Xem Nhiều 2/2023 #️ Kỹ Thuật Trồng Bí Ngô Theo Hướng Khai Thác Ngọn – Công Ty Cp Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định – Phân Bón Mặt Trời Mới # Top 9 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 2/2023 # Kỹ Thuật Trồng Bí Ngô Theo Hướng Khai Thác Ngọn – Công Ty Cp Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định – Phân Bón Mặt Trời Mới # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Kỹ Thuật Trồng Bí Ngô Theo Hướng Khai Thác Ngọn – Công Ty Cp Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định – Phân Bón Mặt Trời Mới mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bí ngô (bí đỏ) là cây dễ trồng, ngoài trồng lấy quả, người ta còn dùng ngọn non làm nguồn rau xanh rất tốt. Trong những năm gần đây, ở một số địa phương bà con nông dân trồng bí ngô chuyên khai thác lấy ngọn làm rau xanh đưa lại hiệu quả kinh tế rất cao, gấp 3 – 4 lần so với trồng lấy quả

Để trồng bí lấy ngọn, bà con nông dân có thể trồng những loại bí ngô thông thường nhưng muốn đạt hiệu quả cao hơn, bà con nên chọn giống bí siêu ngọn cao sản để trồng. Giống bí siêu ngọn có đặc điểm sinh trưởng rất mạnh, ngọn to dài và nhiều nhánh nên có thể thu được rất nhiều ngọn. Khoảng 50 ngày sau gieo là cây đã bắt đầu cho thu hoạch ngọn, năng suất cao và thu hoạch nhiều đợt.

2. Thời vụ

Bí siêu ngọn có thể trồng quanh năm, nhưng tập trung vào 2 vụ chính: vụ Thu Đông: Gieo hạt từ 1/9 – 15/10; vụ Đông Xuân, gieo hạt từ 15/12 – 25/1.

3. Chọn và làm đất

Bí ngô ưa đất tốt, giàu mùn, tơi xốp, thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước vì vậy nên chọn những chân đất cao ráo, đất thịt nhẹ pha cát. Có thể tận dụng các bờ lô, bờ thửa, bờ ruộng để trồng, trồng xen canh trong vườn cây ăn quả khi chưa khép tán nhưng cách gốc các loại cây này khoảng 1m. Cũng có thể tranh thủ trồng một vụ luân canh với lúa mùa sau khi thu hoạch nhưng phải lên luống, khơi rãnh để tránh bị úng ngập dễ bị bệnh thối gốc, thối cây.

Với đất bãi, đất vườn cần cày bừa, lên luống rộng 2m. Với đất lúa mùa, ruộng lúa sau khi gặt song còn ướt tranh thủ cày thành luống rộng khoảng 2 m để trồng cây (đã gieo qua bầu) bằng đất mồi, rồi xăm xới đất trong quá trình chăm sóc sau này.

4. Mật độ và cách gieo trồng

Ngâm hạt giống trong nước ấm từ 6 – 8 giờ. Sau đó vớt ra rửa sạch, đem ủ trong khăn ẩm cho nứt nanh mới đem gieo. Có thể gieo hạt trực tiếp trên hố hoặc gieo vào bầu chăm sóc thành cây giống cứng cáp rồi đem trồng.

– Nếu trồng trên đất bãi, đất vườn thì nên gieo hạt trực tiếp, cây bí sẽ sinh trưởng khỏe hơn. Mỗi hốc gieo 2-3 hạt, khi đã mọc thì chọn giữ lại 1 cây khỏe mạnh, còn nhổ bỏ hoặc để trồng dặm cho những hốc không mọc hoặc mọc yếu.

– Nếu trồng trên đất ruộng lúa mùa (đất ướt) thì tốt nhất nên làm bầu để trồng cây con. Sử dụng hỗn hợp giá thể gồm đất bột + mùn mục (hoặc phân chuồng hoai mục, trấu hun) theo tỷ lệ 1:1 cho vào các khay, bầu. Mỗi ô của khay hoặc mỗi bầu gieo 1 hạt, gieo xong phủ một lớp mỏng hỗn hợp đất mùn trên vừa kín hạt, sau đó tưới ẩm. Sau 2-3 ngày thì cây mọc, thường xuyên chăm sóc và tưới nước giữ ẩm. Khi cây có 2-3 lá thật thì tiến hành ra cây.

Mật độ trồng: Hàng cách hàng 2m, cây cách cây 30-40cm. Mỗi sào Bắc Bộ (360m2) có thể trồng được 500-600 cây, cao gấp 3-4 lần so với trồng bí để lấy quả.

5. Bón phân và chăm sóc

Mỗi sào Bắc Bộ nên bón lót khoảng 400-500kg phân chuồng, phân hữu cơ đã được ủ hoai mục và 15 – 20 kg phân lân, trước khi gieo hạt hoặc trồng cây. Bón càng nhiều phân chuồng thì cây bí càng sinh trưởng, phát triển khỏe, thu hái được nhiều lứa, bền cây. Nếu đất chua (pH < 6) thì cần bón bổ sung vôi bột để trung hòa độ chua của đất.

Khi cây đã bén rễ, hồi xanh (nếu trồng cây con) hoặc có 2 – 3 lá thật (nếu gieo hạt trực tiếp) nên tưới nhử bằng cách hòa 1 kg đạm urê + 2 kg supe lân vào nước, pha loãng để tưới quanh gốc.

Khi bí đã có 4-5 lá thật, cây sắp ngả ngọn thì bón thúc mỗi sào 1 kg đạm urê + 2-3kg NPK (loại 12:5:10 hoặc 16:16:8) để thúc cây vươn lóng và ngoi ngọn. Bón cách gốc 15 – 20cm, xới nhẹ kết hợp vun gốc cho cây.

Khi ngọn đã bò dài 60-70cm thì bắt đầu thu hoạch lứa đầu tiên bằng cách cắt tất cả các ngọn chính cách gốc 20-30cm. Sau đó, tiến hành nhổ sạch cỏ dại, rạch hàng cách gốc 20-25cm, bón thúc mỗi sào 2,5-3kg đạm urê hoặc NPK (loại 12:5:10 hoặc 16:16:8), lấp đất rồi tưới nhẹ. Khi các chồi gốc đã nảy mầm, ngắt bỏ những chồi nhỏ, yếu, giữ lại mỗi gốc 2-3 chồi khỏe nhất.

Các lứa thu hái tiếp theo cũng làm tương tự, khi ngọn đã dài 60-70cm, cắt ngọn gần sát gốc (để lại 2 – 3 mắt lá) và tiếp tục bón thúc, vun gốc và tưới nước đủ ẩm thường xuyên cho bí ra nhiều chồi mới có chất lượng cao.

* Lưu ý:

– Bón phân xa dần gốc theo tuổi cây, bón sâu 6-7 cm để tăng hiệu quả phân bón.

– Các lần bón phân nên kết hợp làm cỏ trước để tăng hiệu quả phân bón.

