Xem Nhiều 12/2022 #️ Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Khánh Hòa / 2023 # Top 12 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 12/2022 # Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Khánh Hòa / 2023 # Top 12 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Khánh Hòa / 2023 mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thông báo tình hình sinh vật gây hại 7 ngày (từ ngày 02 tháng 9 đến ngày 08 tháng 9 năm 2021)

08:08 – 09/09/2021

Thời tiết tỉnh Khánh Hòa mây thay đổi, chiếu tối có mưa vừa đến mưa to, ngày 7/9 có mưa to trên địa bàn toàn tỉnh. Cây lúa và các cây trồng khác sinh trưởng và phát triển bình thường riêng ở huyện Diên Khánh mưa to gió lớn đã làm 5 ha lúa đang ngậm sữa – chín bị đổ ngã.

Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn / 2023

Phân hữu cơ

Nguồn phân hữu cơ có từ xác bã thực vật và phân gia súc, cần ủ hoai trước khi dùng để diệt hạt cỏ dại và mầm bệnh.

Tác dụng phân hữu cơ là tăng độ phì nhiêu và làm xốp đất, giữ phân hoá học để cung cấp dần cho cây, giúp bộ rễ phát triển tốt.

Phân đạm

Cây lúa cần một lượng đạm trong thời kỳ đầu (khoảng 40 ngày kể từ sau sạ) để tạo số bông tối đa, trong thời kỳ làm đòng để tăng số hạt chắc và trong thời kỳ trổ cho hạt mẩy đều.

Thiếu đạm làm cho lúa trở nên vàng đến xanh nhạt, cây lùn lại và thẳng đứng kém nở bụi, mau già cỗi, lá hẹp và vàng rụi, ít chồi, bông ngắn.

Thừa đạm cây ra nhiều lá, lúa lốp làm cho cây lúa dễ đổ ngã; kéo dài thời gian sinh trưởng, trổ chậm, nhiều cỏ dại và nhiễm sâu bệnh (bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, rầy, cào cào, muỗi hành và sâu đục thân) cũng dẫn đến giảm năng suất lúa.

Các loại phân đạm

– Đất lúa cao sản bị ngập nước thường xuyên nên các loại phân có gốc Nitrat bón xuống lúa ngập nước là không thích hợp, vì dễ bị mất đạm do quá trình phản nitrát hoá.

– Đất phèn bị ngộ độc sunfát nên tránh sử dụng phân có gốc S04-.

– Đất mặn tránh dùng phân có gốc Cl.

– Đất kiềm đạm rất dễ bay hơi, nên hạn chế dùng phân Ure cho chân đất này.

Kỹ thuật bón phân đạm

– Bón phân đầy đủ và cân đối tuỳ theo giống lúa điều kiện đất đai, mùa vụ của từng vùng. Có thể áp dụng phương pháp bón phân theo màu lá lúa dựa vào bảng so màu lá lúa hoặc bón phân theo cách “Nặng đầu nhẹ cuối”, nghĩa là tập trung bón vào các giai đoạn đầu, đặc biệt là lúc nẩy chồi để có nhiều bông và lúc làm đòng để có thể có nhiều hạt trên bông.

– Bón đạm cho lúa trồng trên đất thịt thường chỉ 2 – 3 lần nhưng trên đất nhẹ, đất bạc màu phải bón 4-5 lần thì hiệu quả mới cao.

– Đối với lúa cao sản ngắn ngày cần bón đạm

Thời kỳ lúa trổ nếu thấy lúa xấu cần bổ sung thêm đạm để tăng số hạt chắc và giúp cho hạt mẩy đều.

Nếu thấy lúa tốt, nên ngưng bón đạm sau khi trổ để tránh lãng phí đạm và hạn chế sâu bệnh phát triển.

Phân lân

Chất lân là thành phần chính của nhân tế bào, giúp cây lúa có bộ rễ phát triển mạnh và còn có có tác dụng cải tạo chất phèn.

Tác dụng của Lân

– Giúp cho cây tăng trưởng nhanh nhờ đâm rễ nhiều, hút được nhiều chất dinh dưỡng để nuôi cây.

– Thúc đẩy quá trình trổ và chín tập trung và chín sớm.

– Tăng cường nẩy chồi mạnh, giúp cây phục hồi nhanh sau khi gặp những điều kiện bất lợi.

