ngày nắng không nhiều vào mùa thu và mùa đông, người ta không nên che phủ tới 5 ngày/tuần, như vậy cây sẽ không bị yếu.

Người ta cũng cần biết độ dài của thời gian một cây lan Hồ điệp cần có để phát hoa, và thời gian từ lúc xuất hiện vòi hoa đến thời gian hoa nở để có một thời gian biểu chính xác cho việc ra hoa theo ý muốn.

Nếu các bạn muốn áp dụng phương pháp làm chậm ra hoa này mà không thành công, thì hãy đưa cây lan hồ điệp vào nơi có nhiệt độ 28 oC trong mọi thời gian để có cây lan không phát vòi hoa được. Đây là một phương pháp đắt đỏ mà nhiều nhà trồng lan ở Nhật bản đã áp dụng để làm chậm việc ra hoa.

Tôi có kế hoạch nghiên cứu bổ sung để quyết định thay đổi về mặt sinh học và hóa học trong các lá cây lan Hồ điệp và các chồi ở nách lá trong thời gian xử lý cho cây lan chậm ra vòi hoa. Kết quả sơ bộ cho thấy việc tích tụ axit malic (chất chuyển hóa đầu tiên tiếp theo sự hình thành carbon dioxide) đã làm suy yếu cây lan Hồ điệp sau khi đặt chúng vào chỗ tối trong mấy ngày. Như vậy có khả năng mức độ đường và tinh bột trong lá cây lan cũng suy giảm, điều đó làm cho vòi hoa không xuất hiện ở những cây đặt trong bóng tối./.

Bảng 1. Về nhu cầu ánh sáng cho lan hồ điệp.

Tính chất của lan hồ điệp Phalaenopsis Josep Hampton ‘Diane’. Dưới các điều kiện ánh sáng trong 25 tháng.

Cường độ sáng(tính bằng nến) Thời gian hoa tàn(ngày) Kích thước hoa(cm)

50 127 10,6

100 127 10,9

150 118 11,2

250 118 11,2

Bảng 2. Về nhu cầu ánh sáng cho lan hồ điệp.

Sự phát triển của Phalaenopsis Joseph Hampton ‘Diane’ dưới các điều kiện ánh sáng trong 25 tháng.

Cường độ sáng(nến) Số lá mới Chiều dài trung bình của lá trưởng thành Tổng chiều dài của các lá mới

50 4,0 34,5 137

100 4,8 32,9 154

150 5,1 33,9 165

250 5,6 34,3 191

Bảng 3. Về nhu cầu ánh sáng cho lan hồ điệp.

Ảnh hưởng của việc phơi sáng các cây lan trong thời gian trong tối (D) và ngoài sáng (L) khác nhau trong chu kỳ tuần lễ trên việc phát vòi hoa và nở hoa của lan hồ điệp Phalaenopsis Tam Butterfly (1995-96). Cuộc thí nghiệm bắt đầu từ 15/9/1995.

Thí nghiệm(Ngày) Ngày nảy chồi hoa Ngày hoa nở Tổng số hoa

Có kiểm soát Ngày 7/10 Ngày 8/2 41

2D/5L Ngày 14/10 Ngày 20/2 39

3D/4L Ngày 18/10 Ngày 21/2 43

4D/3L Ngày 8/11 Ngày 6/3 38

5D/2L Ngày 10/2 Ngày 9/5 32

Bảng 4. Về nhu cầu ánh sáng cho lan hồ điệp.

Ảnh hưởng của việc di chuyển định kỳ từ một thí nghiệm làm chậm phát chồi hoa trên lan hồ điệp Phalaenopsis Tam Butterfly. Cuộc thí nghiệm được bắt đầu ngà 15 tháng 9, 1995 và các cây vẫn được để trong bóng tôi mỗi tuần 5 ngày và phơi sáng mỗi tuần 2 ngày.