6. Tưới tiêu

Ở giai đoạn đầu sau trồng cần tưới nhẹ thường xuyên cho cây mau bén rễ hồi xanh, đảm bảo đủ độ ẩm cho cây sinh trưởng phát triển tốt.

Thời kì sinh trưởng, cây bí ngô cần lượng nước rất lớn, vì vậy cần tưới nước thường xuyên, đảm bảo độ ẩm cho cây mới có năng suất cao, chất lượng tốt.

Nếu bị mưa ngập cần tháo hết nước ngay vì cây bí không chịu được ngập úng. Ruộng bí quá ẩm để phát sinh bệnh phấn trắng.

7. Phòng trừ sâu bệnh

a. Một số sâu bệnh hại chính trên cây bí ngô:

– Ruồi đục lá: Sâu non nằm giữa 2 lớp biểu bì ăn phần diệp lục để lại đường đục ngoằn nghèo trên lá.

– Sâu ăn lá: Thường có mật độ cao khi cây sinh trưởng tốt sau trồng 25-30 ngày, chúng hại búp, lá non.

– Rệp: Thường xuất hiện trong điều kiện thời tiết khô hanh, hạn hán. Mật độ thường tăng rất nhanh do chúng đẻ ra con.

– Bọ trĩ: Chích hút dịch ở lá, ngọn, thân non làm lá bị xoăn, cứng và giòn.

– Bệnh héo xanh vi khuẩn: Gây hại ở tất cả các thời kỳ của cây nhưng nghiêm trọng nhất là thời kỳ hoa – quả và bệnh phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 25-300C. Bó mạch thâm nâu, cây không hút được nước, héo và chết.

– Bệnh giả sương mai: Gây hại cả thân, lá. Bệnh phát sinh nặng trong điều kiện nhiệt độ dưới 200C, ẩm độ không khí cao.

– Bệnh phấn trắng: Bệnh gây hại cả 2 mặt lá, nhưng thường phát sinh gây hại mạnh ở mặt trên. Nấm bệnh tồn tại trong hạt giống tàn dư cây bệnh và lan truyền theo gió.

– Bệnh khảm lá: Bệnh do virut gây hại, nếu bị bệnh từ khi cây còn nhỏ, cây còi cọc lá xoăn nhỏ và thường không ra quả. Bệnh do côn trùng chích hút truyền bệnh chủ yếu là rệp, bọ trĩ, lây từ cây bệnh sang cây khoẻ.

b. Biện pháp phòng trừ:

– Đối với sâu hại: Áp dụng các biện pháp canh tác, thủ công, sinh học. Theo dõi phát hiện sớm, khi cần phun các loại thuốc: Elincol 12 ME, Vertimex 1.8EC; Sherpa 25EC, Trebon 30EC (trừ sâu ăn lá), Confidor 100SL, Oshin 20WP, Elsin 10EC (trừ các loại chích hút), … Do tính chất lấy ngọn làm rau nên bà con nông dân cần ưu tiên sử dụng các loại thuốc trừ sâu vi sinh như Bt, NPV, hạn chế sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Phải đảm bảo thời gian cách ly khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

– Đối với bệnh hại: Xử lý hạt giống, chọn giống kháng, dọn sạch tàn dư cây bệnh tiêu hủy. Khi cần thiết phải phun thuốc: Phòng trừ bệnh héo xanh bằng cách phun hoặc tưới gốc định kỳ bằng thuốc Funguran-OH 50WP hoặc các thuốc gốc đồng, Exin 4.5 HP (Phytoxin VS), Bactocide,… Trừ bệnh sương mai, phấn trắng bằng một trong các thuốc sau: Juliet 80 WP, Vicarben-S 70 BTN, Daconil 500SC, Đồng oxyclorua (Vidoc) 80 BTN, Aliette 80WP, Ridomil Gold 68WP, Tilt Super 300EC, Bellkute 40WP, Ensino 40 SC, Binhnomyl 50WP, Manage 5WP,…

                                                                                                                                                  Ánh Nguyệt

                                                                                                                                   Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Tiêu Theo Hướng Bền Vững – Công Ty Cp Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định – Phân Bón Mặt Trời Mới

1. ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC CỦA CÂY HỒ TIÊU

Cây hồ tiêu (Piper nigrum L.) có nguồn gốc ở Ấn Độ, mọc hoang trong các rừng nhiệt đới ẩm  phía Tây vùng Ghats và Assam.  Từ thế kỷ XIII, hồ tiêu được canh tác và sử dụng rộng rãi trong bữa ăn hàng ngày. Trong nhiều năm, Ấn Độ là nước trồng hồ tiêu nhiều nhất thế giới, tập trung canh tác ở Kerela và Mysore. Sau đó,  cây tiêu được trồng phổ biến sang nhiều nước khác ở Viễn Đông, Indonesia, Malaysia, Thái Lan và SriLanka.

Ở Đông Dương, cây hồ tiêu mọc hoang được tìm thấy từ trước thế kỷ XVI nhưng đến thế kỷ XIX mới được canh tác tương đối qui mô ở vùng Hà Tiên (Việt Nam) và vùng Kampot (Campuchia).

Từ cuối thế kỷ XIX, hồ tiêu bắt đầu được phổ biến sang trồng ở Châu Phi với Mađagasca là địa bàn canh tác tiêu nhiều nhất. Ở Châu Mỹ, Brasil là nước canh tác hồ tiêu nhiều nhất với giống tiêu do nguời Nhật đưa từ Singapore sang.

Hiện nay, hồ tiêu được trồng nhiều ở các nước nằm trong vùng xích đạo khoảng 15 o vĩ Bắc và 15 o vĩ Nam. ở Việt Nam, hồ tiêu có thể trồng ở vĩ độ 17. Hồ tiêu chỉ thích hợp ở độ cao dưới 800 m, trồng ở độ cao hơn tiêu phát triển kém.

1.1. Thân, cành, lá

Hồ tiêu thuộc loại thân thảo mềm dẻo được phân thành nhiều đốt, tại mỗi đốt có 1 lá đơn. Lá có cuống, phiến lá hình trái tim, mọc cách. Ở nách lá có các mầm ngủ có thể phát sinh thành các dây thân, dây lươn, cành quả tùy theo từng giai đoạn phát triển của cây hồ tiêu.

– Dây thân: thường phát sinh từ mầm nách trên các cây tiêu nhỏ hơn 1 tuổi. Đối với cây trưởng thành, dây thân phát sinh từ các mầm nách trên dây thân chính phía dưới thấp của trụ tiêu. Đặc điểm của dây thân là góc độ phân cành nhỏ, dưới 450, cành mọc tương đối thẳng. Dây thân sinh trưởng khỏe, lóng ngắn, các đốt có nhiều rễ bám, thường được dùng để giâm cành nhân giống. Cây tiêu được nhân giống bằng loại dây thân này sinh trưởng khỏe, nhanh cho hoa quả.

