Xem Nhiều 2/2023 #️ Magie Và Vai Trò Của Magie Dối Với Cây Trồng # Top 7 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 2/2023 # Magie Và Vai Trò Của Magie Dối Với Cây Trồng # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Magie Và Vai Trò Của Magie Dối Với Cây Trồng mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tên gọi chung của các loại phân cung cấp Mg2+ cho cây trồng

Độ dinh dưỡng của phân Magie được đánh giá bằng hàm lượng %MgO trong phân.

1. Tác dụng của Magie đối với cây trồng:

– Magiê (Mg) là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho thực vật, là thành phần quan trọng của clorophyll và đóng vai trò quan trọng trong quá trình quang hợp.

– Ở thực vật, Mg được hấp thụ ở dạng ion Mg2+. Giống như canxi (Ca2+), Mg tới các rễ cây do di chuyển theo trọng lượng và khuếch tán. Lượng Mg do các cây trồng hấp thụ thường ít hơn Ca hoặc K. Mg trong các phân tử clorophyll chiếm khoảng 10% tổng Mg ở lá. Hầu hết Mg ở cây trồng đều nằm trong nhựa cây và tế bào chất.

Magie trong diệp lục (phải) được ví như Sắt trong máu (trái)

– Mg được phân loại như một chất dinh dưỡng trung lượng. Mg thực hiện một số chức năng điều chỉnh, hóa sinh và sinh lý trong thực vật như: Hình thành clorophyll, kích hoạt của enzym, tổng hợp protein và hình thành nhiễm sắc thể, chuyển hóa hyđrat cacbon và vận chuyển năng lượng.

– Ngoài ra, Mg còn hoạt động như một chất xúc tác trong các phản ứng khử oxy hóa trong các mô thực vật. Nó cũng hỗ trợ hoạt động của sắt (Fe) và giúp các thực vật chống lại tác động có hại của quá trình thông khí kém. Bằng cách sử dụng một tác động tích cực dựa vào các màng tế bào và các màng thấm, Mg có thể làm tăng khả năng chống lại khô hạn và bệnh tật của cây trồng.

* Biểu hiện cây trồng thiếu Magie:

Thiếu magiê, thân lá èo uột, xuất hiện dải màu vàng ở phần thịt của các lá già trong khi hai bên gân chính vẫn còn xanh do diệp lục tố hình thành không đầy đủ, cây dễ bị sâu bệnh và khó nở hoa.

Biểu hiện thiếu Magie trên cây trồng

Triệu chứng đầu tiên là lá nhạt, sau đó gân lá chuyển vàng. Trong một số loại cây, có thể sẽ đốm đỏ hay màu tím trên lá.

Sự biểu hiện của triệu chứng phụ thuộc rất lớn vào cường độ ánh sáng mà lá được tiếp xúc. Cây trồng ít được tiếp xúc với ánh sáng sẽ dễ thấy các triệu chứng hơn.

Điều gì cản trở cây hút Mg?

Khi môi trường đất quá chua, hàm lượng Mg trao đổi giảm sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng hút Mg của cây. Khi đất chua thì nhôm di động (Al++) sẽ cao, cũng cản trở rất lớn đến hút Mg để tạo chất khô cho cây.

Ví dụ, cây ngô trồng trong môi trường đất chua, pH 4, có bổ sung 0,1 milimol nhôm, sau 23 ngày thân cây chỉ hút được 0,12% Mg, còn ở pH 6, thì cây hút đươc 0,28% Mg vào trong thân cây. Cũng chiều hướng như vậy, nhưng ở trong rễ thì ảnh hưởng này còn lớn hơn rất nhiều: Sau 23 ngày, trong rễ cây chỉ hút được 0,08% Mg ở pH 4, còn ở môi trường pH 6 và không có bổ sung 0,1 milimol nhôm thì rễ ngô hút được 0,47% Mg.

