Xem Nhiều 11/2022 #️ Kỹ Thuật Trồng Mai Vàng Trong Chậu Hiệu Quả Nhất 2022 / 2023 # Top 17 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 11/2022 # Kỹ Thuật Trồng Mai Vàng Trong Chậu Hiệu Quả Nhất 2022 / 2023 # Top 17 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Trồng Mai Vàng Trong Chậu Hiệu Quả Nhất 2022 / 2023 mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kỹ thuật trồng mai vàng trong chậu hiệu quả nhất 2020

1. Các loại chậu trồng mai

ngoài ra, trong thực tiễn sản xuất bây giờ thường dùng chậu xi măng do giá cả phù hợp cho việc đầu tư, giữ ẩm tốt, các loại chậu bằng chất liệu không giống thường dùng cho cây mai vàng bonsai.

2. Đất trồng mai trong chậu

Cần chọn loại đất có các thuộc tính như trên (xem bài Điều kiện sinh thái của cây mai vàng) , trộn theo % khoảng 70 – 80% đất và 20 – 30% phân hữu cơ hoai mục theo trọng lượng đất trong chậu.

3. Hướng dẫn thay chậu cho cây mai vàng

Cũng đủ sức sử dụng hỗn hợp xơ dừa + tro trấu + phân hữu cơ hoai mục trộn theo tỷ lệ 1:1:1 hoặc cát + xơ dừa + tro trấu + phân hữu cơ hoai mục trộn theo phần trăm 1:1:1:1 để trồng.

Do các chậu khi sử dụng đều có lỗ nên để giữ đất trong chậu, trước khi trồng cần bịt lỗ để cát được giữ lại nước vẫn đủ sức thoát ra ngoài và k khí đủ nội lực luồn vào trong, cách sử dụng giống như sau:

hướng dẫn thông thường là đặt mảnh sành hoặc những cục đá to ở dưới đáy chậu cây. Điều này sẽ k thích hợp vì ngay khi ta di chuyển cây để đặt vào đúng vị trí, ta sẽ phải gạt những mảnh sành ra khỏi lỗ trống trong chậu.

hiện nay có các mẫu lưới nhựa cứng được sản xuất bán trên đối tượng rất phổ biển để dùng vào mục đích trên.

Bịt lỗ chậu trước khi trồng

Có trường hợp chậu trồng có nhiều chỗ lõm, lúc này chúng ta dùng nhựa epoxy, ví dụ như nhựa Araldite để lấp các chỗ lõm, nếu không lấp lại thì nước vẫn còn đọng và sử dụng rễ bị úng. cách khác là khoan những lỗ thoát nước nhỏ ở đáy những chỗ lõm.

Tut tạo ảnh “con bướm” giữ lưới đáy chậu cảnh

Bước 1: Dẫn dài dây kim loại

Bước 2: Uốn dây lần một để tạo ảnh móc

Uốn dây lần một để tạo hình móc, hai đầu tạo đoạn thẳng vuông góc, đoạn này dài hơn đoạn kia từ 3 – 4 lần

Bước 3: Uốn dây lần hai để tạo hình móc không giống

Uốn dây lần hai để tạo hình móc khác. Mỗi đầu mút của mỗi đoạn thẳng đối ngược nhau và có cùng chiều dài. để ý là cả hai lần uốn đều sử dụng cho dây kim loại cùng trên hoặc cùng dưới. Một dây trên, 1 dây dưới là sai.

Bước 4: Bẻ cong lên tại điểm giao

Bẻ cong lên tại điểm giao. Uốn thành những góc vuông

Bước 5: Hai điểm đầu mút cần được điều chỉnh để tạo dạng đồng thời

Hai điểm đầu mút cần được điều chỉnh để tạo dạng cùng lúc và khoảng hướng dẫn đầu mút bằng chiều rộng của lỗ được bịt

Bước 6: Lật ngược chậu, uốn phần cuối dây kim loại cố định đúng vị trí

kế tiếp, thực hiện các thao tác bên trong chậu, đặt lưới lên trên lỗ, xuyên hai đoạn cuối qua các lỗ. Cuối cùng giữ lưới và dây kim loại đúng vị trí, lật ngược chậu lên và uốn phần cuối của dây kim loại chung quanh lỗ thoát nước để giữ lưới được cố định đúng vị trí. Nên sử dụng tay thay vì sử dụng kềm, và phải thận trọng để tránh sử dụng mẻ mép lỗ.

Nguồn: http://camnangcaytrong.com/

Kỹ Thuật Trồng Bầu Trong Thùng Xốp “Hiệu Quả Nhất” / 2023

Bầu là một lợi thực phẩm ngon và bổ dưỡng được nhiều người ưa chuộng trong những bữa ăn hàng ngày. Vì vậy rất nhiều người muốn trồng bầu để tự cung cấp nguồn thực phẩm này cho gia đình mình. Và trồng bầu trong thùng xốp tại nhà là một lựa chọn không tồi.

Cây bầu có đặc điểm gì?

Bầu là loài cây dây leo thân thảo như mướp và bí. Lá cây dày và rộng hơn lá mướp, có hình tim rộng, lông mịn và trắng như nhung. Cây cho ra hoa sau đó đậu quả, quả bầu có màu xanh, thẳng dài và có đường kính qua dao động trong khoảng 3 – 8 cm.

