Xem Nhiều 5/2022 # Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc # Top Trend

Xem 14,157

Cập nhật thông tin chi tiết về Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc mới nhất ngày 27/05/2022 trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 14,157 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Bí Mật Của Lan Thiên Nga Đen
  • Ký Sự Trồng Hoa Thủy Tiên: 02 Kỹ Thuật Gọt Lá Xoăn Tầm Thấp Cho Củ Thủy Tiên Trồng Nước
  • Cách Phân Biệt Lan Hoàng Lạp Và Sơn Thủy Tiên – Agriculture
  • Lan Thủy Tiên Trắng Thân Vuông Về Tới Sài Gòn Sáng Thứ 6 Ngày 02
  • Cách Trồng Và Thay Chậu Lan Thủy Tiên
  • Tên Việt: Thanh Đạm Tuyết Ngọc, Cam Đạm

    Tên khoa học: Coelogyne mooreana, Rolfe, Sander 1907

    Đồng danh: Coelogyne mooreana f. alba Roeth & O, Gruss 2001; Coelogyne psectrantha, Gagnep 1930

    Lan sống phụ sinh, thân hành giả hình trụ, đầu mang 2 lá có phiến hình thuôn mác ngược, thót nhọn ở đầu, thót dài ở gốc, dài 12 – 16cm, rộng 2,5cm, mang 5 gân dọc. Cụm hoa có cuống dài 2cm, chỉ mang một hoa to màu trắng, với các vân vằn nâu. Các lá đài huình thuôn, dài 4,6 – 4,8cm, rộng 1,3cm, có 7 gân vườn hợp. 

    Cánh hoa hình giải, dài 4,7cm, rộng 0,5cm, có 5 gân đầu nhọn. Cánh môi hình trứng thuôn, dài 4cm, rộng 2,5cm, chia 3 thùy, 2 thùy bên không xòe ra, hơi hình trứng, có đầu tròn, phần tự do dài 8mm, rộng 7mm, thùy giữa hình trứng có đầu tròn, hơi thót lại ở gốc, mặt trên cánh môi có nhiều nhú xếp thành 3 dải. Trụ dài 2cm. Bầu dài 2cm.

    Sinh học: Mùa hoa và qủa chưa thấy rõ.

    Nơi sống và sinh thái: Sống bám trên thân và cành thông hay một số cây gỗ khác trong rừng thường xanh mưa mùa ẩm, ở độ cao khoảng 1400 – 2000 m.

    Tình trạng: Loài hiếm. Mức độ đe dọa: Bậc R.

    Đề nghị biện pháp bảo vệ: Là đối tượng bảo vệ trong thiên nhiên của khu rừng cấm trên núi Langbian và quanh Đà Lạt. Cần gấp rút thu thập cây sống đem về trồng trong vườn thực vật để giữ và nhân giống.

    Phân bổ

    Thanh Đạm Tuyết Ngọc là một cây đặc hữu của Việt Nam, thường mọc ở Đà Lạt, Nha Trang và Quảng trị, trên cao độ khoảng 1300 thước. Wilhelm Micholitz đã tìm thấy ở ngọn núi Langbiang, gần Đà Lạt và gửi về cho Sander và người con tại St. Albans, Anh Quốc. Cây lan này nở hoa và đoạt giải nhất của Hòang gia (FCC/RHS) vào năm 1905.

    Frederick Sander đặt tên Coelogyne moorena để vinh danh F.W. Moore, Giám đốc vườn thảo mộc Glasnevin tại Dublin. Robert Rolfe là người đã mô tả cây lan này trên thông tri của viện thảo mộc Kew, Anh Quốc vào năm 1907 với tên Coelogyne mooreana ‘Brockhurstʼ. Điều lạ lùng nhất là cây lan đẹp và dễ trồng như vậy mà mãi đến năm 1972 nguyệt san Orchid của Hội Hoa Lan Hoa Kỳ và tờ Orchid Digest mới có hình ảnh của cây lan này.