Như vậy, khi cây ngô trồng trong điều kiện đất chua nhiều thì sẽ rất ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất. Vì ngay cả phun phân bón lá có chứa Mg thì cây cũng hút được rất ít so với không phun Mg.

Còn trong đất lúa thì sao?

Tại Trung Quốc đã thực hiện nghiên cứu trên 6 nhóm đất có hàm lượng Mg trao đổi từ 15,5 ppm (pH 5,5), đến 51,4 ppm (pH5,6). Thí nghiệm bón bổ sung 18,75 kg Mg/ha cho lúa. Kết quả chỉ có 2 loại đất có hàm lượng Mg trao đổi là 15,5 và 23,0 ppm có năng suất lúa tăng được 16,5-17,4%. Như vậy có thể kết luận đất có hàm lượng Mg trao đổi trên 23 ppm là cao, nên bón thêm Mg không có hiệu lực, thậm chí Mg trao đổi trong đất quá cao (51,4 ppm) làm giảm năng suất lúa. Các tác giả đã xếp hạng, nếu hàm lượng Mg trao đổi trong đất dưới mức 6 ppm là thấp, 6,26 ppm là trung bình và trên mức 6 – 7 ppm là cao. (GS.TS MAI VĂN QUYỀN)

2. Các loại phân và hợp chất chứa Magie

1/ Phân lân nung chảy (Văn Điển, Ninh Bình) chứa 15 – 17% MgO.

Như vậy bón 60kg/ha P2O5 (360kg phân) có thể cung cấp cho cây 54 kg MgO một lượng MgO đủ để đảm bảo cân bằng magie.

2/ Photphat cứt sắt (photphat xỉ lò) có 2-5% MgO

Phân bón phốt phát từ xỉ lò được sử dụng trong nông nghiệp ở một số quốc gia.

Bảng Thành phần của xỉ cơ bản: P2O5: 15 – 20%; Al2O3: 0.5 – 2.5%; CaO: 42 – 50%; Fe2O3: 9 – 13%; SiO2: 4 – 6%; MnO: 3 – 6%; MgO: 2 – 5%

3/ Phân sunphat kali – magiê chứa 5 – 10% MgO

Các dạng khoáng vật bao gồm:

+ Kainit: MgSO4• KCl• H2O (19% K2O; 12,9% S; 9,7% MgO)

+ Schönit: K2SO4 • MgSO4 • 6 H2O

+ Leonit: K2SO4 • MgSO4 • 4 H2O

+ Langbeinit: K2SO4 • 2 MgSO4

+ Glaserit: K3Na(SO4)2

+ Polyhalit: K2SO4 • MgSO4 • 2 CaSO4 • 2 H2O

4/ Dolomite và dolomite nung:

Dolomite là loại đá vôi có khá nhiều ở nước ta. Tỷ lệ magie trong dolomite nước ta trình bày trong bảng sau:

  Tỷ lệ % CaO/MgO CaO MgO Đá vôi dolomite A 54,7 – 42,4 0,9 – 9,3 90/10 Đá vôi dolomite B 42,4 – 31,6 9,3 – 17,6 75/25 Dolomite 31,6 – 30,2 17,6 – 20 60/40 Đá vôi 56,1 – 54,7 0 – 0,9

Dolomite và Dolomite nung

Có thể dùng ở dạng MgO (dolomite nung) hay MgCO3 (dolomite nghiền). Tỷ lệ MgO trong dolomite nung cao hơn dolomite nghiền. Tỷ lệ MgO trong một số dolomite nung như sau:

Nung từ dolomite: 29,3 – 33,3% MgO

Nung từ đá vôi dolomite A 1,5 – 5,5% MgO

Nung từ đá vôi dolomite B 15,5 – 29,3 MgO

5/ Secpentin: 

Quặng Secpentin

Secpentin là loại khoáng silica magie có chứa 2Mg.2SiO3.2H2O hay Mg3H42O9, ngoài ra còn có MgSiO3 và một ít hợp chất sắt. Hàm lượng MgO là 18-25% và SiO2 là 40-48%.