Bầu thì có thể trồng quanh năm, nhưng thời điểm thích hợp nhất để cây phát triển mạnh mẽ vẫn là từ tháng 10 đến tháng 1 dương lịch. Việc trồng bầu đúng thời điểm này sẽ giúp cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất vì điều kiện thời tiết thuận lợi với đặc tính của cây và sẽ cho năng suất cao nhất.

Cách trồng bầu trong thùng xốp tại nhà

1, Xử lý hạt trước khi gieo

Trước khi gieo thì hạt bầu cần vào nước ấm (nhiệt độ khoảng 40 độ C) trong khoảng từ 3 đến 6 giờ để tăng khả năng nảy mầm của hạt.

Sau ngâm xong các bạn vớt hạt ra và để ráo, sau đó cho hạt vào ủ trong một chiếc khăn ẩm rồi cuộn lại cho thật kín.

Để khăn ủ hạt trong ngăn mát tủ lạnh khoảng hơn 1 ngày để cho hạt nứt nanh và nảy mầm thì mới đem hạt gieo vào đất.

Khi trồng bầu trong thùng xốp thì giá thể là những xơ dừa, mùn cưa hoặc than bùn phải được làm sạch và phơi khô. Sau khi gieo hạt chúng ta phủ một lớp giá thể lên trên hạt với mục đích là tạo điều kiện tốt nhất cho sự nảy mầm của hạt, tạo nền tảng vững chắc cho sự hình thành rễ và phát triển của cây.

3, Gieo hạt bầu trong thùng xốp

Trồng bâu trong chậu thì độ sâu gieo hạt chỉ từ 2 – 3 cm so với mặt đất. Sau khi gieo xong thì phủ một lớp giá thể lên trên bề mặt hạt sau đó phun nhẹ nước lên trên để đất có độ ẩm. Chú ý không được tưới quá nhiều nước, dẫn đến hạt sẽ bị thối.

Chăm sóc là một phần rất quan trọng trong việc trồng bầu trong thùng xốp. Bầu là loài cây có tính ưa nước, chính vì thế chúng ta cần đảm bảo phải thường xuyên tưới nước cho cây sau khi trồng để có thể phát triển tốt nhất.

Khi trồng bầu trong thùng xốp thì ít nhất trong một ngày cần tưới cho cây đủ hai lần để đảm bảo cho cây đủ ẩm. Khi cây ra hoa và trái thì chúng ta cần bổ xung nhiều nước tưới hơn, tăng lượng nước tưới cho cây lên gấp đôi cho mỗi lần tưới.

Khoảng 60 ngày sau khi gieo hạt thì húng ta có thể bắt đầu lên dàn và tiến hành bón thúc cho cây bầu bằng phân đạm NPK vào khu vực xung quanh gốc cây.

Muốn cây cho năng suất cao và chất lượng quả tốt thì cần thường xuyên bón thúc, nếu có điều kiện thì tốt nhất là mỗi tuần bón cho cây một lần cho đến khi nào quả to bằng 2 đốt ngón tay thì dừng. Cho đến lúc thu hoạch thì mỗi gốc bầu nên được bón ít nhất từ 1 – 1.5 kg phân hỗn hợp NPK.

Trồng bầu trong thùng xốp thì bắt đầu tiến hành khoanh dây vòng gốc khi cây dài được 1 m, lấy đất chặn lên trên các đốt thân cây bầu để cây phát rễ, cứ cách 2 đốt lại chặn đất một lần đến khi còn cách ngon 20 cm thì thôi.

Khi bầu được 1 tháng thì bắt đầu làm giàn cho cây leo lên. Giàn bầu cần cao khoảng 2 – 3m để tiện cho thu hoạch và chăm sóc, dàn bầu có thể làm từ nhiều vật liệu khác nhau như thép, gỗ… Cần có một vài chiếc que nứa nhỏ chắc chắn để nối giàn leo với ngọn bầu.

Trồng bàu trong thùng xốp thì khoảng hơn 70 ngày sau khi trồng là có thể cho thu hoạch. Sau khi cây ra hoa, khoảng 10 – 15 ngày là có thể hái bầu, lúc đó quả bầu sẽ có chiều dài từ 15 đến 50 cm tùy từng giống bầu khác nhau.

Không nên để bầu quá già mới thu hoạch, bởi khi ấy quả bầu đã mất nhiều chất dinh dưỡng, khô và cứng vì vậy ăn sẽ kém ngon và còn khiến cây mau tàn.

Cách trồng bầu trong thùng xốp quá là đơn giản đúng không các bạn? Và bài hướng dẫn của Fao đẽn đây xin được khép lại. Tạm biệt và hẹn gặp các bạn trong những bài viết sau!

NHAP “TU KHOA” BAN CAN TIM KIEM:

Kỹ Thuật Trồng Ớt Hiệu Quả Nhất / 2023

nhờ tính chất capsaicine chứa trong trái. Nhờ vậy nhu cầu và diện tích ớt ở nhiều nước có chiều hướng gia tăng.