    Loài đặc hữu rất hẹp của Việt Nam, mới chỉ gặp được ở điểm lấy mẫu chuẩn thuộc tỉnh Lâm Đồng (Đà Lạt, Lạc Dương: núi Langbian, Đơn Dương).

     

    Chăm sóc

    NHIỆT ĐỘ

    Mùa hè, ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm vào khoảng 62°F hay 17°C với sự cách biệt giữa ngày và đêm từ 10-14°F hay 6-8°C

    Mùa đông ban ngày từ 75-80°F hay 24-27°C và ban đêm 53-55°F hay 12-13°C với sự cách biệt từ 23-25°F hay 13-14°C.

    ÁNH SÁNG

    Từ 1500-2000 ánh nến (fc) tức là phải để ở chỗ rợp mát từ mùa xuân cho đến mùa thu. Tại môi trường thiên nhiên, mùa đông là mùa cây lan có nhiều ánh nắng hơn, bởi vì các cây cối chung quanh đã bị rụng lá.

    ĐỘ ẨM

    Mùa hè lan cần độ ẩm thật cao từ 70-80%, mùa đông có thể hạ xuống 40-50%

    THOÁNG GIÓ

    Lan cần phải thật thoáng gió nếu không sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

    TƯỚI NƯỚC

    Tại Việt Nam, suốt mùa mưa từ tháng 4-6 cây lan lúc nào cũng ướt đẫm và lại rất khô vào mùa đông. Theo quy luật chung, tưới nhiều khi cây non mọc và bớt tưới vào mùa thu khi cây đã ngưng tăng trưởng. Mùa đông chỉ tưới sơ qua hoặc phun nước vào buổi sáng. Khi thấy củ bị nhăn nheo hay lá bị héo, đó là dấu hiệu của sự thiếu nước và thiếu độ ẩm. Trái lại nếu củ lúc nào cũng mập tròn sẽ không ra hoa.

    Đừng bao giờ để lan bị khô rễ vào mùa hè và mùa xuân bắt đầu tưới trở lai khi thấy mọc rễ mới hay ra mầm non.

    BÓN PHÂN

    Bón phân 30-10-10 với dung lượng ¼-½ thìa cà phê cho 4 lít nước và đổi sang 10-30-20 khi bắt đầu mùa thu, hay có thể dùng phân 15-15-15 quanh năm với liều lượng như trên. Lan không ưa bị đọng muối trong chậu, cho nên mỗi tháng cần xả nước một lần cho sạch, tức là tưới như thường lệ và 1-2 giờ sau tưới thêm một lần nữa, rồi mới bón phân. Khi cây mọc mạnh bón mỗi tuần một lần, khi cây ngưng tăng trưởng bón mỗi tháng một lần.

    VẬT LIỆU TRỒNG

    Các nhà vườn, thường trồng lan Thanh Đạm và nhiều giống lan khác với rêu (sphagnum moss) để bớt phải tưới nước. Loai rêu này chóng mục nên phải thay chậu tối thiểu 2 năm một lần. Nên nhớ: Thanh Đạm không ưa bị đụng chạm đến bộ rễ và chỉ nên thay chậu khi rễ bắt đầu mọc. Nhiều người trồng rất thành công với vật liệu như sau:

    70% rễ cây dương sỉ (tree fern), 10% than vụn, 10% đá bọt (perlite), 10% rêu vụn (sphagnum moss).

    Bệnh

    Bệnh hại trên lan

    – Bệnh đen thân cây lan: Do nấm Fusarium sp. gây nên. Phòng trị: Nên tách những cây bị bệnh để riêng và dùng thuốc phòng trừ hay nhúng cả cây vào thuốc trị nấm. Nếu cây lớn hơn thì cắt bỏ phần thối rồi phun thuốc diệt nấm như Carbenzim, Zin,  Zineb 3/2000, Benlat 1/2000, Bendazol.