6/ Phân borat magiê (admontit) chứa 19% Mg

Quặng Admontit

Admontit là một khoáng vật borat magie với công thức hóa học MgB6O10·7H2O. Nó được đặt theo tên Admont, Úc. Khoáng vật này có độ cứng 2 đến 3.

7/ Quặng Dunit và Kiserit.

Dunit Mg2SiO4 + Fe2SiO4 là loại quặng chứa 24-28% MgO 35-39% SiO2 và 3-8% FeO.

Mg2SiO4 không hòa tan trong nước, nhưng Mg có thể trao đổi với ion H trong phức hệ hấp thu, vừa khử chua vừa làm giàu Mg.

Kiserit (MgSO4.H2O) và magie sunphat (MgSO4.7H2O) là hai loại muối hòa tan.

Trong Kiserit có chứa 29,13% MgO, magie sunphat có chứa 16,2% MgO.

8/ Phân Magie Chelate (EDTA-Mg-6)

Magie Chelate (EDTA-MgNa2)

Tên hóa học: Ethylenediaminetetraacetic acid, Magnesium – Disodium complex, Magnesium sodium ethylenediaminetetraacetate

Công thức phân tử: C10H12N2O8MgNa2

Khối lượng phân tử: 358.52

pH = 6.5 – 7.5

Dạng bột màu trắng xám, hòa tan tốt và ổn định trong nước, độ hòa tan trong nước 99,95%

Cây thanh long bị thiếu Mg

Cây Ngô bị thiếu Maige

Vai Trò Của Lân Với Cây Trồng, Hoa Và Cây Cảnh

Lân (P) có trong thành phần Protit tạo nên nhân tế bào, vì vậy nó là chất không thể thiếu cho sự sống của cây. Lân rất cần cho sự hình thành nên các bộ phận mới ra mầm non (tham gia tích cực trong quá trình kiến tạo nên hoạt chất hình thành mầm hoa, đẻ nhánh, phân cành, ra hoa, đậu quả và phát triển bộ rễ. Lân ảnh hưởng đến sự vận chuyển đường, bột tích lũy về hạt và các bộ phận của chất nguyên sinh làm cho cây chống được lạnh, chống được nóng. Lân còn có tác dụng đệm, làm cho cây chịu được chua, kiềm. Lân có trong thành phần hạt nhân tế bào, rất cần cho sự hình thành bộ phận mới của cây. Lân tham gia vào các thành phần enzin, các Protein, tham gia vào quá trình tổng hợp các axit amin. Nhưng cũng cần chú ý bón lân cân đối và hợp lý vì bón quá nhiều lân có thể làm cho cây bị thiếu một số nguyên tố vi lượng nên người ta thường bón phân lân kết hợp với bón bổ sung các nguyên tố vi lượng thiết yếu. Trong các loại phân lân thì phân lân nung chảy (FMP) là một dạng phân lân chứa khá nhiều các nguyên tố dinh dưỡng trung và vi lượng (Ca, Mg, S, Fe, Mn,…).