Ở Việt Nam việc canh tác ớt chưa được quan tâm, phần lớn canh tác lẻ tẻ, không đầu tư thâm canh cao nên năng suất thấp, thường chỉ đạt 800-1.000kg ớt tươi /1.000m 2.

Thân: khi cây già phần gốc thân chính hóa gỗ, dọc theo chiều dài thân có 4-5 cạnh. Thân có lông hoặc không lông, cây cao 35-65 cm, có giống cao 125-135 cm. Ớt phân tán mạnh, kích thước tán thay đổi tùy theo điều kiện canh tác và giống.

Lá: Mọc đơn, đôi khi mọc chùm thành hình hoa thị, lá nguyên có hình trứng đến bầu dục, phiến lá nhọn ở đầu, lá màu xanh nhạt hoặc đậm, có lông hoặc không lông.

Hoa: Lưỡng phái, mọc đơn hoặc thành chùm 2-3 hoa. Hoa nhỏ, dài, hoa màu xanh có hình chén, lá đài nhỏ, hẹp và nhọn. Tràng hoa có 6-7 cánh màu trắng hoặc tím. Số nhị đực bằng số cánh hoa và mọc quanh nhụy cái. Phần trong cánh hoa có lỗ tiết mật.

Hoa ớt có thể tự thụ phấn hay thụ phấn chéo do côn trùng vì ớt thuộc loại tiền thư, thụ phấn chéo có ý nghĩa lớn ở ớt cay, tỷ lệ thụ phấn chéo từ 10-40 % tùy giống, do đó cần chú ý trong công tác để giống và giữ giống thuần.

Trái: Trái có 2-4 thùy, dạng trái rất thay đổi từ hình cầu đến hình nón, bề mặt trái có thể phẳng, gợn sóng, có khía hay nhẵn; trái khi chín có màu đỏ đen vàng; trái không cay hay rất cay.

Chiều dài và dạng trái đóng vai trò quan trọng trong việc chọn giống ớt xuất khẩu dưới dạng quả khô. Ớt quả khô nguyên trái phải dài hơn 9 cm và khi khô không rời cuống. Việc chế biến ớt bột không đòi hỏi tiêu chuẩn về kích thước và dạng trái nhưng yêu cầu về màu sắc, độ cay và tỷ lệ tươi/khô khi phơi; ớt trái to ở nước ta có tỷ lệ tươi/khô là 6,5:1 trong khi ớt trái nhỏ có tỷ lệ này là 8:1. Trái chưá nhiều hạt tròn dẹp, nhỏ có màu nâu sáng,

Ớt là cây chịu nhiệt, nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng là 18-30 oC. Nhiệt độ cao trên 32 oC và thấp dưới 15 o C. Cây tăng trưởng kém và hoa dễ rụng. Ớt là cây không quang cảm, tuy nhiên trong điều kiện ngày ngắn các giống ớt cay phát triển tốt và cho năng suất cao. Ớt chịu đựng được điều kiện che rợp đến 45%, nhưng che rợp nhiều hơn ớt chậm trổ hoa và rụng nụ.

III. GIỐNG ỚT

Hiện nay nhiều nơi vẫn canh tác giống địa phương là chính. Giống trồng phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long có giống Sừng Trâu, Chỉ Thiên, ớt Búng, ớt Hiểm, ở miền Trung có giống ớt Sừng Bò, Chìa Vôi. Ngoài ra Viện Nghiên Cứu NN Hà Nội công bố bộ sưu tập với 117 giống nội địa (1987), điều này chứng minh nguồn giống ớt phong phú, đa dạng chưa được biết đến ở nước ta. Tuy nhiên giống địa phương bị lai tạp nên thoái hóa, quần thể không đồng đều và cho năng suất kém, trong khi các giống F1 có khả năng cho năng suất vượt trội trong điều kiện thâm canh cao nên bắt đầu được ưa chuộng và đang thay thế dần các giống địa phương.

1. Giống lai F1:

– Giống Chili (công ty Trang Nông phân phối): Trái to, dài 12-13 cm, đường kính trái 1,2-1,4cm; trọng lượng trung bình trái 15-16 gram, dạng trái chỉ địa, trái chín đỏ, cứng, cay trung bình, phù hợp thị hiếu người tiêu dùng. Cây cao trung bình 75-85 cm, sinh trưởng mạnh, chống chịu bệnh tốt và cho năng suất cao.

– Giống số 20 (công ty Giống Miền Nam phân phối): sinh trưởng mạnh, phân tán lớn, ra nhiều hoa, dễ đậu trái, bắt đầu cho thu hoạch 85-90 ngày sau khi cấy, cho thu hoạch dài ngày và chống chịu tốt bệnh virus. Trái ớt chỉ địa dài 14-16 cm, thẳng, ít cay, trái cứng nên giữ được lâu sau thu hoạch, năng suất 2-3 tấn/1.000m 2.

– Giống Hiểm lai 207 (công ty Hai Mũi Tên Đỏ phân phối): Giống cho trái chỉ thiên, dài 2-3 cm, trái rất cay và thơm, năng suất 2-3 kg trái/cây, chống chịu khá bệnh thán thư.