– Dây lươn: phát sinh từ mầm nách của các đốt gần sát gốc của cây tiêu. Đặc trưng của dây lươn là bò sát đất và các lóng rất dài. Dây lươn cũng được dùng để nhân giống bằng giâm cành hoặc chiết. Cây tiêu được trồng từ dây lươn thường ra hoa quả chậm nhưng sinh trưởng khoẻ và có thời gian khai thác dài hơn.

– Cành quả: là cành mang trái, phát sinh từ các mầm nách trên dây thân chính của cây tiêu. Mỗi nách lá trên dây thân chỉ có 1 mầm ngủ có khả năng phát triển thành cành quả. Trên cây hồ tiêu trồng bằng dây thân, cành quả phát sinh rất sớm sau khi trồng. Trên cây tiêu trồng bằng dây lươn thường thì sau 1 năm trồng mới phát sinh cành quả. Đặc trưng của cành quả là góc độ phân cành lớn, mọc ngang, độ dài của cành thường ngắn,  < 1m, cành khúc khuỷu và lóng rất ngắn. Trên các đốt của cành quả cũng có nhiều mầm ngủ có thể phát sinh thành cành quả cấp 2, cấp 3. Cành quả được đem trồng cũng ra rễ, cây cho trái rất sớm, tuy vậy cây phát triển chậm, không leo cao trên trụ mà mọc thành bụi vì lóng đốt không có rễ bám hoặc rất ít, cây mau cỗi, năng suất thường thấp.

1.2. Hệ thống rễ

Dây tiêu trồng từ hom có các loại rễ sau đây

– Rễ cái: 3-4 rễ, các rễ này làm nhiệm vụ chính là hút nước. Sau khi trồng ra ngoài vườn được 1 năm các rễ cái này có thể ăn sâu đến 2m.

– Rễ phụ: các rễ phụ mọc thành chùm, phát triển theo chiều ngang, rất dày đặc, phân bố nhiều nhất ở độ sâu 15 – 40cm, làm nhiệm vụ hút nước và hút chất dinh dưỡng trong đất để nuôi cây

Rễ cây hồ tiêu thuộc loại háo khí, không chịu được ngập úng, do đó để tạo cho rễ cái ăn sâu, cây chịu hạn tốt và rễ phụ phát triển tốt hút được nhiều chất dinh dưỡng thì phải thường xuyên có biện pháp cải tạo làm cho đất được tơi xốp, tăng hàm lượng mùn.

Chỉ cần úng thủy 12 – 24 giờ thì bộ rễ cây hồ tiêu đã bị tổn thương đáng kể và có thể dẫn tới việc hư thối và dây tiêu có thể bị chết dần.

– Rễ bám: mọc ra từ các đốt trên thân ở trên không, làm nhiệm vụ chính là giúp cây tiêu bám vào choái, vách tường v.v… để vươn lên cao. Khả năng hút nước và hút chất dinh dưỡng của rễ bám rất hạn chế, gần như không đáng kể.

1.3. Hoa, quả

Hoa hồ tiêu ra không tập trung mà ra thành nhiều lứa. Vào mùa mưa, khi mưa đã đều, cùng với sự ra lá non là mùa hồ tiêu trổ hoa. Các búp non có chứa lá non, chồi non và mầm hoa (gié hoa) ở đốt thân bắt đầu nhú lên. Sau đó lá non mọc mạnh ra trước, tiếp theo sau đó là gié hoa và chồi non. Như vậy búp non ở đốt thân sẽ phát triển thành một cành con mang 1 gié hoa.

Hoa tự của hồ tiêu hình gié, treo lủng lẳng, dài 7 – 12cm tùy giống và tùy điều kiện chăm sóc. Trên hoa tự có bình quân 20 – 60 hoa xếp thành hình xoắn ốc, hoa lưỡng tính hay đơn tính. Các giống hồ tiêu cho năng suất cao thường có tỷ lệ hoa lưỡng tính nhiều hơn.

Quả hồ tiêu thuộc loại quả hạch, không có cuống, mang 1 hạt hình cầu.

2. YÊU CẦU SINH THÁI

Hồ tiêu là một loại cây đặc trưng của vùng nhiệt đới ẩm. Các vùng trồng hồ tiêu chính trên thế giới chủ yếu nằm ở vùng Châu Á Thái Bình Dương như Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Sri Lanca, Thái Lan và Việt Nam. Hồ tiêu cũng được trồng ở các nước khác như Brazil, Madagascar. Cây hồ tiêu đòi hỏi lượng mưa cao, nhiệt độ khá cao đồng đều và ẩm độ không khí cao, đó là kiểu khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới nóng và ẩm với sự thay đổi không đáng kể về độ dài ngày và ẩm độ không khí trong suốt năm.

2.1. Nhiệt độ

Về mặt nhiệt độ, các tài liệu cho thấy cây hồ tiêu có thể trồng được ở khu vực vĩ tuyến 20 0 bắc và nam, nơi có nhiệt độ từ 10 – 350C. Nhiệt độ thích hợp cho cây hồ tiêu từ 20 – 30 0C. Khi nhiệt độ không khí cao hơn 40 0C và thấp hơn 10 0C đều ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng. Cây hồ tiêu sẽ ngừng sinh trưởng ở nhiệt độ 150C kéo dài. Nhiệt độ 6 – 10 0C trong thời gian ngắn làm nám lá non, sau đó lá trên cây bắt đầu rụng.

2.2. Ánh sáng

Nguồn gốc tổ tiên của cây hồ tiêu mọc dưới tán rừng thưa, do vậy hồ tiêu là loại cây ưa bóng ở mức độ nhất định. Ánh sáng tán xạ nhẹ phù hợp với yêu cầu sinh lý về sinh trưởng và phát dục, ra hoa đậu quả của cây hồ tiêu và kéo dài tuổi thọ của vườn cây hơn, do vậy trồng hồ tiêu trên các loại cây trụ sống là kiểu canh tác thích hợp cho cây hồ tiêu.

2.3. Lượng mưa và ẩm độ

Cây hồ tiêu ưa thích điều kiện khí hậu nóng ẩm. Lượng mưa trong năm cần từ 1500 – 2500mm phân bố tương đối điều hòa. Hồ tiêu cũng cần một giai đoạn hạn tương đối ngắn sau vụ thu hoạch để phân hóa mầm hoa tốt và ra hoa đồng loạt vào mùa mưa năm sau. Cây hồ tiêu cũng có thể sinh trưởng và phát triển tốt ở nơi có lượng mưa thấp hơn, miễn là mưa phân bố đều trong năm.

Cây hồ tiêu cần ẩm độ không khí cao từ 70 – 90%, nhất là vào thời kỳ ra hoa. Độ ẩm cao làm hạt phấn dễ dính vào nuốm nhị và làm cho thời gian thụ phấn kéo dài do nuốm nhị trương to khi có độ ẩm. Tuy độ ẩm cao là giúp cây hồ tiêu sinh trưởng phát triển tốt, ra hoa đậu quả thuận lợi, nhưng đồng thời độ ẩm cao lại tạo điều kiện cho sâu bệnh hại trên hồ tiêu phát triển mạnh. Những nơi mà môi trường đất đủ ẩm với không khí có gió nhẹ và khô rất thuận lợi cho việc trồng hồ tiêu.