– Giúp cây hấp thụ phân đạm tốt hơn. Ngoài ra lân còn giúp cho cây lúa phát triển tốt ở đất phèn nên đất phèn rất cần phân lân.

– Lá lúa thiếu lân thường có màu xanh đậm, mọc thẳng hơn lá bình thường. Có những giống lúa thiếu lân, thì lá già trở nên màu vàng cam hoặc hơi tím rồi chết.

– Sự thiếu lân thường xảy ra trên đất chua, đất nhiễm phèn, đất than bùn và đất kiềm. Các loại phân lân

– Phân lân DAP có hiệu lực nhanh nhưng lưu tồn rất thấp.

– Phân lân nung chảy hay phân apatit hiệu lục chậm nhưng lưu tồn có thể kéo dài tới 2-3 vụ.

Kỹ thuật bón phân lân

– Khắc phục hiện tượng thiếu lân bằng cách bón các loại phân có hàm lượng lân dễ tiêu như DAP (18:46:0) hay NPK (16-16-8).

– Bón lót lân để ém phèn ngay từ đầu và cung cấp lân cho cây lúa hè thu phát triển tốt hoặc bón hết lượng phân vào đợt 1 và đợt 2: Đợt 1 bón vào giai đoạn bén rễ, khoảng 10 ngày sau sạ. Đợt 2 bón vào thời kỳ nẩy chồi, khoảng 22-25 ngày sau sạ.

– Đất phù sa bón ít hơn đất phèn; vụ đông xuân bón ít hơn vụ hè thu. Lượng bón từ 100 – 400kg/ha tùy độ phèn của đất.

Phân kali

Kali rất cần cho lúa cao sản thâm canh, kali có tác dụng hạn chế thiệt hại do sâu bệnh, đổ ngã và giúp cây hút các chất dinh dưỡng được tốt hơn.

Tác dụng của kali

– Tăng kích thước hạt và trọng lượng của hạt, tăng phẩm chất gạo.

– Giúp cây cứng cáp hơn, chống đổ lốp, chịu hạn và chống chịu sâu bệnh.

– Thiếu kali làm lá khô dần từ đọt vào, cây sinh trưởng còi cọc, hạn chế nảy chồi. Cây lùn, lá xòe và lá có màu xanh đậm. Những lá phía dưới vàng mép, bắt đầu từ đọt vào và khô dần, sau đó chuyển sang màu nâu nhạt. Đôi khi xuất hiện nhiều đốm nâu trên các lá cờ có màu xanh đậm. Bông dài ốm yếu và hạt lúa sẽ nhỏ hơn bình thường.

Kỹ thuật bón phân kali

– Bón kali ở liều lượng thấp (30 kg K 2 0/ha) thì hiệu lực thể hiện khô rõ, vì bón ở lượng này, trong vòng 1-2 tuần lễ đất sẽ giữ kali lai hết, cây không thể cạnh tranh lại được.

– Bón nhiều kali quá đôi khi không đôi khi không có hiệu quả kinh tế, cho nên cần phối hợp bón kali qua lá ở giai đoạn cuối, để giảm lượng phân kali đầu tư mới cho hiệu quả cao.

Loại phân và lượng phân bón cho 1 ha lúa vụ Hè Thu năm 2008

Tùy theo giống lúa, chân đất, mùa vụ, chế độ nước trong ruộng, tình hình sâu bệnh, cỏ dại,…có thể tăng giảm lượng phân cho phù hợp.

Sử dụng phân đơn (Ure, super lân, KCl) kg/ha

– Trước sạ: Bón lót phân hữu cơ + 100- 400kg super lân.

– Bón thúc lần 1 (8-10 ngày sau sạ ): 50kg urê.

– Bón thúc lần 2 (18-20 ngày sau sạ): 60kg urê.

– Bón thúc lần 3 (35 ngày sau sạ: Sử dụng bảng so màu lá lúa và áp dụng kỹ thuật không ngày, không số: lúa vàng tranh: 50kg urê + 50kg kali/ha, lúa xanh đậm: 100kg kali/ha, lúa xanh lợt: 25kg urê + 75 kg kali/ha.

Sử dụng phân hỗn hợp (NPK 20-10-10, NPK 16-16-8)

– Trước sạ: Bón lót phân hữu cơ + 100- 200 kg super lân.