2. Giống địa phương:

– Giống Sừng Trâu: Bắt đầu cho thu hoạch 60-80 ngày sau khi cấy. Trái màu đỏ khi chín, dài 12-15 cm, hơi cong ở đầu, hướng xuống. Năng suất 8-10 tấn/ha, dễ nhiễm bệnh virus và thán thư trên trái.

– Giống Chỉ Thiên: Bắt đầu cho trái 85-90 ngày sau khi cấy. Trái thẳng, bóng láng, dài 7-10 cm, hướng lên, năng suất tương đương với ớt Sừng nhưng trái cay hơn nên được ưa chuộng hơn.

– Giống Ớt Hiểm: Cây cao, trổ hoa và cho trái chậm hơn 2 giống trên nhưng cho thu hoạch dài ngày hơn nhờ chống chịu bệnh tốt. Trái nhỏ 3-4 cm nên thu hoạch tốn công, trái rất cay và kháng bệnh đén trái tốt nên trồng được trong mùa mưa.

IV. KỸ THUẬT TRỒNG ỚT

1. Thời vụ

Ở đồng bằng sông Cửu Long ớt có thể trồng quanh năm, tuy nhiên trong sản xuất thường canh tác ớt vào các thời vụ sau:

– Vụ sớm: Gieo tháng 8-9, trồng tháng 9-10, bắt đầu thu hoạch tháng 12-1 dl và kéo dài đến tháng 4-5 năm sau. Vụ này ớt trồng trên đất bờ líp cao không ngập nước vào mùa mưa. Ớt trồng mùa mưa đỡ công tưới, thu hoạch trong mùa khô dễ bảo quản, chế biến và thời gian thu hoạch dài, tuy nhiên diện tích canh tác vụ này không nhiều.

– Vụ chính (Đông Xuân): Gieo tháng 10-11, trồng tháng 11-12, bắt đầu thu hoạch tháng 2-3 dl. Trong vụ này cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, ít sâu bệnh.

– Vụ Hè Thu: Gieo tháng 4-5 trồng tháng 5-6 thu hoạch 8-9 dl. Mùa này cần trồng trên đất thoát nước tốt để tránh úng ngập và chọn giống kháng bệnh thán thư.

2. Chuẩn bị cây ớt con

Lượng hạt giống gieo đủ cấy cho 1.000m 2 từ 15-25 gram (150-160 hột/g). Diện tích gieo ương cây con là 250 m 2. Chọn đất cao ráo hay làm giàn cách mặt đất 0,5-1 m, lót phên tre hay lá chuối rồi đổ lên trên một lớp đất, phân, tro dày 5-10 cm rồi gieo hạt. Cách này dễ chăm sóc cây con và ngăn ngừa côn trùng hoặc gia súc phá hại. Cũng có thể gieo hạt thẳng vào bầu hay gieo theo hàng trên líp ương. Hạt ớt thường nẩy mầm chậm, 8-10 ngày sau khi gieo mới mọc khỏi đất, cây con cấy vào lúc 30-35 ngày tuổi, có sử dụng màng phủ cây con nên cấy sớm lúc 20 ngày tuổi.

3. Cách trồng ớt

Đất trồng ớt phải được luân canh triệt để với cà chua, thuốc lá và cà tím. Trồng mùa mưa cần lên líp cao vì ớt chịu úng kém. Khoảng cách trồng thay đổi tùy thời gian dự định thu hoạch trái, nếu ăn trái nhanh (4-5 tháng sau khi trồng) nên trồng dày, khoảng cách trồng 50 x (30-40) cm, mật độ 3.500-5.000 cây/1.000m 2; nếu muốn thu hoạch lâu nên trồng thưa, 70 x (50-60) cm, mật độ 2.000-2.500 cây/1.000m 2.

4. Sử dụng màng phủ nông nghiệp (bạt plastic)

4.1 Mục đích:

a. Hạn chế côn trùng và bệnh hại: Mặt màu bạc của màng phủ phản chiếu ánh sáng mặt trời nên giảm bù lạch, rầy mềm, giảm bệnh do nấm tấn công ở gốc thân và đốm trên lá chân

b. Ngăn ngừa cỏ dại: Mặt đen của màng phủ ngăn cản ánh sáng mặt trời, làm hạt cỏ bị chết trong màng phủ.

c. Điều hoà độ ẩm và giữ cấu trúc mặt đất: Màng phủ ngăn cản sự bốc hơi nước trong mùa nắng, hạn chế lượng nước mưa nên rễ cây không bị úng nước, giữ độ ẩm ổn định và mặt đất tơi xốp, thúc đẩy rễ phát triển, tăng sản lượng.

d. Giữ phân bón: Giảm rửa trôi của phân bón khi tưới nước hoặc mưa to, ít bay hơi nên tiết kiệm phân.

e. Tăng nhiệt độ đất: Giữ ấm mặt đất vào ban đêm (mùa lạnh) hoặc thời điểm mưa dầm thiếu nắng mặt đất bị lạnh.

f. Hạn chế độ phèn, mặn: Màng phủ làm giảm sự bốc hơi qua mặt đất nên phèn, mặn được giữ ở tầng đất sâu, giúp bộ rễ hoạt động tốt hơn.