2.4. Gió

Cây hồ tiêu ưa thích môi trường lặng gió, hoặc gió nhẹ. Gió nóng, gió lạnh, bão đều không hợp với cây hồ tiêu. Do vậy khi trồng hồ tiêu tại những vùng có gió lớn, việc thiết lập các hệ đai rừng chắn gió cho cây là điều không thể thiếu được.

2.5. Đất đai 

Cây hồ tiêu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ phát triển trên đá bazan, đất đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, diệp thạch, đất cát xám trên đá granit, đất phù sa, đất sét pha cát …..miễn là đạt các yêu cầu cơ bản sau:

– Đất dễ thoát nước, có độ dốc dưới 20 0, không bị úng ngập dù chỉ úng ngập tạm thời trong vòng 24 giờ. Đất dốc thoai thoải từ 5-10 0 tốt hơn đất bằng phẳng vì thuận lợi cho việc thiết lập hệ thống thoát nước cho vườn tiêu.

– Tầng canh tác dày trên 70cm, mạch nước ngầm sâu hơn 2m.

– Đất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pHKCl từ 5 – 6.

Đất phải được cày bừa, nhặt sạch rễ cây, rải vôi bột khi bừa với liều lượng 2-3 tấn/ha. Nếu là đất từ các vườn cây ăn quả lâu năm hết nhiệm kỳ kinh tế hoặc từ vườn cà phê già cỗi thanh lý cần phải áp dụng các biện pháp khai hoang, cày bừa, rà rễ và đốt, gieo trồng cây phân xanh họ đậu, cây đậu đỗ từ 2 – 3 vụ để cải tạo đất, xử lý đất để diệt trừ nấm bệnh trước khi trồng hồ tiêu.

2.6. Yêu cầu về địa hình, độ cao so với mặt biển

Cây hồ tiêu trồng được trên đất bằng phẳng, đất dốc thoai thoải, hoặc dốc khá mạnh, miễn là đất thoát nước tốt.

 Ở Ấn Độ, người ta trồng hồ tiêu ở các vùng đồi núi có độ cao từ 700 – 1200m, ở đó hồ tiêu được trồng trên các cây che bóng cho vườn cà phê, chè. Ở nước ta, hồ tiêu có thể sinh trưởng phát triển tốt ở vùng Tây Nguyên, nơi có độ cao biến động từ 400 – 700m.

 QUY TRÌNH KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

1. Chọn đất trồng và chuẩn bị đất trồng

Cây tiêu trồng được trên nhiều loại đất khác nhau như đất đỏ phát triển trên đá bazan, đất đỏ vàng phát triển trên sa phiến thạch, diệp thạch, đất cát xám trên đá granit, đất phù sa, đất sét pha cát …. miễn là đạt các yêu cầu cơ bản sau:

– Đất dễ thoát nước, có độ dốc dưới 250, không bị úng ngập, dù chỉ úng ngập tạm thời trong vòng 24 giờ. Đất dốc thoai thoải từ 5-10 0 tốt hơn đất bằng phẳng vì thuận lợi cho việc thiết lập hệ thống thoát nước cho vườn tiêu.

– Tầng canh tác dày trên 75cm, tốt nhất trên 1m.

– Đất giàu mùn, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, pHKCl từ 5 – 6.

Tiêu trồng lại trên vườn tiêu cũ, hoặc các vườn cây ăn quả lâu năm hết nhiệm kỳ kinh tế hoặc vườn cà phê già cỗi thanh lý cần phải áp dụng các biện pháp khai hoang, cày bừa, rà rễ và đốt tàn dư thực vật. Gieo trồng cây phân xanh họ đậu, từ 2 – 3 vụ để cải tạo đất. Mùa nắng cày phơi đất, xử lý đất để diệt trừ nấm bệnh trước khi trồng tiêu. Trồng tiêu trên đất trồng cao su hay ca cao đã hết thời kỳ khai thác cũng phải luân canh 2-3 năm vì nấm Phytophthora gây hại trên hai loại cây này cũng là đối tượng bệnh hại chính trên cây tiêu.

Trước khi trồng, đất phải được cày bừa, nhặt sạch rễ cây còn sót, rải vôi bột khi bừa với liều lượng 2 – 3 tấn/ha.

2. Thiết kế lô trồng, mật độ khoảng cách

Thiết kế đúng khoảng cách mật độ tùy loại trụ. Trên đất dốc thiết kế trồng tiêu theo hàng đồng mức để hạn chế  xói mòn đất.

Chú ý thiết kế các mương rãnh thoát nước, tránh đọng nước trong vườn tiêu vào mùa mưa.

 Mật độ khoảng cách tùy thuộc rất nhiều vào loại trụ tiêu.

– Trụ đúc bê tông: cạnh đáy trụ từ 12-15cm, cạnh đỉnh trụ là 10cm cao 4m, sau khi dựng trụ còn 3,5m tính từ mặt đất. Do có tiết diện leo bám hẹp, trụ đúc thường được trồng với mật độ dày, từ 1800-2000 trụ/ha, với khoảng cách trồng là 2.2 x 2,5m hoặc 2 x 2,5m.

– Trụ gạch xây: Kích thước và hình dạng trụ gạch biến đổi tùy theo nông hộ. Có thể xây trụ gạch vuông có lõi sắt, cạnh 20-25cm, cao 3,5m hoặc trụ gạch tròn có đường kính gốc trụ 80 – 100cm và đường kính đỉnh trụ 60 – 70cm. Mật độ trụ gạch thay đổi tùy theo kích cỡ trụ. Trụ gạch vuông được dựng theo mật độ 1600 trụ/ha, khoảng cách 2,5 x 2,5m. Trụ gạch tròn do có tiết diện leo bám rộng nên được dựng với mật độ thưa hơn 1110 trụ/ha, với khoảng cách 3 x 3m.

– Trụ sống: Tùy theo khả năng sinh trưởng phát triển của bộ tán, cây trụ sống được trồng với mật độ khoảng cách khác nhau. Trụ keo dậu, anh đào, lồng mức ….được trồng với khoảng cách 2,5 x 2,5m, mật độ 1600 trụ/ha. Trụ sống cây muồng đen được trồng với khoảng cách 3 x 3m, mật độ 1100 trụ/ha.

Có thể trồng xen kẽ, một hàng trụ sống kết hợp với 1 hàng trụ bê tông với khoảng cách 2,5 x 2,5m, mật độ 1600 trụ/ha.

3. Giống tiêu sử dụng và tiêu chuẩn hom giống, cây giống

Trong vườn tiêu quy mô tương đối lớn hơn 1ha trở lên nên sử dụng từ 2 – 3 giống tiêu, mỗi giống trồng riêng một khu vực để tiện chăm sóc, thu hoạch. Các giống có triển vọng hiện nay trong sản xuất là: Vĩnh Linh, Trung Lộc Ninh.