Cây lan được xử lý đến ngày (năm 1996) Ngày xuất hiện chồi hoa1995-1996 Ngày hoa nở(1996) Tổng số hoa

Có kiểm soát Ngày 7/10/1995 Ngày 8/2 41

Ngày 2/1 Ngày 6/2/1996 Ngày 8/5 27

Ngày 17/1 Ngày 12/2/1996 Ngày 5/5 22

Ngày ½ Ngày 24/2/1996 Ngày 16/5 23

Ngày 16/2 Ngày 14/3/1996 Ngày 23/5 25

Ngày 2/3 Ngày 28/3/1996 Ngày 3/6 18

Nhu cầu ánh sáng cho lan hồ điệp Phalaenopsis amabilis.

Giá thể của hoa lan Hồ Điệp phải khá tơi xốp và thoáng khí, đồng thời phải cỏ khả năng giữ nước như gỗ mùn, than bùn khô, hạt đá nhỏ, rêu… Dưới rễ của cây non lót một lớp rêu hoặc trồng cây lan non trực tiếp vào rêu. Với những giá thể trồng khác nhau cũng phải có cách trồng và chăm sóc khác nhau đặc biệt là chế độ nước tưới, với những giá thể kém giữ nước thì phải tưới thường xuyên hơn.

Dùng rêu để làm giá thể trồng lan, cần phải xử lý tiệt trùng trước và phải rửa nhiều lần (3-4 lần). Giai đoạn cây non của lan Hồ Điệp kéo dài, do vậy nếu dùng rêu để làm giá thể ươm cây lan con thì phải lựa chọn loại rêu chất lượng tốt. Loại rêu nếu không qua khử trùng ở nhiệt độ cao thì rêu vẫn có mầu xanh, dễ bị thối mốc dẫn đến thối rễ hoa lan, cây lan con sinh trưởng kém, các loại sâu bệnh có cơ hội để phát triển, làm chết cây non.

Chậu trồng lan Hồ điệp là chậu không sâu, chậu nhỏ màu trắng và trong suốt, để có lợi cho hệ rễ của lan phát triển và quang hợp. Căn cứ vào kích thước cây lớn, nhỏ mà chọn chậu trồng lan thích hợp. Cây lan non trồng trong chậu đường kính 8-10 cm; 3-6 tháng sau lớn thành cây lan trưởng thành trồng sang chậu đường kính 12-15 cm, tiếp tục trồng 4-6 tháng có thể tiến hành xử lý thúc ra hoa.

Hoa lan Hồ Điệp có nguồn gốc từ miền nhiệt đới, do đó nhiệt độ thích hợp để trồng lan Hồ Điệp tương đối cao. Nhiệt độ thích hợp nhất để trồng lan hồ điệp ban ngày là 25-28°C, ban đêm là 18-20°c, giai đoạn ươm cây con thì cần nhiệt độ ban đêm là 23°c. Nếu nhiệt độ nhà trồng lan thấp hơn 15°c, rễ cây ngừng hút chất dinh dưỡng, quá trình sinh trưởng ngừng lại, thậm chí là bị lạnh hại làm cho rụng nụ và hoa hoặc khiến cho cánh hoa xuất hiện các đốm nhỏ ảnh hưởng đến vẻ đẹp của hoa. Giai đoạn phân hóa hoa đòi hỏi phải có sự cách biệt khá cao về độ chênh lệch nhiệt độ ngày/đêm, nhiệt độ ban ngày thích hợp nhất là 25°c, ban đêm 18-20°c, kéo dài 3-6 tuần rất có lợi cho sự phân hóa hoa lan.

Thử nghiệm nghiên cứu thực vật cho thấy sự cải thiện của hoa Hồ điệp dưới quang phổ rộng

Các mùa khác nhau, lượng nước tưới cũng khác nhau. Các giá thể trồng khác nhau thì lượng nước tưới cùng khác nhau. Do lá của lan Hồ Điệp khá dày lượng nước chứa trong lá khá nhiều nên lan Hồ Điệp chịu hạn tốt. Mùa xuân độ ẩm không khí cao nên cách 3 – 7 ngày tưới nước cho lan hồ điệp một lần: mùa hè, thu, nhiệt độ không khí cao, lượng nước bốc hơi mạnh, thông thường cách 1 – 2 ngày tưới đẫm nước một lần; còn mùa đông nhiệt đô thấp, ẩm độ không khí cũng thấp, để đảm bảo những điều kiện nhất định về ẩm độ đồng thời tránh cho lá tích nước, nếu lá tích nuớc sẽ làm cho lá bị lạnh hại. Vì thế thông thường vào lúc sau 10 giờ sáng và trước 15 giờ chiều thì tưới nước. Nếu điều kiện cho phép sau khi tưới nước nên để cho cây được thoáng khí thông gió để cho nước đọng trên mặt lá bị bay hơi hết sẽ giảm sự phát sinh của bệnh hại.