4.2 Cách sử dụng màng phủ nông nghiệp

– Vật liệu và qui cách: Dùng 2 cuồn màng phủ khổ rộng 0.9-1m trồng ớt hàng đơn, còn hàng đôi 1,5 cuồn màng khổ 1,2-1,4 m, diện tích vải phủ càng rộng thì hiệu quả phòng trừ sâu bệnh càng cao. Chiều dài mỗi cuồn màng phủ là 400 m, khi phủ liếp mặt xám bạc hướng lên, màu đen hướng xuống.

– Lên liếp: Lên liếp cao 20-40 cm tùy mùa vụ, mặt liếp phải làm bằng phẳng không được lồi lõm vì rễ khó phát triển và màng phủ mau hư, ở giữa liếp hơi cao hai bên thấp để tiện việc tưới nước.

– Rãi phân lót: Liều lượng cụ thể hướng dẫn bên dưới, nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì màng phủ hạn chế mất phân và không bị cỏ dại canh tranh. Có thể giảm bớt 20% lượng phân so với không dùng màng phủ.

– Xử lý mầm bệnh: Phun thuốc trừ nấm bệnh như Oxyt đồng hoặc Copper B (20 g/10 lít) hoặc Validacin (20 cc/10lít) đều trên mặt liếp trước khi đậy màng phủ.

– Đậy màng phủ: Mùa khô nên tưới nước ngay hàng trồng cây trước khi đậy màng phủ. Khi phủ kéo căng vải bạt, hai bên mép ngoài được cố định bằng cách dùng dây chì bẻ hình chữ U mỗi cạnh khoảng 10 cm ghim sâu xuống đất (dây chì sử dụng được nhiều năm) hoặc dùng tre chẻ lạc ghim mé liếp.

5. Bón phân: (tương tự cà chua)

Tùy theo loại đất, mức phân bón trung bình toàn vụ cho 1.000m 2 như sau:

20 kg Urea + 50 kg Super lân + 20 kg Clorua kali + 12 kg Calcium nitrat + (50-70) kg 16-16-8 + 1 tấn chuồng hoai + 100 kg vôi bột, tương đương với lượng phân nguyên chất (185-210N)-(150-180P 2O 5)-(160-180K 2 O) kg/ha.

* Bón lót: 50 kg super lân, 3 kg Clorua kali, 2 kg Calcium nitrat, 10-15 kg 16-16-8, 1 tấn phân chuồng và 100 kg vôi. Vôi rải đều trên mặt đất trước khi cuốc đất lên liếp, phân chuồng hoai, lân rãi trên toàn bộ mặt liếp xới trộn đều. Nên bón lót lượng phân nhiều hơn trồng phủ rơm vì phân nằm trong màng phủ ít bị bốc hơi do ánh nắng, hay rửa trôi do mưa.

* Bón phân thúc:

Lần 1: 20-25 ngày sau khi cấy (giống thấp cây) và 20 ngày sau khi cấy (giống cao cây). Số lượng 4 kg Urê, 3 kg Clorua kali, 10 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Bón phân bằng cách vén màng phủ lên rãi phân một bên hàng cà hoặc đục lổ màng phủ giữa 2 gốc cà.

Lần 2: 55-60 ngày sau khi cấy, khi đã đậu trái đều.

Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 2 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại cà hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Lần 3: Khi cây 80-85 ngày sau khi cấy, bắt đầu thu trái.

Lượng bón: 6 kg Urê, 5 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân phía còn lại hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Lần 4: Khi cây 100-110 ngày sau khi cấy, thúc thu hoạch rộ (đối với ớt sừng dài ngày).

Lượng bón: 4 kg Urê, 4 kg Clorua kali, 10-15 kg 16-16-8 + 3 kg Calcium nitrat. Vén màng phủ lên rãi phân hoặc bỏ phân vào lổ giữa 2 gốc cà.

Chú ý:

Ớt thường bị thối đuôi trái do thiếu canxi, do đó mặc dù đất được bón vôi đầy đủ trước khi trồng hoặc bón đủ Calcium nitrat nhưng cũng nên chú ý phun bổ sung phân Clorua canxi (CaCl 2) định kỳ 7-10 ngày/lần vào lúc trái đang phát triển để ngừa bệnh thối đuôi trái..

Nếu không dùng màng phủ, nên chia nhỏ lượng phân hơn và bón nhiều lần để hạn chế mất phân.

Nhằm góp phần tăng năng suất và phẩm chất trái, nhất là trong mùa mưa có thể dùng phân bón lá vi lượng như MasterGrow, Risopla II và IV, Miracle,… Bayfolan, Miracle… phun định kỳ 7-10 ngày/lần từ khi cấy đến 10 ngày trước khi thu hoạch.

6. Chăm sóc: 6.1 Tưới nước:

Ớt cần nhiều nước nhất lúc ra hoa rộ và phát triển trái mạnh. Giai đoạn này thiếu nước hoặc quá ẩm đều dẫn đến đậu trái ít. Nếu khô hạn kéo dài thì tưới rảnh (tưới thấm) là phương pháp tốt nhất, khoảng 3-5 ngày tưới/lần. Tưới thấm vào rãnh tiết kiệm nước, không văng đất lên lá, giữ ẩm lâu, tăng hiệu quả sử dụng phân bón. Mùa mưa cần chú ý thoát nước tốt, không để nước ứ đọng lâu.