      Hom giống đem ươm hay trồng cần đạt các tiêu chuẩn sau

       * Tiêu chuẩn cây giống khi xuất vườn

       – Cây được ươm từ 4 – 5 tháng trong vườn ươm, có ít nhất 1 chồi mang 5 – 6 lá trở lên mới đem trồng.

     – Cây không bị sâu bệnh và được huấn luyện với ánh sáng 70 – 80% từ 15 – 20 ngày trước khi đem trồng.

         b/ Hom tiêu dây thân: hom thân bánh tẻ khỏe mạnh, lấy trên các vườn tiêu    12 – 18 tháng tuổi. Đường kính dây hom thân lớn hơn 5mm, có  4 – 5 đốt, các đốt có rễ bám tốt hoặc ít nhất  2 – 3 đốt phía dưới phải có rễ bám tốt. Hom có mang ít nhất một cành quả.

          Hom thân được đem trồng trực tiếp hoặc ươm trên líp ương cho ra rễ rồi đem trồng, cũng có thể ươm hom thân vào bầu lớn, cây phát triển tốt mới đem trồng.

          Hom thân được cắt xiên phía dưới gốc, vết cắt cách đốt cuối cùng 1,5 – 2cm. Cắt hết lá và cành quả ở các đốt chôn vào đất. Tỉa bớt một số lá non và cành quả. Mỗi hom để lại từ 1 – 2 cành quả và một số lá bánh tẻ.

Trước khi đem ươm hay trồng, xử lý hom giống bằng một trong các loại thuốc sau Aliette 80 WP, nồng độ 0,1%, Ridomil Gold 68 WP nồng độ 0,1%, Curzate72WP  M8 nồng độ 0,1%. Nhúng vào dung dịch thuốc trong vòng 30 phút.

4. Trụ tiêu và kỹ thuật trồng :

4.1. Trồng cây trụ sống và cây trụ tạm

– Cây trụ sống được trồng ngay vào đầu mùa mưa, làm cỏ bón phân thúc cẩn thận. Sau khi trồng, cứ  20 – 30 ngày bón 1 lần với lượng 10 – 15g Urê + 5g KCl/cây trụ sống cho đến khi trồng mới tiêu vào 2 – 3 tháng sau đó. Có thể trồng cây trụ sống 1 – 2 năm trước khi trồng tiêu, trong trường hợp này mỗi năm bón thúc phân cho cây trụ sống từ 2 – 3 lần. Cần chăm sóc tốt cây trụ sống như cây trồng chính để cây trụ sống sinh trưởng tốt đảm bảo yêu cầu leo bám cho cây tiêu.

– Trồng cây trụ tạm: trồng tiêu cùng năm với cây trụ sống bắt buộc phải trồng trụ tạm. Sau khi trồng trụ sống 2 – 3 tháng thì trồng tiêu. Do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có chỗ cho tiêu leo bám nên cần trồng cây trụ gỗ tạm cùng lúc với trồng tiêu. Cây trụ tạm được trồng cách cây trụ sống 10-15cm. Trụ tạm có đường kính 10 – 15cm, chiều cao tính từ mặt đất từ

3 – 3,5m, chất lượng cây trụ tạm tương đối tốt để tiêu có thể leo bám trong vòng  2 – 3 năm trước khi cây trụ sống đủ lớn cho tiêu leo bám.

4.2. Trồng trụ bằng vật liệu xây dựng

Dựng trụ hoặc xây trụ trước khi trồng tiêu khoảng 1 – 1,5 tháng để gặp các trận mưa to rửa sạch bớt hồ, vữa.

Trồng cây che bóng tầng cao trong vườn trụ bằng vật liệu xây dựng để tạo bóng mát cho vườn tiêu vào thời kỳ kinh doanh. Keo dậu được trồng với khoảng cách 6 x 12m.

4.3. Trồng tiêu

          – Đào hố trồng tiêu: đào 1 hố trồng phía cây trụ tạm, ở phía xa cây trụ sống, mép hố cách trụ tạm 10 – 15 cm, sao cho tâm hố là vị trí đặt bầu tiêu hay dây tiêu cách cây trụ sống từ 40 – 50cm. Hố đào có kích thước 60 x 60 x 60cm. Đất mặt và đất sâu để riêng.

          – Bón lót:

+ Bón 10kg phân hữu cơ ủ hoai(phân bò, gà…) + 0,3kg phân lân nung chảy hoặc super lân  + 0,3 kg vôi . Trộn các loại phân lót trên với lớp đất mặt rồi lấp đầy hố trồng. Việc trộn phân lấp hố được thực hiện trước khi trồng tiêu ít nhất là 15 ngày.

+ Bón phân hữu cơ :

                                            * Komix thúc tiêu 6.2.4 : 0,3 kg/hố

                                            * Komix lân vôi + TE     : 0,5 kg/hố

                                            * Komix vi lượng          : 50 g/hố

– Khi trồng móc lại hố để trồng, trồng tiêu ngang mặt đất, không trồng âm.

– Nếu trồng bằng bầu, xé bầu tiêu nhẹ nhàng tránh vỡ bầu rồi đặt vào giữa hố, đặt bầu hơi nghiêng, hướng chồi tiêu về phía trụ, mặt bầu ngang với mặt đất, không trồng âm. Lấp đất, dùng chân dậm chặt đất xung quanh bầu.

– Trồng bằng hom thì dùng hom thân 5 mắt, đặt hom xiên với đất mặt 450, đầu hom hướng về phía trụ, vùi lấp 3 mắt vào đất, chừa trên mặt đất 2 mắt, dậm chặt đất quanh hom.

– Sau 7 – 10 ngày trồng tiêu bằng bầu, 2 – 3 ngày trồng tiêu bằng hom thân nếu trời không mưa phải tưới nước cho dây tiêu.

– Trồng dặm kịp thời các những dây tiêu bị chết và chấm dứt trồng dặm trước khi dứt mưa 1,5 – 2 tháng.

– Làm túp che nắng và chắn gió: do cây trụ sống còn nhỏ, chưa có tác dụng che bóng, cần làm túp che hoặc dàn che nắng và chắn gió cho tiêu. Dàn che làm bằng lưới công nghiệp hoặc các vật liệu che nắng khác có sẳn ở địa phương.

5. Trồng cây đai rừng, cây che bóng

 * Đai rừng

          Trồng tiêu quy mô nhỏ, diện tích dưới 1 ha, chỉ cần trồng 1 hàng muồng đen (Cassia siamea) ở đầu lô chắn hướng gió chính.

          – Trồng tiêu quy mô lớn, có chiều dài lô tiêu theo hướng gió chính dài hơn 200m cần trồng đai rừng. Đai rừng được trồng đồng thời hoặc trồng trước khi trồng tiêu, gồm 1 – 2 hàng muồng đen cách nhau 2m, khoảng cách cây 2m, trồng nanh sấu. Tùy địa hình và tốc độ gió của vùng, khoảng các giữa các đai rừng chính từ 200 – 300m. Đai rừng chính được bố trí thẳng góc hoặc có thể xiên 600 với hướng gió chính.