Nguyên tắc tưới nước: Giá thể giữ ở mức lúc khô lúc ướt, nếu thấy giá thể khô thì tưới nước và tưới ướt đẫm. Lan Hồ điệp là loài lan có rễ buông trong không khí nên độ thông thoáng của hệ rễ sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây. Khi dùng rêu làm giá thể trồng, nếu nước đọng trong rêu lâu ngày thì nước sẽ lấp đầy các khe trống, không khí ở các lỗ trống trong giá thể bị nước đẩy đi hết mà không khí bên ngoài cũng không vào được dẫn đến cây bị thiếu ôxy làm cho rễ không hô hấp được bình thường, các quá trình sinh lý giảm, rễ cây không thể hút nước và chất dinh dưỡng. Đồng thời do giá thể không đủ ôxy nên những vi sinh vật háo khí có chức năng phân hủy chất hữu cơ không thể hoạt động được bình thường, ảnh hưởng đến việc cung cấp các chất dinh dưỡng, làm cho các vi sinh vật yếm khí sinh sôi nảy nở, tăng độ chua của giá thể, tạo ra một số axit như HSO4; NH4… khiến cho rễ bị đầu độc. Trong quá trình trồng lan Hồ điệp hay gặp phải hiện tượng giá thể bị chua có mùi hôi thối, chính là vì giá thể bị quá ướt lâu ngày tạo thành.

Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của lan Hồ điệp, cần bón N,P,K với tỷ lệ cao (30-10-10) hoặc tỷ lệ cao (20-10-20). Còn thời kỳ sinh trưởng sinh sản, cần bón ít phân N tăng phân P, K (tỷ lệ 10-30-20). Trước khi xử lý thúc ra hoa, phun thêm KH2PO4 có lợi cho việc hình thành và phát triển của chồi hoa, làm cho cành hoa to mập, nên bón phân cho lan dưới dạng dung dịch là chủ yếu, nồng độ là 0,05 – 0,1% để phun, cách 7-10 ngày phun 1 lần.

Một số giống lan Hồ điệp

Hoa lan hồ điệp Phalaenopsis sumatrana

Hoa lan hồ điệp Phalaenopsis violacea

Hoa lan hồ điệp Phalaenopsis hieroglyphica

Hoa lan hồ điệp Phalaenopsis schilleriana

Hoa lan hồ điệp Phalaenopsis bastianii

Hoa lan hồ điệp Phalaenopsis gibbosa

Cách Trồng Lan Hồ Điệp Phalaenopsis

Cách trồng lan Hồ Điệp Phalaenopsis Blume, 1825 Họ phụ Vandoideae Tông Vandeae.

Lan Hồ điệp có tên khoa học là Phalaenopsis là loài hoa lan có hoa lớn, đẹp, bền. Giống Phalaenopsis gồm 21 loài lan phát sinh, ưa nóng có ở bán đảo Mã Lai, Indonexia, Philippin, các tỉnh phía Đông Ấn Độ và Châu úc.

Lan Hồ điệp dược khám phá vào năm 1750, đầu tiên được ông Rumphius xác định dưới tên là Angraecum album. Đến năm 1753, Linné đổi lại là Epidendrum amabile và 1825, Blume, một nhà thực vật Hà Lan định danh một lần nữa là Phalaenopsis amabilis Bl., và tên đó được dùng cho đến ngày nay.

Đây là giống gồm các loài có hoa lớn đẹp, cuống ngắn gom lại thành những chùm lỏng lẻo: đơn hay phân nhánh. Lá đài và cánh hoa phẳng, trải rộng, thường thì lá đài giống và gần bằng cánh hoa. Môi liên tục, có góc trục kéo dài, vì mang một điểm nhú nhỏ ở gốc, phiến bên trải rộng hay hướng lên một ít, phiến giữa trải ra nguyên vẹn hay có 2 phiến dài, hẹp và có dĩa, những bộ phận phụ có dạng thay đổi : trụ bán nguyệt dày ở bên trên, thẳng hay hơi cong.