– Thúc lần 1 (8-10 ngày sau sạ): 120kg NPK (20-10-10) hoặc 150 kg NPK (16-16-8).

– Thúc lần 2 (18-20 ngày sau sạ): 140kg NPK (20-10-10) hoặc 170 kg NPK (16-16-8).

– Thúc lần 3 (bón đón đòng 35 – 40 ngày sau sạ): 50 kg urê.

Một số điều cần lưu ý khi bón phân

– Phân DAP giá đang quá cao, nên thay thế bằng phân lân + urê (3 bao phân lân + 20 kg urê = 1 bao DAP) và tăng phun xịt phân bón lá là giải pháp có hiệu quả cao trong tình hình hiện nay.

– Nên bón phân đợt 1 sớm từ 7 – 10 ngày sau sạ (NSS) và bón nhiều lân, nhiều đạm vì cây lúa Hè Thu mọc trong điều kiện còn gốc rạ của lúa Đông Xuân, trời nắng nóng, dễ bị xì phèn, dễ bị ngộ độc hữu cơ là rất cần bón nặng đầu để giúp cây lúa ra rễ, đẻ nhánh thuận lợi để đạt năng suất cao vụ Hè Thu.

Bón trễ (đợt 1) làm cho cây lúa ngay từ đầu rất cần lân mà không có đã ảnh hưởng đến sự phát triển bộ rễ, khó có thể cho năng suất cao về sau. Bón trễ (đợt 2) làm cây lúa xanh lâu (do còn phân) ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển sang làm đòng của cây lúa (quy luật 2 xanh, 2 vàng) và cây lúa sẽ sinh nhiều chồi vô hiệu về sau, là nơi phát sinh nhiều sâu bệnh.

– Giữ mực nước ruộng hợp lý khi bón phân

+ Giữ mực nước ruộng 2-3 cm khi bón phân và không cho nước ra vô ruộng trong thời gian ít nhất 3 ngày.

+ Mực nước quá sâu: đạm hoà tan trong nước nhiều dễ bốc hơi, đạm bị pha loãng đi, rễ cây ít do thiếu ánh sang nên khi lượng đạm vào cây ít.

+ Ruộng bị khô hạn: đạm bị bốc hơi rất nhiều theo các kẻ đất nứt, rễ cây phát triển kém do thiếu nước – lượng đạm vào cây ít.

– Không bón phân khi lá lúa còn ướt

+ Hạt phân dính trên lá có thể gây cháy lá.

+ Phân đạm hào tan vào nước dính trên lá sẽ bị bốc hơi mất.

– Không rải phân khi trời sắp mưa, phân có thể rửa trôi mất.

– Cần bón phân cân đối N-P-K; tránh bón nhiều N, thiếu P và K, cây lúa bị lốp, đổ, nhiều sâu, bệnh.

– Ruộng lúa Hè Thu dễ bị xì phèn, cần tăng cường bón vôi.

– Giữ ruộng sạch cỏ vì cỏ cạnh tranh phân với lúa vào tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển nên cần làm sạch cỏ trước khi bón phân./.

Sở Nông Nghiệp Và Pttt Hà Nội / 2023

Quy trình kỹ thuật này được áp dụng cho khu vực Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, trên chân đất sản xuất 2 vụ lúa.

Quy trình kỹ thuật này được áp dụng cho khu vực Trung du miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, trên chân đất sản xuất 2 vụ lúa.

1. Yêu cầu thời vụ:

Thời vụ trồng ngô đông trên đất 2 vụ lúa phù hợp nhất trong khoảng thời gian từ 15-25/9 dương lịch. Có thể kéo dài thời gian đến 05/10 dương lịch, nhưng phải trồng bằng bầu.

Tùy vào điều kiện khí hậu, thời tiết cụ thể từng năm, để ngô đạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao, hạn chế rủi ro… thì tùy theo từng giống để bố trí thời điểm gieo trồng thích hợp sao cho giai đoạn trỗ cờ, phun râu an toàn nhất trong khoảng thời gian từ 10-15/11 dương lịch.

2. Giống ngô:

Trong vụ đông, sử dụng các giống ngô có thời gian sinh trưởng từ 100-110 ngày. Ngoài ra, sử dụng các giống ngô đạt các tiêu chuẩn sau:

– Có bộ rễ chân kiềng khỏe, chống đổ ngã tốt.