    – Bệnh đốm lá: Do nấm Cercospora sp. gây nên. Bệnh thường phát sinh mạnh trên cây lan Dendrobium sp., gây hại trong mùa mưa ở những vườn lan có độ ẩm cao. Phun thuốc trừ nấm (như trên) Carbenzim + Dipamate: hỗn hợp thuốc hiệu quả cao hay Cadilac.

    – Bệnh thán thư: Do nấm Colletotricum sp. gây ra. Bệnh phát triển mạnh vào mùa mưa nên phải phòng trừ trước. Thường cắt bỏ lá vàng rồi phun thuốc diệt nấm 5 – 7 ngày/phun 1 lần: Thio-M, Cabenzim, Bendazol.

    – Bệnh thối mềm vi khuẩn: Do vi khuẩn Pseudomonas gladioli gây ra. Vết bệnh có hình dạng bất định, ủng nước, màu trắng đục, thường lan rộng theo chiều rộng của lá. Gặp thời tiết ẩm ướt mô bệnh bị thối úng, thời tiết khô hanh mô bệnh khô tóp có màu trắng xám.

    – Bệnh thối nâu vi khuẩn: Do vi khuẩn Erwnia carotovora gây ra. Ban đầu vết bệnh có màu nâu nhạt, hình tròn mọng nước về sau chuyển thành màu nâu đen. Bệnh hại cả thân, lá, mầm làm các bộ phận trên bị thối. Sử dụng Kasumin, dùng 1 trong những hỗn hợp: Saipan + Mexyl; Saipan + Alpine; Mexyl + Alpine để phun phòng trị.

    – Bệnh đốm vòng (đốm mắt cua): Do nấm Cercospora resae gây ra.

    +Triệu chứng: Vết bệnh là những đốm nhỏ, hình mắt cua, hình trong hơi lõm, ỡ giữa màu nâu nhạt, xung quanh có gờ nổi màu nâu đậm. Bệnh gây hại chủ yếu trên lá bánh tẻ, lá già tạo thành nhiều vết nhỏ li ti làm lá vàng, nhanh rụng.

    + Phòng trừ: Dùng thuốc Topsin M 70 WD hoặc Score 250 ND, Bendazol, Carbenzim, Thio-M.

    – Bệnh đốm vòng: Do nấm Alternaria rasae gây ra.

    + Triệu chứng: Vết bệnh hình tròn hoặc hình bầu dục, trên vết bệnh có các vòng đồng tâm khá rõ. Khi gặp thời tiết ẩm ướt, ấm áp, trên vết bệnh thường hình thành một lớp nấm mốc màu đen gồm cành và bào tử phân sinh của nấm gây bệnh. Bệnh thường gây hại trên các lá già, lá bánh tẻ làm lá vàng dễ khô rụng.

    + Phòng trừ: Sử dụng Daconil 500 SC, Carbenzim + Dipomate, Cadilac.

    Sâu hại lan

    – Rệp vảy: rệp thường bám trên các thân giả hành còn non. Phòng trị bằng cách: Dùng bàn chải chà xát rồi nhúng cây lan vào dung dịch thuốc Malathion 50 pha loãng, Sagosuper 20EC.

    – Bọ trĩ: gây hại chủ yếu trong mùa nắng. Dùng Malathion 5 mg/bình 4 lít nước, phun 1 tuần/lần, phun liên tiếp liên tục trong 3 tuần, Dragon (5cc) + SK99 (20cc)/bình 8 lít.

    Tác dụng y học

    Chưa có công bố hay nghiên cứu khoa học nào về tác dụng chữa bệnh của hoa lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc.

    Giá trị kinh tế

    Nguồn gen qúy, hiếm và độc đáo. Hoato khá đẹp. Có thể trồng làm cảnh.

    Ý nghĩa

    Đây là cây lan Thanh đạm, đặc hữu của Việt Nam, nổi tiếng nhất trên thế giới. Coelogyne mooreana được xem là ‘Hoàng hậu’ của nhóm Coelogynes. 