6.2 Tỉa nhánh:

Thông thường các cành nhánh dưới điểm phân cành đều được tỉa bỏ cho gốc thông thoáng. Các lá dưới cũng tỉa bỏ để ớt phân tán rộng

6.3 Làm giàn: Giàn giữ cho cây đứng vững, để cành lá và trái không chạm đất, hạn chế thiệt hại do sâu đục trái và bệnh thối trái làm thiệt hại năng suất, giúp kéo dài thời gian thu trái. Giàn được làm bằng cách cắm trụ cứng xung quanh hàng ớt dùng dây chì giăng xung quanh và giăng lưới bên trong hoặc cột dây nilong lúc cây chuẩn bị trổ hoa.

7. Phòng trị sâu bệnh 7.1 Sâu hại::

– Rầy lửa, bọ trỉ, bù lạch ( Thrips sp.)

– Bù lạch có tính kháng thuốc rất cao, nên định kỳ 7-10 ngày/lần phun dầu khoáng DC-Tron plus (Caltex) sẽ giảm đáng kể sự tấn công của bù lạch; khi thấy mật số vài ba con trên một đọt non cần phun một trong các loại như Confidor 100SL, Admire 50EC, Danitol 10EC, Vertimec…0.5-1%o, cần thay đổi thuốc thường xuyên.

– Sâu xanh đục trái ( Heliothis armigera): Thành trùng là bướm đêm, kích thước to, thân mập nhiều lông, cánh màu vàng sáng, giửa cánh có một chấm đen to và một chấm trắng nằm cạnh nhau. Trứng đẻ thành ổ có phủ lông vàng; một bướm cái đẻ 200-2000 trứng. Âu trùng là sâu có nhiều lông, màu sắc thay đổi từ màu hồng, xanh, xanh vàng đến nâu đen theo môi trường sống. Sâu ở phía ngòai thò đầu vào bên trong phá hại búp non, nụ hoa, cắn điểm sinh trưởng, đụt thủng quả từ khi còn xanh cho đến lúc gần chín làm thối trái. Nhộng màu nâu đỏ nằm trong lá khô hoặc trong đất.

– Bọ phấn trắng ( Bemisia tabaci): Thành trùng màu trắng bóng, dài 3-4 mm, bay chậm, hình dáng giống như bướm. Âu trùng rất giống rệp dính, màu trắng trong, được phủ một lớp sáp, ít bò, thường cố định một chổ chích hút mô cây. Trứng, ấu trùng và thành trùng luôn luôn hiện diện ở mặt dưới lá trên các loại cây ăn trái, bầu bí, dưa, cà, ớt, bông vãi, thuốc lá. Ấu trùng và thành trùng đều chích hút làm lá biến vàng, cây mau suy yếu, giảm năng suất và truyền bệnh siêu trùng như rầy mềm. Bọ phấn trắng phát triển nhanh trong điều kiện nóng và khô, rất dễ quen thuốc khi phun ở nồng độ cao, hoặc phun thường xuyên định kỳ.

Trong tự nhiên có nhiều loài ong ký sinh trên ấu trùng bọ phấn trắng. Thuốc hiệu quả là Admire, Confidor, phun ở mặt dưới lá.

– Rầy nhớt, rầy mềm ( Aphis spp.)

Còn được gọi là rầy mật, cả ấu trùng lẫn thành trùng đều rất nhỏ, dài độ 1-2mm, có màu vàng, sống thành đám đông ở mặt dưới lá non từ khi cây có 2 lá mầm đến khi thu hoạch, chích hút nhựa làm cho ngọn dây dưa chùn đọt và lá bị vàng. Rầy truyền các loại bệnh siêu vi khuẩn như khảm vàng. Chúng có rất nhiều thiên địch như bọ rùa, dòi, kiến, nhện nấm.. nên chỉ phun thuốc khi nào mật số quá cao ảnh hưởng đến năng suất. Phun các loại thuốc phổ biến rầy mềm như Trebon, Bassa.

d- Sâu ăn tạp, sâu ổ, sâu đàn ( Spodoptera litura)

– Sâu non lúc nhỏ sống tập trung ở mặt dưới phiến lá nên gọi là sâu ổ, khi lớn lên phân tán dần, mình có màu xám với khoan đen lớn ở trên phía lưng sau đầu, ăn lủng lá có hình dạng bất định, hoặc cắn đứt ngang thân cây con. Sau đó sâu thường chui vào sống trong đất, ẩn dưới các kẻ nứt hay rơm rạ phủ trên mặt đất, nhộng ở trong đất.

– Nên làm đất kỹ trước khi trồng vụ sau để diệt sâu và nhộng còn sống trong đất, xử lý đất bằng thuốc hạt. Có thể ngắt bỏ ổ trứng hay bắt sâu non đang sống tập trung.