– Chịu trồng được mật độ cao, có tán lá gọn.

– Khả năng kết hạt tốt. Có tiềm năng năng suất cao.

– Có khả năng: chịu hạn, lạnh và chống chịu sâu bệnh tốt.

Giới thiệu các giống ngô:

+ Giống ngô lai: VS36, NK4300, P4199, CP333, SSC557, SSC586, SSC131, NK6326, NK67, NK6654, NK4300, NK66, DK9901, DK9955, C919, CP3Q, CP555, LVN145, LVN4, LVN99, LVN45…

+ Các giống ngô thực phẩm khá đa dạng, gồm nhóm ngô nếp có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất cao, chất lượng tốt (MX2, MX4, MX6, MX10, VN2, Wax 44, Wax 48, Wax 50, Milky 36, Tím dẻo 926, Victory 924, HN88…), nhóm ngô đường (Sugar 75, Sugar 77, Hoa Trân 1357, Golden Sweteer 93…).

3. Sản xuất cây con bằng bầu cải tiến:

Ngoài biện pháp tra hạt trực tiếp trên luống trồng, thì sản xuất cây con bằng bầu cải tiến là biện pháp kỹ thuật tiên tiến nhằm giải quyết khâu thời vụ, đồng thời đảm bảo tỉ lệ sống cao; ngoài ra còn điều chỉnh được mật độ trồng, điều chỉnh hướng lá để cây ngô phát triển thuận lợi, cho năng suất cao trong vụ ngô đông.

Kỹ thuật:

– Hạt ngô được gieo trên khay xốp (có thể sử dụng loại khay 66-88 lỗ), giá thể gồm: rơm rạ ủ mục hoặc xơ dừa + phân hữu cơ vi sinh + đất bột theo tỉ lệ: 1:1:3. Sử dụng NPK (5.10.3) trộn với hỗn hợp giá thể trên với lượng 30g/1 khay.

– Sau khi gieo hạt, tưới nước giữ ẩm thường xuyên bằng ô-doa. Chọn nơi tiện chăm sóc, tránh ngập úng khi có mưa, nơi có đủ ánh sáng cho cây con phát triển để đặt khay bầu.

– Thời gian để ngô trong bầu tối đa từ 7-12 ngày. Không nên để quá 12 ngày, cây ngô sẽ cao vóng, yếu ớt.

 

 

Cây ngô con sản xuất bằng phương pháp làm bầu cải tiến (ảnh: Thu Hằng)

4. Chuẩn bị đất trồng ngô đông:

Đất trồng ngô đông, ngay khi thu hoạch lúa vụ trước cần dùng máy thu hoạch để cắt sát gốc rạ. Toàn bộ lượng rạ để lại ruộng dùng để che phủ đất (có tác dụng giảm lượng nước bốc hơi, giữ ẩm cho ruộng trồng, đồng thời hạn chế cỏ dại).

Ruộng trồng độ ẩm yêu cầu tốt nhất từ 85-90% (đi lún chân). Nếu ruộng khô cần tưới nước cho đủ ẩm, sau đó mới tiến hành trồng.

Cần tạo rãnh trên ruộng trồng bằng cách áp dụng máy cơ giới hóa sẽ giảm chi phí công lao động. Tùy thuộc điều kiện cụ thể ruộng trồng: nếu ruộng dễ thoát nước thì cứ 5-6 hàng tạo 1 rãnh; với ruộng khó thoát nước cứ 3-4 hàng tạo 1 rãnh thoát nước. Độ sâu của rãnh thoát từ 18-20 cm, bề mặt rãnh từ 15-20 cm.

5. Kỹ thuật trồng cây con ra ruộng:

– Mật độ: để đảm bảo năng suất cao, cần đảm bảo trồng ngô với mật độ từ 60.000 – 65.000 cây/ha (khoảng 2.200 – 2.350 cây/sào Bắc bộ).

– Khoảng cách: hàng cách hàng từ 60 – 65 cm, cây cách cây từ 22 – 24 cm.

– Cách đặt bầu cây trên luống theo kiểu nanh sấu và hướng đặt bầu theo hướng lá xòe ra 2 bên mép luống.