Các loại lan Hồ điệp cũng đã dược mô tả là : Phalaenopsis amabilis Bl, 1825. p, amboinensis J.J. sm, 1911. p. aphrodite Rchb, f, 1862. p. cochlearis Holttum, 1964.

P. juscata Rchb, f, 1874. p. cornu-cervi (Breda) Bl, & Rchb, f, 1960. p. equestris (Schauer) Rchb, f, 1849. P. fasciata Schb, f, 1874. p. gigantea J.J, Sm, 1909. p, hieroglyphica (Rchb, f) Sweet, 1968. p. lueddenưmiana Rchb, f, 1865. p. Undent Loher, 1895. P. mannii Rchb, f, 1871. p. ìnariae Burb, ex Warner & Williams, 1883. p. parishü Rehb, f, 1865. p. pulchra (Rchb, f) Sweet, 1968. p. reichenbachiana Rchb, f, & Sander, 1882. p. schiUeriana Rchb, f, 1860. p. stuartiana Rchb, f, 1881. p. sumatrana Korth & Rehb, f, 1860. p. tetraspis Tchb. f, 1874. p. violacea Witte, 1860.

Và vô số loài lan Hồ điệp lại đã được lai tạo.

Người Tây phương cho rằng Hồ điệp là loài lan thông dụng và dễ trồng nhất cho những người mới bất đầu chơi lan vì chúng dễ ra hoa, mùa hoa kéo dài, nhiều màu sắc, chịu đựng cao với ánh sáng yếu. Với vẻ đẹp khó tin, chúng là phần thưởng cho những người trồng lan kinh nghiệm. Người Việt Nam thì ngược lại, dù là nhà vườn có nhiều năm kinh nghiệm đều quan niệm rằng đây là giống khó trồng nhất trong họ lan. Quê hương của lan Hồ điệp là các nước của vùng Đông Nam Á, rừng Việt Nam không có loài Phalaenopsis amabũis, chỉ có 5 loài tương tự được biết là Phalaenopsis mannii, Phalaenopsis gibbosa, Phalaenopsis lobbi, Phataenopsis fuscata và Phalaenopsis cornu-cervi. Tuy nhiên không thấy chúng được trồng phổ biến. Căn cứ vào dữ kiện trên có thể kết luận rằng, điều kiện khí hậu Việt Nam rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của lan Hồ điệp. Do đó tìm những nguyên nhân để giải thích sự thất bại của việc trồng lan Hồ điệp ở Việt Nam là điều phải suy nghĩ thận trọng. Vì đây là sơ cở cho việc trồng thành công loài lan Hồ điệp trong tương lai.

Theo chúng tôi ở những nước phương Tây, tất cả các loài lan đều được trồng trong nhà kính, các yếu tố về khí hậu là lý tưởng, điều kiện vệ sinh được thực hiện một cách nghiêm túc, dinh dưỡng gồm những chất vô cơ không chứa những mầm gây bệnh. Trong khi ở Việt Nam, qui trình trồng các loại lan chưa được phổ cập, kiến thức hiểu biết về sinh học chưa sâu, cộng với điều kiện nóng ẩm của xứ nhiệt đới là môi trường phát triển thích hợp của vô số mầm bệnh của nấm và virut, những cơn mưa nặng hạt rơi thẳng xuống lá và đọt non. Phân hữu cơ cũng là ổ bệnh với các bào tử nấm hại đồng thời lại thiếu thốn các loại thuốc trừ rêu.

Chúng tôi hy vọng rằng, sau khi tìm hiểu và thử nghiệm, bạn sẽ đồng ý với chúng tôi về ý niệm của người phương Tây : “Hồ điệp là loại lan dễ trồng nhất và nếu dinh dưỡng đúng mức khi trưởng thành dường như cây sẽ ra hoa quanh năm”.