– Nên thay đổi loại thuốc thường xuyên, phun vào giai đoạn trứng sắp nở sẽ cho hiệu quả cao: Sumicidin 10EC, Cymbus 5EC, Karate 2.5EC, Decis 2.5 EC… 1-2%o có thể pha trộn với Atabron 5EC từ 2-3 cc/bình xịt 8 lít.

7.2 Bệnh hại:

– Bệnh héo cây con: Do nấm Rhizoctonia solani, Phythophthora sp., Pythium sp. Bệnh thường gây hại cây con trong líp ương hoặc sau khi trồng khoảng một tháng tuổi. Vết bệnh thường xuất hiện ở phần thân ngay trên mặt đất, nấm tấn công vào gốc làm gốc cây bị thối nhũn và cây bị gãy gục, phần cây bên trên vết bệnh vẫn còn tươi xanh, sau đó cây mới bắt đầu héo. Bệnh phát triển mạnh khi ẩm độ cao, nấm lưu tồn trên thân luá, rơm rạ, cỏ dại, lục bình, hạch nấm tồn tại trong đất sau mùa gặt lúa.

– Phun, Validacin 5L, Anvil 5SC, Rovral 50WP, Ridomil 25 WP 1-2%o; Copper -B 2-3%o, Tilt super 250 ND, Bonanza 100 (các loại thuốc trị bệnh đốm vằn trên luá đều trị được bệnh này)

– Bệnh héo chết cây do vi khuẩn Pseudomonas solanacearum, nấm Fusarium oxysporum, F. lycopersici, Sclerotium sp.: Bệnh thường gây hại khi cây đã trưởng thành, hoặc khi cây bắt đầu mang trái. Đầu tiên các lá ngọn bị héo vào buổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hẳn, không còn khả năng hồi phục, bộ rễ không phát triển.

Đối với bệnh do vi khuẩn cần nhổ và tiêu hủy cây bệnh; dùng vôi bột rãi vào đất, hoặc Starner, New Kasuran, Copper Zin C tưới nơi gốc cây hay phun ngừa bằng Kasumin. Đối với nấm cần phát hiện sớm, phun ngừa hoặc trị bằng thuốc Copper B, Derosal, Appencarb super, Ridomil, Score.

– Bệnh thán thư do nấm Colletotrichum sp. Bốn loài Colletotrichum được tìm thấy trên ớt là: C. gloesporiodes, C. capsici (2 loài quan trọng nhất), C. acertatum và C. coccodes. Bệnh thường gây hại trên trái đang hay đã chín trong điều kiện có mưa nhiều, hoặc ẩm độ không khí cao. Vết bệnh lúc đầu hình tròn, úng nước, hơi lõm xuống, sau đó lan dần ra, tâm vết bệnh có màu nâu đen, viền màu nâu xám, bên trong có nhiều vòng đồng tâm và có những chấm nhỏ li ti màu đen nhô lên cao. Bệnh gây hại chủ yếu trên trái làm trái mất thương phẩm. Ở đồng bằng sông Cửu Long bệnh phát triển và lây lan mạnh vào mùa mưa, nhất là vào các tháng 7, 8, 9 dl. Nấm bệnh tồn tại rất lâu trong đất, trên cây và trong hạt cây bệnh.

Các thuốc Copper B, Manzate, Mancozeb, Antracol, Ridomil được sử dụng rộng rãi để trừ bệnh này. Tuy nhiên, bệnh khó phòng trị trong mùa mưa và vì bịnh chỉ xuất hiện rất trễ khi trái chín. Hiện nay biện pháp trồng giống kháng bệnh như ớt hiểm trong mùa mưa là kinh tế nhất.

– Bệnh héo muộn do nấm Phytophthora infestan: Bệnh gây hại trên thân, lá và trái. Vết bệnh lúc đầu có màu xanh úng nước, sau đó chuyển sang màu nâu đen. Nếu trời ẩm bên dưới vết bệnh có tơ màu trắng bao phủ; nếu thời tiết khô thì vết bệnh khô dòn, dễ vở. Bệnh thường xuất hiện ở cuống trái, bệnh nặng làm trái dễ rụng.

Không trồng ớt liên tục nhiều năm trên cùng một ruộng. Phun trị khi bệnh xuất hiện với các loại thuốc Aliette, Manzate, Mancozeb, Curzate.

V. THU HOẠCH VÀ ĐỂ GIỐNG

Thu hoạch ớt khi trái bắt đầu chuyển màu. Ngắt nhẹ nhàng cả cuống trái mà không làm gãy nhánh. Ơt cay cho thu hoạch 35-40 ngày sau khi trổ hoa, ở các lứa rộ thu hoạch ớt mỗi ngày, bình thường cách 1-2 ngày thu 1 lần, nếu chăm sóc tốt năng suất trái đạt 20-30 tấn/ha.