Trên cây táo, hầu như số hoa trên cành có tương quan tuyến tính đến hàm lượng lân trong lá. Sự tương quan thuận giữa sự bón phân lân và hàm lượng cyto kinine vì cyto kinine thúc đẩy sự hiệu quả của chất lân trong việc hình thành hoa. Đối với cây xoài: bón phân lân sớm ở thời kỳ trước khi trái phát triển có thể kích thích cho sự sinh trưởng trong mùa Xuân. Hàm lượng lân thấp sẽ không thúc đẩy sự ra hoa. Nhưng hàm lượng lân trong chồi cao rất thích hợp cho sự khởi phát hoa. Nhu cầu lân của cây lạc khá lớn. Lân có tác dụng kích thích quá trình cộng sinh với vi khuẩn tạo ra nốt sần trên rễ, tăng cường khả năng hút đạm của cây, thúc đẩy ra hoa đậu trái, lạc có nhu cầu dinh dưỡng lân nhiều nhất ở thời kỳ từ khi ra hoa đến sau khi hình thành quả. Để tạo được 1 tấn hạt, cây lạc lấy đi từ trong đất: 49kg N, 52kg P2O5 và 27kg K2O. Qua nghiên cứu của một số nhà khoa học về so sánh sản lượng thu hoạch của 8 loài cỏ hàng năm cùng giải pháp trồng trọt: có những loài yêu cầu lân cao, có loài yêu cầu lân ít. Một nhóm nhà nghiên cứu khác đã đo nồng độ lân trong các dung dịch đất và thấy rằng: 95% sản lượng tối đa đạt được nhờ có bổ sung lân. Đầu tiên phải kể đến là rau diếp cần 0.4 ppmp, khoai lang cần 0.1 ppmp, ngô cần 0.06 ppmp. Thí nghiệm với các cây trồng trong chậu, đã so sánh 8 loài cỏ trồng và tìm thấy loài cây có nhu cầu lân thấp nhất là cỏ bạc, trong khi cỏ ba lá có nhu cầu lân cao nhất, các loài cỏ họ đậu cần nhu cầu lân nhiều hơn so với các loài hòa thảo. Thí nghiệm ngoài đồng ruộng, các loại cỏ họ đậu chỉ cần lượng lân bổ sung lớn hơn khoảng 2 lần so với lúa, chứ không phải 4 lần như thí nghiệm trong chậu.

Đối với hoa và cây cảnh, lân có vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành và vận chuyển các hợp chất hữu cơ trong cây hoa, kích thích bộ rễ của cây phát triển và tạo điều kiện để cây có thể đồng hóa các chất dinh dưỡng khác. Cây hút lân dưới dạng H2PO4- và HPO42-, lân có thể di chuyển trong cây, chủ yếu tập trung ở phần non. Khi thiếu lân thì phần già biểu hiện trước và dẫn tới tích lũy đạm dạng Nirat gây trở ngại cho việc tổng hợp Protein. Cành, lá, rễ sinh trưởng chậm, cây thấp bé, lá có màu tím hoặc tím đỏ ảnh hưởng đến tổng hợp chất bột, hoa nở khó. Nhiều lân quá sẽ ức chế sinh trưởng dẫn tới thừa sắc tố. Bón đủ lân, cây ra nụ và hoa sớm. Lân có vai trò rất quan trọng với hoa và cây cảnh, với hoa Trường Xuân trồng trong chậu, giai đoạn cây mầm và giai đoạn chuẩn bị ra nụ hoa cần được bón lân thì cây mới khỏe và hoa mới nở đều, đẹp và không bị rụng sớm. Hoa cẩm chướng sẽ ra nhiều hoa, to đều và sặc sỡ nếu bón phối hợp P, Ca, K và B. Các loại hoa mộc gồm: hoa bằng lăng, hoa mai, hoa anh đào, hoa tường vi,… cần được bổ sung P,K và các nguyên tố vi lượng để làm sai hoa, hoa bền màu sắc đẹp. Các loài hoa hồng, thược dược, cúc,… cần được bón N, P, K đầy đủ với tỷ lệ thích hợp giúp cây sinh trưởng, phát triển cân đối để đạt năng suất và chất lượng hoa cao. Dinh dưỡng cho hoa lan phải cân bằng giữa hàm lượng N, P và K (18-18-18), hòa tan trong nước với tỷ lệ 1gram cho 1 lít nước và tưới 1 tuần 1 lần, áp dụng cho các tháng từ cuối mùa Xuân cho đến đầu mùa Đông (khoảng tháng 10). Còn thức ăn trong các tháng còn lại trong năm thì chứa đạm nhiều hơn (30-10-10). Với bonsai, việc bón thúc lân dưới dạng Photphat rất cần thiết, giúp điều hòa chức năng sinh sản (với bonsai hoa) và tăng cường phát triển của hệ rễ nhất là rễ phụ (dùng cho các loài cây cảnh chơi rễ)./.