1. Nhiệt độ và độ ẩm:

Hồ điệp là một loại lan của vùng nhiệt đới mà sự tăng trưởng của chúng chịu ảnh hưởng của 2 mùa nắng mưa rõ rệt. Tuy nhiên Hồ điệp chỉ xuất hiện ở các vùng rừng ẩm hoặc ven suối. Không có sự biến động đáng kể về ẩm độ giữa mùa mưa và mùa khô nơi Hồ điệp sinh sống, vì thế cây lan Hồ điệp không có mùa nghỉ, mặc dù do sự bất lợi về thời tiết trong mùa khô. Cây Hồ điệp có tăng trưởng chậm hơn chút ít so với mùa mưa trong điều kiện tự nhiên. Nhiệt độ lý tưởng tối thiểu từ 22°C- 25°C vào ban ngày và 18°C vào ban đêm. Tuy nhiên Hồ điệp là loài lan chịu nóng hơn đa số loài khác, do đó nó cũng có thể tăng trưởng khá tốt ở bất cứ nơi nào có nhiệt độ cao hơn tối đa 35°c vào ban ngày và 25°C vào ban đêm. Điều lưu ý là nhiệt độ tối thiểu của ngày và đêm là các giới hạn quan trọng của lan Hồ điệp: Theo nghiên cứu của De Vries (1953), cây Phalaenopsis schilleriana ở Indonesia chỉ trổ hoa khi nhiệt độ ban đêm xuống dưới 21°C. Theo kết quả báo cáo của bà Trần Thanh Vân (1974), 2 loài Phalaenopsis amabilìs và p. schillerìana dưới một năm tuổi trổ hoa trong khí hậu dài với điều kiện nhiệt độ 23°c vào ban ngày và 17°C vào ban đêm.

Ẩm dộ tối thiểu cần thiết là 60% với điều kiện ẩm độ này đất nước ta đủ thỏa mãn với những yêu cầu tốt nhất vì đây là ẩm độ của những ngày thấp nhất trong mùa khô.

2. Ánh sáng:

Đây là loài lan có độ biến thiên khá rộng về ánh sáng, khoảng 5.000-15.000 lm/m2, ánh sáng hữu hiệu cho loài này là 30%. Vì thế với giàn che có độ che sáng 70% là thích hợp. Đây là loài lan chịu được ánh sáng yếu, nhưng thực tế nhu cầu về ánh sáng của chúng cao hơn nhiều, vì thế không nên dặt lan Hồ điệp vào chỗ quá râm mát. Ánh sáng rất cần thiết cho sự sinh trưởng và trổ hoa. Hồ điệp với bộ lá màu xanh đậm chưa phái là lý tưởng cho việc ra hoa, hơn nữa cây trồng trong điều kiện này có khả năng kháng bệnh kém. Cây lan được đặt nơi có ánh sáng khuyếch tán vừa phải với bộ lá màu xanh có ánh nhẹ màu vàng là tốt nhất.

Ở Việt Nam, nếu cây lan Hồ điệp được trồng với 12 giờ chiếu sáng trong ngày, trong đó khoảng 1-2 giờ cây nhận được ánh sáng trực tiếp, cây sẽ phát triển tốt.

ít trường hợp cây Hồ điệp bị chết vì nắng, trừ trường hợp bạn để cây lan phơi nắng trực tiếp suốt quang kỳ 12 giờ chiếu sáng, cây sẽ bị những vết bỏng do cháy lá và đây là cửa ngõ cho sự xâm nhập của nấm bệnh và virut. Tốt nhất là tạo cho Hồ điệp một ánh sáng gần như khuyếch tán. Các loại tôn nhựa hoặc vải lưới ni- lông thưa được dùng với mục đích này quang kỳ 10-12 giờ chiếu sáng.

Nếu chỉ trồng với mục đích tiêu khiển có thể treo chúng ở mái hiên hoặc ban công nhà với điều kiện ánh sáng hoàn toàn khuyếch tán hoặc ánh sáng trực tiếp lên cây khoảng 2 giờ trong ngày cũng đạt được mục đích mong muốn.