Tiêu trồng với cây trụ sống đã có bóng mát. Cần chú ý rong tỉa định hình cây  trụ sống và cây bóng mát trong các vườn trụ chết từ lúc mới trồng để cây trụ sống và cây bóng mát trong vườn tiêu có thân thẳng đứng cao tới 4 – 5m mà không phân cành ngang.

* Chú ý

Đối với những vườn tiêu kinh doanh trồng trên trụ chết không có cây che bóng cần trồng bổ sung cây che bóng. Cây keo dậu, cây muồng cườm trồng với mật độ 100 – 120 cây/ha, cây muồng đen 80 – 100 cây/ha.

6. Chăm sóc

6.1. Làm cỏ, tủ gốc

Làm sạch cỏ thường xuyên, nhổ cỏ mọc trong gốc bằng tay, tránh làm tổn thương vùng rễ.

          Dùng rơm rạ, cỏ rác, vỏ ngô, đậu, cành lá cây phân xanh …. tủ xung quanh gốc tiêu, cách gốc tiêu 10 – 15cm vào mùa khô để giữ ẩm cho cây, khối lượng chất tủ từ 5 – 10 kg vật liệu tủ/trụ.

6.2. Buộc dây tiêu vào trụ, tỉa cành dây tiêu

Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản thường xuyên buộc dây tiêu kịp thời để đảm bảo dây tiêu có rễ bám tốt ở tất cả các mắt. Dây buộc phải mềm, dẻo.

Trong thời kỳ kinh doanh: tỉa bỏ tất cả các dây lươn, cành ác mọc phía dưới gốc tiêu, cành lá của cành ác phải cách mặt đất 10 – 15cm, tỉa bỏ các dây thân mọc ngoài bộ tán tiêu, các dây thân mọc quá dài ở đỉnh trụ, tỉa bỏ các cành ác yếu ớt, các cành tăm nhang. Việc cắt tỉa tiêu kinh doanh cần tiến hành 2 – 3 lần trong mùa mưa. Không dùng kéo cắt các cây bị bệnh xoăn lá do bị virus xâm nhiễm để cắt các cây chưa bị bệnh.

6.3. Bón phân

6.3.1. Phân hữu cơ:

          – Phân hữu cơ truyền thống: Phân chuồng được bón hàng năm với liều lượng 15-20kg/trụ. Vào đầu mùa mưa, có thể bón trên mặt đất rồi dùng rơm, cây phân xanh, cỏ khô tủ lên phân chuồng tránh mất dinh dưỡng trong phân. Hạn chế đào rãnh sâu để bón phân chuồng vì làm ảnh hưởng bộ rễ tiêu.

          – Phân hữu cơ :

Bón cho cây tiêu thời kỳ kiến thiết cơ bản

STT

LOẠI PHÂN

ĐVT

MÙA KHÔ

ĐẦU 

MÙA MƯA

GIỮA 

MÙA MƯA

CUỐI MÙA MƯA

CÁCH BÓN

1

Komix thúc tiêu

Kg

0,5

0,8 – 1,0

0,8 – 1,0

0,8 – 1,0

Bón gốc

2

Komix lân vôi + TE

Kg

0,5

Bón gốc

3

Komix vi lượng

g

50 – 100

50 – 100

Bón gốc

4

Komix 201 (can 5 lít)

ml

50 –100

50 – 100

50 – 100

50 –100

Tưới gốc

Bón cho cây tiêu thời kỳ kinh doanh

STT

LOẠI PHÂN

ĐVT

MÙA KHÔ

ĐẦU 

MÙA MƯA

GIỮA 

MÙA MƯA

CUỐI MÙA MƯA

CÁCH BÓN

1

Komix thúc tiêu 6.2.4

Kg

0,5

1,0 – 1,5

1,0 – 1,5

1,0 – 1,5

Bón gốc

2

Komix lân vôi + TE

Kg

0,5 – 1,0

0,5 – 1,0

Bón gốc

3

Komix vi lượng

g

50 – 100

50 – 100

Bón gốc

4

Komix 201 (can 5 lít)

ml

50 –100

Tưới gốc

5

Kali

G

100 – 200

Bón gốc

  6.3.2 Phân hóa học: Bón phân NPK Mặt Trời Mới như sau: 

  Hồ tiêu kiến thiết cơ bản

Năm tuổi

Mùa Khô

Mùa mưa

Loại phân NPK Mặt Trời Mới

Số G/trụ/năm

Loại phân NPK Mặt Trời Mới

 Số G/trụ/năm

Năm trồng mới

 19-16-8+TE

 150 – 200

Năm 2

20-5-6+TE

100 – 150

 19-16-8+TE

 400 – 500

Năm 3

20-5-6+TE

 200 – 250

 19-16-8+TE

 600 – 700

   * Ghi chú:

– Năm trồng mới: ngoài phân chuồng và 0,5 kg phân lân được bón lót khi trồng, lượng phân NPK ở bảng trên được chia thành 2-3 lần để bón thúc sau trồng.

– Năm 2 và 3 lượng phân NPK mùa mưa được chia 3-4 lần để bón trong mùa mưa.

– Lượng phân mùa khô được  chia thành 2 lần để bón khi tưới.

– Hồ tiêu kinh doanh

Các đợt bón/năm

Thời kỳ bón

 Loại phân NPK Mặt Trời Mới

 Lượng phân (g/trụ)

Bón thúc ra hoa

Đầu mùa mưa

19-16-8+TE hoặc 16-16-8+TE, 20-20-15+TE

200 – 300

Bón giai đoạn ra hoa

Giữa mùa mưa

19-16-8+TE hoặc 16-16-8+TE, 20-20-15+TE

200 – 300

Bón nuôi quả

Giữa mùa mưa

19-9-19+TE hoặc 14-7-17; 16-8-16+9S+TE

200 – 250

Bón nuôi quả

Cuối mùa mưa

19-9-19+TE hoặc 14-7-17; 16-8-16+9S+TE

 200 – 250

Bón nuôi quả chín

Đầu mùa khô (kèm tưới)

19-9-19+TE hoặc 14-7-17; 16-8-16+9S+TE

 200 – 250

* Chú thích: đợt bón nuôi quả cuối cùng trong năm có thể đã vào đầu mùa khô, cần tưới nước đủ ẩm khi bón phân.

            * Bón phân đơn: lượng bón/trụ/năm như sau: 400-450g Urê + 500-600g super lân (hay lân Vân điển) + 350 – 400g KCl. Bón vào các thời kỳ sau

         Bón phân đơn cho tiêu thời kỳ kinh doanh

Thời kỳ bón

Phân Ure (g/trụ)

Phân Lân (g/trụ)

Phân KCl (g/trụ)

Đợt 1: Thúc ra hoa đầu mùa mưa

120

500-600

100

Đợt 2: Nuôi quả

120

100

Đợt 3: Nuôi quả lớn nhanh

120

100

Đợt 4: Nuôi quả lớn nhanh

100

100

Đợt 5: Nuôi quả chin

100

100

Phương pháp bón phân

Bón phân khi đất đủ ẩm, rải phân lên mặt đất xung quang tán, xới nhẹ lấp phân vào đất, tránh làm đứt rễ tiêu.