Vai Trò Của Đạm, Lân, Kali Đối Với Cây Trồng

– Các sản phẩm cao đạm: Senca-11: 29-10-10+3TE, Senca-16: 11% N, 16% MgO

– Các sản phẩm cao Lân: Senca -21: 13-40-13+TE, 15-30-15+TE

– Các sản phẩm cao Kali: Senca-19: 15-5-30+3TE, Senca-32: 12-3-43+TE, Senca-31: 50% K2O, 18% S

– Sản phẩm cân bằng: Senca-12: 20-20-20+TE, Senca Liquid: 10-10-7.5+TE

Vai trò của đạm (N)

Cây hút đạm chủ yếu ở dạng NH 4+ và NO 3–. Đạm là thành phần quan trọng trong các chất hữu cơ rất cơ bản và cần thiết cho sự sinh trưởng phát triển của cây như các chất diệp lục, nguyên sinh chất, axit nucleic (AND và ARN), các loại men, các chất điều hòa sinh trưởng. Đạm quyết định sự phát triển của các mô tế bào sống của cây. Bón đủ đạm cây sinh trưởng nhanh, ra nhiều chồi, lá và cành, hoa quả nhiều và lớn, tích lũy được nhiều chất nên cho năng suất cao và chất lượng tốt.

Vai trò của Lân (P):

Cây hút lân chủ yếu dưới dạng khoáng của photphat (H 2PO 4–) và (HPO 42-). Lân có vai trò cung cấp trong quá trình trao đổi năng lượng và tổng hợp chất protein. Lân là thành phần chủ yếu của các chất ADP và ATP là những chất dự trữ năng lượng cho các quá trình sinh hóa trong cây, đặc biệt là cho quá trình quang hợp, sự tạo thành phần chất béo và protein.

Lân thúc đẩy sự phát triển của hệ rễ cây, kích thích sự hình thành nốt sần ở các cây họ đậu.

Lân thúc đẩy sự ra hoa và hình thành quả ở cây, là yếu tố chủ yếu quyết định chất lượng hạt giống.

Lân giúp cây tăng khả năng chống chịu với các điều kiện bất thuận như rét, hạn, sâu bệnh.

Lân còn có tác dụng hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm. Bón đủ lân, cây không những sinh trưởng tốt, cho năng suất cao mà chất lượng nông sản cũng cao.

Vai trò của kali (K)

Cây hút kali dưới dạng K+, các tế bào cây rất dễ để dung dịch kali thấm qua nên kali được cây hút dễ dàng hơn các nguyên tố khác. Khi hút quá nhiều kali sẽ hạn chế sự hút đạm và một số nguyên tố khác như Ca, Mg và một số vi lượng.

Kali tham gia tích cực vào quá trình quang hợp, tổng hợp nên các chất gluxit của cây. Kali làm tăng khả năng thẩm thấu nước ở tế bào khí khổng, giúp khí khổng đóng mở thuận lợi nên điều chình sự khuyếch tán CO2 của quá trình quang hợp, đồng thời tăng khả năng sử dụng ánh sáng cho cây trong điều kiện thời tiết ít nắng.

Kali có trong thành phần của 60 loại men thực vật điều tiết các hoạt động sống của cây với tác dụng như một số chất xúc tác.

Kali thúc đẩy quá trình tổng hợp đạm trong cây, làm giảm tác hại của việc bón quá nhiều đạm, phòng chống lốp đổ cho cây hòa thảo, thúc đẩy sự ra hoa.