3. Tưới nước:

Hồ điệp là loài đơn thân, không có giả hành nên không dự trữ nước, hơn nữa diện tích bốc hơi của bản lá khá lớn và chúng không có mùa nghỉ vì thế phải cung cấp cho chúng một lượng nước đầy đủ và thường xuyên trong suốt năm. Trong mùa mưa mỗi ngày phải tưới cho chúng 2 lần, trừ những ngày có mưa, một lần vào 9 giờ sáng, một lần vào 3 giờ chiều. Tưới như vậy sẽ đảm bảo cây khô ráo khi trời tối vì đọng nước ở nách lá suốt dêm có thể gây ra sự thối rữa. Vào mùa nắng nên tưới cho chúng 1 ngày 3 lần.

Điều kiện thoát nước là tối quan trọng. Hồ điệp không thể chịu được một độ ẩm lắng đọng nhất là ban đêm, vì rất dễ tạo điều kiện cho bệnh thối rữa phát triển. Tốt nhất cứ ba ngày ta nên pha Dithane M45, Maneb, Captan vào trong nước tưới với nồng độ 1/400 để ngừa chứng bệnh nói trên.

Nên nhớ, Hồ điệp là loài lan với giá thể và nước tưới có pH khá thấp (pH=5,2) vì thế phải dùng axít photphoric để giảm độ pH của nước xuống.

Ở nước ta, vào mùa mưa Hồ điệp tăng trưởng mạnh hơn, nhưng những giọt mưa nặng hạt cũng không kém phần nguy hiểm vì thế đa số các loại Hồ điệp bị chết do những cơn mưa đầu mùa. Đây cũng là một hình thức tưới của thiên nhiên mà ta không kiểm soát được. Do đó để ngừa tình trạng trên, mái giàn che Hồ điệp nên dùng những tấm tôn nhựa xanh, như vậy sẽ loại trừ những trận mưa không cẫn thiết và tạo được những tia sáng khuyếch tán rất lý tưởng.

Vào mùa khô, ta vẫn duy trì mức độ tưới đều đặn như trong mùa mưa, vì lúc này ẩm độ trong không khí giảm xuống rõ rệt. Do đó, sự tăng số lần tưới nhằm mục đích tạo cho cây tăng trưởng liên tục. Nếu cây có trạng thái thiếu nước, ủ rũ bạn nên chuyên cây sang vị trí khác hoặc tăng số lần tưới lên. Một lần tưới bổ sung vào giữa trưa trong mùa khô rất thích hợp cho sự phát triển của Hồ điệp.

4. Bón phân:

Hồ điệp cần được bón phân trong suốt năm. Phân phải được bón định kỳ và đều đặn,.cứ 2 tuần 1 lần. Nếu có phân Stewart mầu xanh 6-30-30 được bón vào lần thứ tự và ta tiếp tục chu kỳ suốt cả năm. Hàm lượng được dùng cho mỗi lần là 1 muỗng cà phê cho 4 lít nưức.

Một số nhà trồng lan lại khuyên nên bón phân với chu kỳ ngắn hơn (1 tuần/1 lần) và hàm lượng giảm đi một nửa. Theo chúng tôi, tưới loăng trong nhiều lần sự hấp thụ của rễ tốt hơn vì bản thân cây Hồ điệp không dự trữ được chất dinh dưỡng.

Ngoài việc dùng phân vô cơ, ta có thể sử dụng thêm các loại phân hữu cơ hỗn hợp với nồng độ loãng có pha thêm thuốc ngừa nấm, tưới xen kẽ với loại phân vô cơ trên (hay phân vô cơ tự pha lây như đã trình bày ở phần 9).

Trong quá trình sinh trưởng, nếu bạn nhận thấy bộ rễ của lan chưa hoàn thiện, bạn có thể dùng một số kích thích tố để gây sự mọc rễ như 2, 4D; ANA; nhưng tốt nhât là dùng ANA vì ít độc cho cây có thể 2 đến 3 lần trong năm với nồng độ 1 phần triệu (ppm).