6. Phân bón

6.1. Liều lượng phân bón: Với mật độ trồng từ 60.000 – 65.000 cây/ha, đòi hỏi cần phải thâm canh tốt thì ruộng ngô mới đạt năng suất cao. Tuy nhiên, tùy theo từng loại đất khác nhau và tùy thực trạng ruộng trồng mà cân nhắc những công thức bón phân sau đây:

Các công thức

Lượng phân bón (kg/ha)

Ghi chú

Phân chuồng/ Hữu cơ sinh học

Urê

Lân supe

Kaliclorua

Công thức 1

350-420

500-600

160-200

Đất có độ phì tốt

Công thức 2

6.000-8.000

350-420

500-600

200-220

Đất có độ phì khá

Công thức 3

10.000

350-420

600-700

220-250

Độ phì kém đến trung bình

Ghi chú: Phân chuồng đã hoai mục. Nếu bón phân hữu cơ sinh học

thì lượng bón tương đương 1/10 lượng phân chuồng.

 

6.2. Phương pháp bón: Các đợt bón kết hợp với làm đất, xới xáo và làm cỏ theo các đợt bón sau đây:

Lượt bón

Thời điểm bón

Lượng bón

Ghi chú

Bón lót

Khi xới đất, lên luống trồng

Toàn bộ phân chuồng, phân lân supe + 1/3 lượng urê

Bón thúc lần 1

Khi ngô 5-6 lá

Bón 1/3 lượng urê + 1/2 lượng Kali clorua.

Bón thúc lần 2

Khi ngô 10-11 lá

Bón hết lượng phân còn lại

Khi ngô bắt đầu xoáy nõn

 7. Tưới và quản lý nước:

Trong suốt quá trình sinh trưởng phát triển, cây ngô luôn cần đảm bảo đủ ẩm, nhưng cũng không được để ruộng ngập nước sau mưa. Chú ý, trong giai đoạn đầu vụ ngô đông thường có những trận mưa lớn, nên cần có biện pháp thoát nước kịp thời, không để ruộng bị ngập quá 24 giờ (sẽ làm chết cây con và ruộng ngô sẽ sinh trưởng phát triển kém).

Đối với ruộng ngô có điều kiện tưới, thì trong suốt quá trình từ gieo trồng đến sau khi trỗ cờ 20 ngày, cây ngô cần bổ sung nước 5 – 7 lần. Ở những nơi điều kiện thủy lợi cho phép có thể duy trì mực nước thường xuyên trong rãnh từ 5 – 7 cm. Khi tưới nước cần kết hợp với các kỳ bón phân.

Trong điều kiện khô hạn giai đoạn mới trồng, nếu cây con có biểu hiện thiếu nước (lá nhỏ, quăn) cần phải tưới bổ sung nước ngay cho ruộng ngô.

8. Quản lý cỏ dại:

Trước khi đưa bầu ngô ra ruộng, có thể sử dụng thuốc trừ cỏ tiền nảy mầm để phun trừ. Thuốc hiện phổ biến trên thị trường hiện nay là Maizine 80WP. Liều lượng và cách phun: pha 2,5-3,0 kg thuốc cùng 400 lít nước phun cho 1 ha (khoảng 100 g pha với 14 lít nước phun cho 1 sào Bắc bộ).

Cũng có thể sử dụng thuốc trừ cỏ hậu này mầm Gramoxone 20SC để phun cho ruộng ngô có nhiều cỏ sau khi trồng, với liều lượng và cách pha như thuốc trừ cỏ Maizine 80WP. Tuy nhiên chú ý khi phun loại thuốc trừ cỏ này vì trên ruộng có cây ngô nên khi phun cần tránh phun vào cây ngô, tốt nhất là gắn phễu chụp để tránh thuốc dính vào cây ngô.

Nếu có điều kiện nhân lực, tốt nhất là làm cỏ bằng biện pháp thủ công, kết hợp xới xáo, bón phân thúc sẽ tốt hơn cho môi trường sản xuất./.

                                                                                                            Vũ Thị Thủy

                                                                                        Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

 

 

 

 

 

 

 

 

Triển Vọng Trong Nền Nông Nghiệp Không Dùng Đất / 2023

Khi nhu cầu trồng cây và canh tác nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu thị trường ngày một tăng cao, thì tình trạng con người phụ thuộc vào đất trở thành sức ép đối với môi trường. Bởi nhu cầu sử dụng phân bón tăng lên và nhu cầu bảo vệ cây trồng khỏi cỏ dại, sâu bệnh và các yếu tố khác trong quá trình canh tác. Để giải quyết vấn đề này thì đặt ra câu hỏi lớn cho phương án nền nông nghiệp không dùng đất.