Kali tăng cường khả năng chống chịu các điều kiện bất lợi cho cây như rét, hạn, úng, sâu bệnh.

Kali làm tăng hàm lượng chất bột, đường nên làm tăng chất lượng hạt và quả.

Senca tổng hợp 23-10-2015

Vai Trò Của Nguyên Tố Vi Lượng Boron Với Cây Trồng

Boron là một trong những nguyên tố vi lượng quan trọng, cần thiết với cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả. Tại Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đã cho thấy gần 80% tổng lượng đất nghèo Boron.

Tầm quan trọng của Boron với cây trồng

Bo ảnh hưởng đến hấp thụ và sử dụng Canxi, đồng thời điều chỉnh tỷ lệ K/Ca trong cây. Bo bảo đảm cho hoạt động bình thường của mô phân sinh ngọn cây. Bo xúc tiến quá trình tổng hợp các protit, lignin. Bo xúc tiến việc chuyển hóa các hydrat cacbon, thúc đẩy quá trình phân chia tế bào. Bo đẩy mạnh việc hút Ca của cây, tăng cường hút Ca cho cây và đảm bảo cân đối tỷ lệ K:Ca trong cây.

Bo giúp làm tăng khả năng chống đổ cho cây vì tăng sự tổng hợp protein (tránh độc NH3) và sự tổng hợp glucid

Bo cần thiết cho sự nảy mầm của hạt phấn, và tăng trưởng của ống phấn, rất cấn cho sự hình thành tế bào và hạt giống. Bo rất cần thiết cho quá trình phân chia tế bào và quá trình thụ phấn của cây, giúp hình thành và phân hóa mầm hoa, tăng sức sống hạt phấn, tăng tỷ lệ đậu trái và giúp giảm rụng hoa, trái non.

Bo có ảnh hưởng đến cây họ đậu làm tăng sự cố định N, chuyển hóa N thành P, tăng số lượng cụm hoa trong các loại đậu, tăng sự hút nước của các cây họ đậu. 

Bo có tác dụng tăng khả năng chống chịu của cây: chịu lạnh, chịu nóng, chịu hạn.

Ngưỡng giới hạn Bo tối ưu và mức gây độc của Bo ở cây trồng rất thấp. Do đó cần cẩn trọng trong việc bón phân hóa học để bổ sung B.

Boron trong cây trồng 

Đất có kết cấu thô, đất thoát nước tốt như đất dốc, đất cát, đất có hàm lượng cơ giới thấp.

Đất chua, Ph < 4 và đất phát triển trên đá vôi

Khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều (do Bo dễ bị rửa trôi)

Đất kiếm hoặc đất chua bón quá nhiều phân.

Đất trồng trọt lâu ngày bị rửa trôi và thoái hóa.

Nguyên tố Ca tương tác mạnh với Bo nên khi cây cần ít Bo thì cây đó cũng đang thiếu Ca, còn Kali thì ngược lại, khi bón nhiều Kali sẽ gây ức chế hút Bo và gây thiếu Bo của cây trồng. Cây trồng hút Bo chủ yếu ở dạng ion B4O27-, HBO32- và BO33-.

 Thiếu Boron trên cây trồng

Thiếu bo, lá dày, đôi khi bị cong lên và dòn, cây còi cọc, dễ bị chết khô đỉnh sinh trưởng, rễ còi cọc. Tỷ lệ đậu quả kém, quả dễ rụng.

Các mô bên trong củ bị thối tạo thành các vùng đen hay nâu. Đó là bệnh rỗng ruột và đến ruột thường bắt gặp ở củ cải, cà rốt.

Gây rối loạn trong sự hình thành cơ quan sinh sản dẫn đến số nụ ít, hoa dễ bị bị rụng, không thơm và nhanh tàn, một số trường hợp không có túi phấn và nhụy, hoa không hình thành.