5. Sự thông gió:

So với các loài lan khác, sự thông gió ở lan Hồ điệp là tối cần thiết. Đây cũng là một yếu tố có liên hệ đến các bệnh thối rữa thường gặp ở loài lan này. Sự thông gió càng lớn cây càng ít bệnh vì nó giúp cây mau khô sau khi tưới. Tuy nhiên, một sự thông gió quá mạnh dễ làm cho cây mất nước và chuồn lá. Gió với tốc độ 10-15km/giờ tương đương với cấp số 3 và 4 của Beaufort là tốt nhất. Do đó tùy nơi trồng với tốc độ gió như thế nào ta phải cấu tạo giá thể cho hợp lý. Thường cách trồng Hồ điệp tương tự như một số giống của loài đơn thân như Vanda, Rhynchostylis, Aerides vì thế nếu gió với cấp 6 trở lên, giá thể phải bít kín để thỏa mãn số lượng nước bốc hơi quá lớn, còn ngược lại, phải thật thoáng vì nếu không giá thể là ổ xuất phát các mầm bệnh nguy hiểm.

6. Chậu, giá thể, cách trồng:

Một cách trồng chung nhất cho các loại đơn thân là chậu thật thoáng, càng thoáng càng tốt, có thể đến mức cực đoan chỉ dùng chậu như là giá thể duy nhất, tuy nhiên chỉ áp dụng cho nơi nào điều kiện ẩm độ ổn định, sự thông gió không đổi vầ nhất là, tiểu khí hậu thật điều hòa. Do đó chậu phải thật sạch, không có dấu vết của bất kỳ một loài rêu nào bám trên thành chậu. Thường các nhà trồng lan dùng than, gạch, dớn làm giá thể cho Hồ điệp. Theo chúng tôi, chỉ vài cục than hoặc vài miếng ngói cong là đủ. Với cách trồng này, khi cây đã thích nghi sẽ phát triển rất mạnh trong tương lai và trong chậu hình như không có một cái rễ nào bị thối.

Trong thời gian cứ 2 năm một lần ta nên thay chậu cho Hồ điệp, nếu chúng quá mau lớn có thể rút ngắn thời gian này. Biểu hiện của sự thay chậu là kích thước mất cân đối giữa cây và chậu, chậu bị bể, giá thể bị hư hao. Có thể thay chậu một cách đơn giản bằng cách đập bỏ những phần chậu cũ có rl bám hoặc để nguyên chậu cũ vào chậu mới lớn hơn. Nếu muốn tiết kiệm chậu, ta có thể nhúng vào dung dịch hỗn hợp nước với một loại thuốc ngừa rêu. Ví dụ Consan 20 (vài giọt trong 1 lít). Chỉ trong vòng 3 phút rễ sẽ tróc ra, ta sẽ nhặt cây và trồng vào một chậu mới.

Điều cần nhớ khi cây được trồng lại phải được buộc thật chặt và tưới ngay bằng dung địch Bi+ANA. Sau đó để cây vào chỗ râm mát, khi cây ra rễ đặt cây vào vị trí bình thường và lúc bấy giờ mới đặt giá thể vào chậu. Bạn đừng lo lắng, việc thay chậu Hồ điệp ít khi gây ra “xốc” như Cattleya.

7. Cách nhân giống lan Hồ điệp:

Ngoài phương pháp gieo hạt và cây mô không được đề cập ở đây. Đối với Loài lan Hồ điệp có 3 cách nhân giống: phương pháp cơ học, phương pháp kích thích tố, và phương pháp tạo cây con trên trục phát hoa cũ.

+ Phương pháp cơ học :

Đây là phương pháp dễ dàng nhất. Khi cây đạt một kích thước mong muốn, ta sẽ cắt ngọn với một ít rễ đem trồng vào chậu mới, phần gốc còn lại sau một thời gian sẽ mọc lên vài ba chồi nữa. Nên nhớ là cây phải được cắt bằng kéo cắt cành đã được khử trùng và sau đó phải trét Vaseline có trộn Zineb, sơn, hoặc vôi vào vết cắt để tránh sự nhiễm trùng và cuối cùng ta làm những động tác tiếp tục như cây thay chậu.

Một phương pháp khác được đề cập đến, tuy đơn giản nhưng có hiệu quả hơn. Dây đồng là dụng cụ duy nhất dùng cho công tác này, được buộc vào thân cây và xiết chặt, vì thế mạch dẫn nhựa bị ức chế là nguyên nhân tạo sự kích thích cây mọc chồi mới. Khi chồi nhú ra khỏi thân, ta gỡ dây dồng ra, cây con sẽ lớn dần. Tốt nhất là đợi cây con phát triển thành thục và mọc rễ ta sẽ cắt cây con lìa khỏi thân cây mẹ. Tuyệt đối đừng bao giờ cắt ngọn cây mẹ để phần gốc còn lại nuôi dưỡng cây con, vì nó sẽ mắc phải những khuyết điểm như phương pháp trên.