    Phân loại

     

    Theo American Orchid Society : C. mooreana có những ‘chủng trồng’ như ‘Brockhurst’ (hoa to, có thêm nhiều vết vàng); ‘Westonbirt’   và nhiều loài ‘lai tạo’ được’cầu chứng’ (registered). Coelogyne pandurata = Lan Thanh đạm Eberhardi (PH Hộ), Thanh đạm Langbian (Trần Hợp).

    • Coelogyne assamica Linden & Rachb. f.

    • Coelogyne brachchyptera Rachb. f.

    • Coelogyne calcicola Kerr.

    • Coelogyne cristata Lindl. (Không mọc tại VN)

    • Coelogyne ecarinata C. Schweinf (Không mọc tại VN)

    • Coelogyne cumingii Lindl.

    • Coelogyne dichroantha Gagnep.

    • Coelogyne eberhardtii Gagnep.

    • Coelogyne flaccida Lindl.

    • Coelogyne filipeda Gagnep.

    • Coelogyne fimbriata Lindl.

    • Coelogyne fuescens var. brunnea Lindl.

    • Coelogyne griffithii Hook. f. (Mới)

    • Coelogyne huettneriana Rachb. f. (Mới)

    • Coelogyne lactea Rachb. f. (Đồng danh với Coelogyne flaccida)

    • Coelogyne lawrenceana Rolfe

    • Coelogyne lentiginosa Lindl.

    • Coelogyne lockii Avr.

    • Coelogyne malipoensis Z. H. Tsi

    • Coelogyne moorena Rolfe

    • Coelogyne nitida (Wall. Ex Don) Lindl. (Không mọc tại VN)

    • Coelogyne ovalis 

    • Coelogyne pallens Ridl.

    • Coelogyne quadratiloba Gagnep. (Mới)

    • Coelogyne prolifera Lindl. (Không mọc tại VN)

    • Coelogyne rigida Par & Rachb. f.

    • Coelogyne sanderae Krzl.

    • Coelogyne schultesii S. K. Jain & S. Das (Mới)

    • Coelogyne stricta (D. Don) Schltr.

    • Coelogyne tenasserimensis Seidenf. (Mới)

    • Coelogyne trinervis Lindl.

    • Coelogyne virescens Rolfe

    • Coelogyne viscosa Rchb. f.

    • Coelogyne verrucosa Rachb. f.

    Theo danh sách này chúng ta không có 4 cây:

    Coelogyne cristata Lindl. Vì cây này mọc ở Bhutan, China, India, Nepal, Thailand

    Coelogyne ecarinata C. Schweinf, chỉ mọc tại Miến điện

    Coelogyne nitida (Wall. Ex Don) Lindl. mọc tại Bangladesh, Bhutan, China, India, Laos, Myanmar, Nepal, Thailand

    Nhưng lại có thêm 5 cây đó là:

    Coelogyne griffithii Hook. f.

    Coelogyne huettenriana Rchb. f.

    Coelogyne quadratiloba Gagnep

    Coelogyne schultesii S. K. Jain & S. Das và

    Coelogyne tenasserimensis Seidenf.

    Quy luật về tên gọi đã ấn định rằng sẽ theo tên nào đươc công bố trước, nhưng hiện nay nhiều người vẫn còn gọi bằng tên đặt sau chỉ được coi là đồng danh (synonym)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Red – Lan Thanh Đạm Hoàng Hạc – Coelogyne Speciosa Thực Vật Rừng
  • Coelogyne Speciosa Thực Vật Rừng
  • Thanh Đạm Tuyết Hạ Coelogyne Cumingii Lindley
  • Lan Hồ Điệp Huyện Sóc Sơn
  • Giáng Hương Sóc Lào: Hoa Lan Đẹp, Giá Rẻ
  • Bạn đang xem bài viết Lan Thanh Đạm Tuyết Ngọc trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100