Thiếu Bo làm hoa kém phát triển, sức sống hạt phấn kém quả non dễ bị rụng. Rễ cây kém phát triển. 

Thiếu Bo làm làm đình trệ vận chuyển nước và muối khoáng đến các đỉnh sinh trưởng, gây nên hiện tượng chồi ngọn bị chết, các chồi bên cũng thui dần, quả non dễ bị rụng, rễ cây kém phát triển.

Thừa Boron dẫn đến ngộ độc ở cây trồng

Hiện tượng ngộ độc Bo trên cây trồng có thể xuất hiện ở những vùng đất khô hạn và vùng đất mặn. Lạm dụng, bón nhiều tro cũng là nguyên nhân gây ngộ độc cây ở nhiều vùng. 

Giai đoạn đầu của ngộ độc Boron thường xuất hiện như một mũi vàng lá hoặc những vết lốm đốm. Trường hợp nặng, các đốm kẹo cao su xuất hiện trên bề mặt lá, các cành bị bệnh chết mầm. Tính nhạy cảm giữa gốc ghép và chồi có sự khác biệt,  chanh là loại mẫn cảm nhất, tiếp theo là quýt, bưởi và cam.

Khi lạm dụng Bo bón với lượng cao, dẫn đến sự giảm hấp thu của Zn, Fe, Mn nhưng tăng hấp thu Cu. Lượng Ca và Mg cao có thể làm giảm sự hấp thu Bo.

+ Thiếu Zn tăng cường tích lũy Bo. Zn có tác dụng giảm tích lũy và độc tính của B trên cây trồng.  + Thiếu Bo làm giảm khả năng hút lân của các cây họ đậu và giảm sự hấp thu của Mn và Zn trên cây bông.  + Bo độc hại đối với ngô khi trồng trong điều kiện thiếu lân, và việc bón lân có tác dụng làm giảm bớt độc tính của Bo.

Biện pháp khắc phục hiện tượng ngộ độc Boron

Bón vôi, bón thêm Silic cũng có tác dụng ngăn cản sự cản sự hấp thu Bo của cây từ đó làm giảm tình trạng ngộ độc ở cây. 

Tác dụng của Bo đối với quá trình ra hoa, đậu quả và kỹ thuật sử dụng phân chứa Bo hiệu quả

Có thể khắc phục hiện tượng thiếu hụt Bo bằng cách: phun qua lá, tưới gốc hoặc bón gốc trộn với phân bón. 

Lưu ý: Bón lót bằng cách rải đều hay bón thúc vào đất có hiệu quả hơn so với phun lên lá đối với cây hằng năm. Còn đối với cây ăn quả, phun phân Bo qua lá rất hiệu quả, có thể phun vào các thời điểm: Chồi đang ngủ, bắt đầu nảy chồi mới hoặc khi lá đang phát triển đầy đủ. 

Đối với các cây họ đậu và cây lấy củ cần 2 – 4 kg B/ha, trong khi đó các cây trồng khác cần lượng B tối đa thấp hơn.  + Lượng Bo cân đối đối với cây họ đậu là: 2kg/ha. + Đối với ngô: 4,7kg/ha. + Đối với đậu tương: 3,4 kg/ha.

Lưu ý: + Lượng Bo gây ngộ độc cho lúa 4,4 kg Bo/ha, cây đậu 8,7 kg Bo/ha, đối với ngô là 6,8 kg Bo/ha và 7,4 kg Bo/ha cho lúa mỳ.  + Bón Bo vào thời kỳ 1 tuần trước khi ra hoa và sau khi đậu quả giúp chuỗi hoa kéo dài, làm chồi hoa lớn, khả năng đậu trái được tốt, sau khi đậu quả trái lớn nhanh, tránh hiện tượng rụng trái,rụng hoa, thối trái, thối hạt,…

Nguồn: tổng hợp

Bạn đang xem bài viết Magie Và Vai Trò Của Magie Dối Với Cây Trồng trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!