Với phương pháp này ta sẽ có cây con mới nhưng sức khỏe cây mẹ vẫn bình thường, cây không bị sốc bảo đảm sự ra hoa trong mùa kế tiếp.

+ Phương pháp kích thích tố :

Một vài loại kích thích tố được dùng có hiệu quả rõ rệt và nhanh chóng đối với sự mọc chồi của các loài lan Hồ điệp. Với dung dịch kích thích tố pha sẵn phun sương vào lá và rễ, chỉ 1 tháng sau có dấu hiệu của sự mọc chồi. Có thể phun 2 lần cách nhau 5 ngày sẽ có kết quả chắc chắn. Chất được dùng là CytoKinin, với nồng độ 5 phần triệu (ppm).

+ Phương pháp tạo cây con trên phát hoa cũ (Phương pháp Griesbạch).

Sau khi cây Hồ điệp trổ hoa xong, cắt bỏ phần ngọn của phát hoa chỉ chừa lại 3-4 mắt phía gốc rồi bôi lanolin có trộn 50mg/ml acid Cinnamic + 5mg/ml 6- Benzyl amino-purine. Sau 4-8 tuần lễ, cây con sẽ mọc ở vị trí mỗi mắt và rễ sẽ tạo lập khi cây con lớn dần. Lúc này có thể cắt bỏ phát hoa và đem cây con trồng trong chậu,

8. Sâu bệnh và các vấn đề khác:

Phải lưu ý những biểu hiện của bệnh thối rữa xuất hiện trên cây, vì bệnh này phát triển rất nhanh chóng, có thể giết chết cây chớp nhoáng trong vài ngày. Nếu chỉ thây trên lá xuất hiện những chỗ đậm màu ta phải phun thuốc ngay. Nếu lá và rễ đã bị thối, ta phải dùng kéo hoặc dao đã khử trùng cắt xa chỗ bị bệnh, nếu cần ta có thề cắt bỏ cả nguyên lá hoặc rễ, vết cắt phải được khử trùng bằng Vaseline trộn Zineb và nên nhớ không dùng kéo này một lần nữa: để cắt một cây lan nào khác, nếu nó chưa được khử trùng trở lại. Cuối cùng ta phải cách ly cây bệnh vì chúng lan truyền rất nhanh chóng.

Khi cây đã có trục phát hoa không nên thay đổi vị trí, vì như thế dễ làm nụ hoa bị rụng. Sự thiếu ẩm độ, sự hấp nắng, sử dụng phân bón quá độ cũng làm cho nụ hoa vàng ra và quăn lại. Khi hoa đã tàn, ta có thể cắt trục phát hoa đến mắt thứ tư (chừa lại 4 mắt), các mất này thường cho ra các chồi bên và có thể ra hoa vào mùa nắng.

Hồ điệp vẫn bị một số loài côn trùng cắn phá. Loài mạc, rệp nhỏ đến nỗi mắt thường không phân biệt được, nếu tá nhìn mặt trên lá màu xanh mướt có lốm đốm màu rỉ sét, sần sùi mặt trên và dưới – nhiều người lầm lẫn cây bị nhiễm nấm hay virut, Sâu và bệnh là 2 lãnh vực khác nhau, nếu lầm lẫn sẽ không trị liệu thích đáng. Với kính lúp có độ mạnh, ta sẽ thấy được những con côn trùng màu hơi đỏ, nhỏ xíu. Ngoài ra một loài rệp đốm và vảy u với kích thước lớn hơn cũng gây ra một tác hại đáng kể. Dùng Serpa với nồng độ nửa muỗng canh cho 4 lít nước, kết quả sẽ chắc chắn.

Tưới nước trà loãng cho lan Hồ điệp hàng ngày, ngoài tác động kích thích vì nó có chất cafein, nó còn có tác dụng để diệt những mầm khuẩn bệnh do chất tanin trong nước trà.