Sức ép của nền nông nghiệp truyền thống, nền nông nghiệp dựa trên đất đến canh tác và môi trường

Để đáp ứng nhu cầu của người nông dân, các sản phẩm hóa chất nông nghiệp (phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật,….) đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi. Những chi phí trong canh tác nông nghiệp gia tăng cùng với những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tác động tiêu cực đến nông nghiệp, cũng như cho môi trường.

Sự ra đời của nền nông nghiệp không dùng đất.

Những thách thức đối với ngành nông nghiệp dựa trên đất đã dẫn đến việc phát minh ra nông nghiệp không có đất. Trồng thủy canh hay trồng trên giá thể khác là những phương pháp trồng trọt mà không cần dùng đến đất. Trong nông nghiệp không có đất, cây trồng được trồng trong các dung dịch dinh dưỡng (thủy canh) hay trồng trên những loại giá thể khác mà không trên trên mặt đất ( trồng cây trên giá thể). Cây sẽ được trồng trong nhà màng, nhà lưới hay ngoài cánh đồng mà không sử dụng đến lớp vỏ trái đất (lớp đất). Phương pháp trồng cây không dùng đất có thể trồng trong nhà hay nhà màng, nhà lưới giúp giảm nguy cơ sâu bệnh hại và ảnh hưởng của điều kiện thời tiết thay đổi thất thường.

Cho dù ctrồng cây bằng phương pháp nào, thì tất cả cây trồng đều cần các chất dinh dưỡng thiết yếu để sinh trưởng, phát triển, đơm hoa kết trái. Cây trồng đòi hỏi một môi trường phát triển bộ rễ của chúng và hấp thụ chất dinh dưỡng để lớn. Đó có thể là đất, hoặc các loại vật liệu trồng trọt khác, chỉ cần vật liệu đó cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cho cây trồng hấp thụ thông qua bộ rễ và phải thoáng khí để rễ thở.

Phát triển nền nông nghiệp không dùng đất

Nông nghiệp không dùng đất là một phương pháp trồng cây trong các giá thể (môi trường) như: nước (thủy canh) hay sử dụng đơn lẻ hoặc phối trộn các loại vật liệu xơ dừa, trấu hun, sỏi nhẹ và nhiều loại vật liệu khác sao cho phù hợp với từng loại cây trồng.

Agri sẽ giới thiệu cho các bạn về 2 phương pháp canh tác được áp dụng hiện nay:

Phương pháp thủy canh

Phương pháp trồng cây bằng giá thể (không trồng cây lên mặt đất)

Phương pháp thủy canh

Phương pháp thủy canh là phương pháp sử dụng nước có chứa khoáng chất để nuôi cây. Thành phần của các khoáng chất này phụ thuộc vào cây trồng đang canh tác. Lý tưởng nhất là các dung dịch khoáng chứa các cation và anion thiết yếu, cụ thể là magiê, canxi, kali, sunfat và nitrat.

Có nhiều phương pháp thủy canh khác nhau như: thủy canh tĩnh, thủy canh hồi lưu, khí canh,… Bên cạnh đó có nhiều loại giá thể để lựa chọn như xơ dừa , đá trân châu, vỏ cây, đất sét nung,…

Phương pháp trồng cây bằng giá thể (không trồng cây trực tiếp lên mặt đất)

Phương pháp này thường được sử dụng trong nhà màng, nhà lưới hay áp dụng cho vườn nhà, trên sân thượng. Phương pháp này thường được kết hợp với hệ thống tưới thông minh tiết kiệm, chủ yếu là phương pháp tưới nhỏ giọt. Cùng tùy vào từng loại cây trồng và từng điều kiện môi trường trồng khác nhau mà giá thể được điều chỉnh cho phù hợp. Giá thể phải tơi xốp, thoáng khí và giàu dinh dưỡng. Agri sẽ đưa ra cho bạn một số giá thể được sử dụng hiện nay:

Giá thể trồng rau tại vườn nhà

Nguyên liệu để làm giá thể trồng rau tại nhà thường là: Phân bò, trấu tươi, sơ dừa, nấm Trichoderma, vôi bột nông nghiệp, bánh dầu. Các loại phải được ủ hay xử lý trước khi trồng cây. Phân bò đã ủ, trấu, sơ dừa trộn lại là thành “đất” trồng rau sẽ có dinh dưỡng cao, rẻ hơn đất mua và đặc biệt là có trọng lượng nhẹ.​ Lượng giá thể để trồng rau ăn lá chỉ 5-7cm, cây ăn trái leo giàn 10-12cm (Chậu cho bầu, bí mướp từ 150l là phù hợp). Trong quá trình trồng, tưới phân cá hoặc bánh dầu, dịch chuối hoặc phân ủ từ thực phẩm thừa ở nhà bếp.

Giá thể trồng phục vụ sản xuất, kinh doanh trong nhà màng, nhà lưới hay nhà kính

Đối với giá thể trồng cây trong nhà màng, nhà lưới hay nhà kính để kinh doanh sản xuất phải được kiểm nghiệm và có kết quả kỹ lưỡng từ cơ quan chuyên môn. Từ đó, người nông dân hay nông trại áp dụng trên vườn của mình để đạt kết quả tốt, cây trồng phát triển tốt, năng suất cao, chất lượng sản phẩm cao.

Tùy vào mỗi loại cây trồng mà giá thể được sử dụng khác nhau, dựa trên kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm mà người trồng chọn lựa giá thể phù hợp với loại cây trồng canh tác. Cây được trồng trong bầu, trên luống hay máng trồng.

Giá thể sử dụng cho canh tác dưa lưới trong nhà màng

Giá thể được sử dụng là mụn xơ dừa phối trộn với phân hữu cơ (phân trùn quế, phân hữu cơ hoai mục,…) với tỷ lệ 70% mụn xơ dừa + 20% phân hữu cơ + 10% tro trấu. Mụn xơ dừa, trước khi trồng cần phải xử lý tanin. Giá thể phải đảm bảo độ sạch (không nhiễm sâu bệnh hại, vi sinh vật, cỏ dại), độ thông thoáng, không ép chặt và đồng thời cung cấp dinh dưỡng cho cây.

Giá thể sử dụng cho canh tác cà chua trong nhà màng

Sử dụng túi trồng cây 2 lớp (trong đen, ngoài trắng), kích thước 18x36cm. Giá thể gồm mụn dừa 70% (ngâm xả liên tục 7-10 ngày), trấu hun 10% (đổ đống, xả nước), phân trùn quế 20%. Trộn hỗn hợp rồi cho vào túi đóng bầu.

Giảm ô nhiễm môi trường do không sử dụng các hóa chất độc hại để tăng năng suất cây trồng và phun thuốc trừ sâu để diệt cỏ dại và sâu bệnh trên đồng ruộng.

Nông nghiệp không dùng đất là giải pháp lý tưởng trong các khu đô thị – nơi không gian quá hạn chế cho các khu vườn.

Năng suất từ ​​canh tác không dùng đất cao hơn đáng kể do kết quả của các hoạt động thâm canh và khả năng sản xuất liên tục quanh năm.

Sản phẩm an toàn cho người sử dụng, tăng giá trị sử dụng trên 1 đơn vị diện tích.

Phân bón được cung cấp đúng tỉ lệ và được dẫn theo hệ thống tưới giúp cây trồng dễ hấp thu. Tăng hiệu quả sử dụng phân bón.

Tạo được sản phẩm đạt an toàn, có độ tin cậy cao đối với người tiêu dùng. Giúp tăng khả năng thâm nhập thị trường, tăng hiệu quả cạnh tranh.

Phương pháp canh tác không dùng đất mang lại hiệu quả cao, cây trồng ít bị sâu bệnh năng suẩt tăng, chất lượng nông sản tăng. Đồng thời giảm thiếu ảnh hưởng xấu đến môi trường và hạn chế sử dụng các loại phân thuốc không thân thiện môi trường. Tuy nhiên, phương pháp này có chi phí đầu tư cao và cần có trình độ chuyên môn để thực hiện. Nhưng phương pháp này đặt ra một kỳ vọng mới cho người nông dân, cũng như cho nông nghiệp nước nhà.

Bạn đang xem bài viết Sở Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Khánh Hòa / 2023 trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!