Nếu bón phân đơn thì phân lân được bón 1 lần vào đầu mùa mưa, rải đều trên mặt đất chiếu theo tán cây, cách gốc 30 – 40 cm, không nên trộn phân lân nung chảy với phân đạm.  Phân kali và đạm có thể trộn đều và bón ngay:

* Chú ý bón vôi: * Bón vôi: Hàng năm bón vôi cho vườn tiêu với liều lượng 500kg/ha. Vôi được bón bằng cách rải đều trên mặt đất, chiếu theo tán tiêu hoặc ủ chung với phân chuồng rồi đem bón cho tiêu hoặc sử dụng Komix lân vôi + TE: Bón trước khi bón các loại phân khác từ 7 – 10 ngày.

* Phân bón lá: Sử dụng một trong các sản phẩm sau đây để bổ sung dinh dưỡng cho cây tiêu: Komix Super zinc K, Bud Booster, Bortrac,  phun qua lá, 3 lần trong mùa mưa vào các thời kỳ sau:

– Ra lá non: giúp ra gié tiêu tập trung, tang tỉ lệ trổ bông, đậu trái, hạn chế rụng bông.

– Trái non: hạn chế rụng trái non.

– Trái vào chắc: giúp hạ tiêu chắc mẩy, tang độ dzem (dung trọng).

Chú ý:

+ Phun đúng nồng độ hướng dẫn trên bao bì để tránh bị cháy lá, rụng gié do nồng độ quá cao.

+ Phun phân bón lá vào những ngày trời mát không nắng gắt.

6.4. Tưới nước và thoát nước

          * Tưới nước

– Phương pháp tưới: dùng biện pháp tưới gốc cho tiêu. Trong các vườn tiêu quy mô lớn, nên bố trí hệ thống ống tưới chính ngầm trong đất để chủ động tưới và tránh làm thương tổn dây tiêu khi kéo ống tưới trong vườn tiêu.

– Định lượng nước tưới và chu kỳ tưới

    Bảng 3. Định lượng nước tưới và chu kỳ tưới nước cho 1 trụ tiêu

Loại vườn

Đất Bazan

Đất cát pha

Lượng nước (Lit/trụ)

Chu kỳ (ngày)

Lượng nước (Lit/trụ)

Chu kỳ (ngày)

Tiêu trồng mới

30 – 40

10 – 15

20 – 30

7 – 10

Tiêu KTCB

60 – 80

10 – 15

40 – 50

7 – 10

Tiêu kinh doanh

100 – 120

20 – 25

80 – 100

10 – 15

          – Thời kỳ tưới

          + Tiêu trồng mới và kiến thiết cơ bản: tưới suốt mùa khô cho đến khi có mưa. Trong năm trồng mới, nếu vào mùa mưa có những đợt hạn dài cũng cần tưới nước bổ sung cho tiêu.

          + Tiêu kinh doanh: tưới vào mùa khô khi cây đang nuôi quả, sau khi thu hoạch xong ngừng tưới nước.

          * Thoát nước

Mùa mưa, vườn tiêu phải được thoát nước tốt, vun gốc tiêu để không cho nước đọng ở gốc. Tùy thuộc vào địa hình của vườn tiêu, có thể tiến hành đào các rãnh, mương tiêu nước.

6.5. Điều chỉnh ánh sáng cho vườn tiêu

          – Rong tỉa cây che bóng và cây trụ sống

          + Trong vòng 2-3 năm đầu sau khi trồng cây trụ sống và cây bóng mát, chỉ tỉa các cành ngang, hãm ngọn cây trụ sống ở độ cao 4m tính từ mặt đất.

          + Khi cây trụ sống đã lớn và tiêu bước vào thời kỳ kinh doanh cần rong tỉa cây trụ sống và cây bóng mát để tiêu có đầy đủ ánh sáng thích hợp. Mỗi năm rong tỉa 3 – 4 lần. Đầu mùa mưa, rong mạnh cây trụ sống và cây bóng mát, chỉ để lại 2 – 3 cành nhỏ ở ngọn tán. Sau đó cứ 2 tháng rong tỉa lại 1 lần nhẹ hơn, rong lần cuối cùng trước khi chấm dứt mưa 1,5 – 2 tháng và giữ bóng mát qua suốt mùa khô.

6.6. Trồng cây che phủ đất

          – Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản trồng cây che phủ đất như cây họ đậu, cây phân xanh. Trồng các loại cây này theo băng, cách hàng tiêu 50 – 60cm.

          – Trong thời kỳ kinh doanh trồng lạc dại theo băng, cách hàng tiêu 80 – 100cm

SÂU BỆNH HẠI CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

1. CÁC NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ TỔNG HỢP SÂU BỆNH HẠI TRÊN CÂY HỒ TIÊU

          Hồ tiêu là một trong các loại cây công nghiệp bị nhiễm các loại sâu bệnh có nguồn gốc từ đất rất nghiêm trọng. Đây là các loài dịch hại rất khó phòng trị, nhất là đối với cây hồ tiêu, một loại cây trồng có bộ rễ rất nhạy cảm với sự tấn công của sâu bệnh. Vì vậy để quản lý sâu bệnh hại trong vườn tiêu có hiệu quả cần thiết phải áp dụng biện pháp quản lý tổng hợp theo các nguyên tắc sau:

1.1. Kiểm tra thường xuyên, phát hiện và xử lý kịp thời

          – Thường xuyên kiểm tra vườn tiêu để phát hiện sớm sâu bệnh ở giai đoạn mới phát sinh.

– Khi thấy triệu chứng sâu bệnh xuất hiện phải tiến hành chữa trị, đưa các bộ phận bị sâu bệnh gây hại nặng ra khỏi đồng ruộng và đốt để hạn chế sự lây lan.

1.2. Biện pháp phòng ngừa sự nhiễm sâu bệnh

– Phương pháp phòng ngừa bệnh phải được thực hiện cho các cây tiêu khỏe xung quanh những cây tiêu đã bị nhiễm các loại bệnh như: bệnh virus, bệnh héo chết nhanh, bệnh vàng lá chết chậm.

– Các dụng cụ đã dùng để cắt bỏ và chuyển các bộ phận bị bệnh của cây tiêu ra khỏi đồng ruộng nên được làm sạch hay khử trùng trước khi dùng lại trên cây tiêu khác.

– Dụng cụ nông nghiệp đã dùng ở vườn bị nhiễm bệnh phải được làm sạch và khử trùng trước khi dùng cho vườn khác.

– Hạn chế sự di chuyển của người làm vườn từ các vườn tiêu bệnh đến vườn không bệnh.

– Hệ thống thoát nước phải được thiết lập để có thể tránh được sự lan truyền của nấm bệnh qua dòng nước.