Làm giống nên chọn cây tốt, cách ly để tránh lai tạp làm giảm giá trị giống sau này. Chọn trái ở lứa thu hoạch rộ, để chín chín hoàn toàn trên cây, hái về để chín thêm vài ngày rồi mổ lấy hạt, phơi thật khô, để vào chai lọ kín và để nơi khô ráo. Hạt ớt chứa nhiều chất béo, do đó hạt khô thường hút nước lại và gia tăng ẩm độ, vì vậy trữ hạt ở điếu kiện nóng ẩm (ẩm độ trữ hơn 70% và nhiệt độ 20 oC) hạt mất khả năng nẩy mầm 50% trong thời gian 3 tháng và mất khả năng nẩy mầm hoàn toàn trong thời gian 6 tháng. Trữ hạt trong điều kiện khô, kín (ẩm độ 20%, nhiệt độ là 25 o C), hạt khô (ẩm độ 5%) có thể giữ độ nẩy mầm 80% trong 5 năm.

Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi cho việc canh tác ớt và khả năng xuất khẩu ớt thu ngoại tệ cũng không nhỏ. Tuy nhiên để thực hiện được điều đó cần chú ý những điểm như sau:

– Các giống ớt địa phương hiện trồng có năng suất còn thấp và tỷ lệ ớt tươi/khô cũng thấp.

– Ớt xuất khẩu thường ở dạng khô. Phương pháp làm ớt khô bắng cách phơi ớt tươi trực tiếp ngoài nắng thường làm ớt mất màu, không phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu. Ngoài ra việc phơi nắng kéo dài trong 10-20 ngày tạo điều kiện cho bệnh đén trái tiếp tục phát triển trong thời gian phơi và làm mất phẩm chất ớt.

Ớt xuất khẩu và dùng trong chế biến thực phẩm còn đòi hỏi các tiêu chuẩn như độ cay, mùi hương mà các giống trồng hiện chưa đáp ứng được. Do đó cần chú ý công tác chọn tạo giống và kỹ thuật chế biến ớt, bảo đảm tiêu chuẩn xuất khẩu thì cây ớt mới có giá trị kinh tế cao.

Kỹ Thuật Trồng Cây Mai Vàng / 2023

Cách trồng cây mai vàng đẹp

– Khí hậu: Cây mai vàng thích nghi với vùng có khí hậu nóng ẩm hơn. Nhiệt độ lý tưởng cho chúng là từ 25 đến 30 độ C. Thời điểm tốt nhất là từ tháng 10 đến tháng 12.

– Điều kiện đất trồng cây mai vàng: Mai không kén loại đất trồng chỉ cần đất đó không quá nghèo nàn chất dinh dưỡngvà phải có tầng mặt đất dày, kỵ đất có mạch nước ngầm quá cao.

– Ánh sáng: Cây có khả năng chịu ánh nắng trực xạ. Vì vậy, vườn trồng mai nếu thông thoáng, trống trải cây mai sẽ sinh trưởng tốt hơn.. Nhưng sức chịu đựng có giới hạn không nên để đất quá khô hạn nứt nẻ.

– Trước khi trồng nên làm sạch cỏ dại, cỏ dại và rác, xới đất tươi xốp, để đất ải khoảng 10-20 ngày. Sau đó lên luống 1-1.2m có rãnh thoát nước để mai không bị úng ngập khi mưa hay nước ngầm dâng cao làm thối rễ mai. Dùng may khoan lo trong cay đào hố với kích thước 60x60x60 cm.

– Bón lót: Trộn 3 – 5kg phân hữu cơ sinh học Better HG01 với lượng 0,3- 0,5 kg cho mỗi hố trồng. Rải một phần phân hữu cơ xuống hố, đặt cây, rải tiếp phân hữu cơ quanh gốc rồi lấp đất, lèn chặt.

Mật độ và khoảng cách trồng cây mai vàng

Tùy theo mục đích trồng và độ tuổi của cây thì có mật độ trồng riêng. Khoảng cách càng thông thoáng càng tốt cây có thể lớn nhanh và lúc bứng hay chuyển cây không bị ảnh hưởng cây khác

– Rễ phát triển tốt, có nhiều rễ thứ cấp

– Cây không bị tổn thương, không bị sâu bệnh.

– Các lá ngọn đã trưởng thành, xanh tốt và có hình dạng, kích thước đặc trưng của giống.

– Bầu ươm còn chắc chắn, nguyên vẹn và có mặt trong màu đen.

Đảo đất trong hố khi trồng, đảo từ trên xuống sưới, từ ngoài vào trong hố. Sau đó tạo một hố ở giữa mô khoảng 20cm, đường kính vừa với bầu cây con nên lớn hơ bầu một chút. Dùng dao hoặc kéo cắt rời phấn đáy bầu và một đường từ miệng bầu xuống đáy bầu. Đặt bầu vào hố lấy bao nilon ra rồi lấp đất nén thật chặc.

Có thể dụng cọc buộc cây mai lại tránh bị đổ

Sau khi trồng cần phải tưới nước và chăm sóc cây hợp lý, đặc biệt nhất là mùa khô không nên để đất nứt nẻ. Ngoài ra sau khi trồng được 15-20 ngày nên tưới phân thúc cho cây.

Nếu bạn có nhu cầu mua máy móc trồng vườn mai kinh doanh thì xin vui lòng liên hệ với chúng qua hotline: 0978.455.263 để được tư vấn nhiệt tình.

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Trồng Mai Vàng Trong Chậu Hiệu Quả Nhất 2022 / 2023 trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!