1.3. Dùng giống kháng, giống sạch bệnh

Ở Việt Nam, công tác chọn tạo giống, nhất là giống chống bệnh cho cây hồ tiêu còn bỏ ngỏ, chưa có các giống hồ tiêu chống chịu hoặc kháng sâu bệnh hại.

Để phòng ngừa bệnh hại cần lấy các vật liệu giống (dây thân, dây lươn) tại các vườn không bị nhiễm bệnh.

1.4. Các thực hành nông nghiệp để kiểm soát sâu bệnh hại tiêu

– Chọn đất trồng tiêu phù hợp, lập hệ thống thoát nước tốt cho vườn tiêu nếu cần thiết.

– Không trồng với mật độ dày hơn 2000 cây/ha.

– Khuyến khích trồng tiêu trên cây trụ sống. Rong tỉa cây che bóng thường xuyên trong mùa mưa để tạo độ thông thoáng và ánh sáng đầy đủ cho vườn tiêu.

– Cắt tỉa hết các cành nhánh ở gốc tiêu trong khoảng 30 cm trên mặt đất, để làm giảm độ ẩm tối thiểu ở phần cổ rễ và tránh sự tiếp xúc các lá ở tầng thấp với đất vì có thể dễ nhiễm nấm bệnh.

– Hạn chế xới xáo, làm cỏ. Nhổ cỏ gốc bằng tay, trồng cây che phủ giữa các hàng tiêu, cần chú ý không để thảm che phủ phát triển quá tốt sát gốc tiêu.

– Tích cực bồi dưỡng hữu cơ để tăng độ tơi xốp, tạo điều kiện cho hệ thống rễ cây tiêu phát triển khỏe mạnh, chống đỡ được sâu bệnh.

– Tăng cường phun phân bón lá

– Bón phân khoáng cân đối hợp lý cả về đa lượng, trung lượng và vi lượng

          – Vệ sinh đồng ruộng: Thu dọn các bộ phận bị sâu bệnh, các tàn dư thực vật của cây tiêu đem ra ngoài lô và tiêu hủy.

1.5. Biện pháp sinh học

          Đây là biện pháp cần được ưu tiên trong phòng trừ sâu bệnh hại hồ tiêu

– Duy trì một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các vi sinh vật có ích trong vườn tiêu để hạn chế sự gây hại của các loài sâu bệnh bằng cách: tăng cường bón phân hữu cơ, bón phân bón khoáng cân đối và hợp lý, hạn chế sử dụng hóa chất nông nghiệp.

– Thường xuyên sử dụng các chế phẩm sinh học, chế phẩm chiết xuất từ cây trồng để phòng trừ bệnh.

1.6. Biện pháp hóa học

Biện pháp hóa học được dùng như là biện pháp cuối cùng trong việc phòng trừ sâu bệnh hại tiêu.

Khi sử dụng phải tuân theo các quy định an toàn cho người lao động và các quy định an toàn thực phẩm.

2. BỆNH HẠI CHÍNH TRÊN CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

2.1. BỆNH VÀNG LÁ CHẾT CHẬM

Triệu chứng

* Trên mặt đất

Ban đầu cây sinh  trưởng, phát triển chậm, lá vàng (các lá già thường bị vàng trước) sau đó héo và rụng, tiếp theo là các đốt bị rụng. Những cây bị bệnh thường có bộ tán lá thưa thớt, ra hoa và đậu quả kém dẫn đến năng suất và chất lượng giảm. Hiện tượng cây sinh trưởng kém, vàng lá thường xuất hiện thành từng vùng cục bộ; lúc đầu chỉ có một vài cây, sau đó lan rộng ra hoặc phát triển thành nhiều vùng. Triệu chứng vàng và rụng  lá, rụng đốt thường phát triển chậm và kéo dài, có khi vài ba năm sau khi xuất hiện triệu chứng cây mới chết.

  (Cây tiêu bị bệnh vàng lá chết chậm)                                     (Triệu chứng vàng lá xuất hiện cục bộ trên vườn)

* Dưới mặt đất

Hệ thống rễ của cây tiêu bị bệnh phát triển kém, đầu rễ bị thối, rễ có những nốt sần. Những nốt sần này có thể xuất hiện riêng lẻ hay tạo thành từng chuỗi. Triệu chứng nốt sần trên rễ và đầu rễ bị thối thường xuất hiện trên cùng 1 cây nhưng cũng có thể xuất hiện riêng lẻ trên các cây khác nhau và đều đưa đến triệu chứng trên mặt đất là cây vàng, rụng lá và rụng đốt. Khi cây bị bệnh nặng thì các rễ chính và phụ đều bị thối.

Tác nhân gây hại        

Tác nhân gây triệu chứng nốt sần trên rễ chủ yếu là tuyến trùng Meloidogyne spp. và triệu chứng thối rễ là do sự gây hại của một số loài nấm, chủ yếu là: Fusarium spp., Phytophthora spp., Pythium spp…. Tuyến trùng tấn công trước, tạo ra những vết thương và nốt sưng trên rễ sau đó nấm xâm nhập làm thối rễ dẫn đến triệu chứng cây sinh trưởng chậm, vàng lá, tháo đốt và chết.

Đôi khi mặc dầu không có sự hiện diện của tuyến trùng, các loài nấm Phytophthora spp., Pythium spp…. cũng có thể tấn công vào các đầu rễ gây triệu chứng thối đầu rễ làm cây không hấp thu được dinh dưỡng và cũng dẫn đến triệu chứng cây sinh trưởng chậm, vàng lá, tháo đốt và chết.

Biện pháp phòng trừ

Tuyến trùng và nấm gây bệnh vàng lá chết chậm trên cây tiêu là các loài dịch hại có nguồn gốc từ đất vì vậy để phòng trừ có hiệu quả cần chú trọng các biện pháp phòng trừ bằng canh tác và sinh học, hạn chế sử dụng biện pháp hóa học. Biện pháp hóa học chỉ nhằm làm giảm tạm thời số lượng tuyến trùng trong  rễ và đất trồng cây tiêu, sau đó các biện pháp canh tác và sinh học sẽ giúp cây tiêu phát triển bền vững và chống chịu được sự gây hại của tuyến trùng mà không gây ô nhiễm môi trường và độc hại cho người trồng tiêu. Để hạn chế sự phát triển và gây hại của bệnh vàng lá chết chậm cần áp dụng các biện pháp sau:

– Không nên trồng tiêu trên các vườn tiêu đã nhổ bỏ do bị tuyến trùng gây hại mà chưa qua thời gian luân canh. Đất làm vườn ươm cũng không nên lấy từ những vườn này.

– Trước khi trồng mới cần vệ sinh đồng ruộng để loại bỏ các tàn dư thực vật, cày phơi đất trong mùa khô để diệt nguồn tuyến trùng trong đất.

– Bón phân cân đối, tăng cường phân bón lá và thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho cây vì ngoài việc bổ sung dinh dưỡng và cải tạo đất trong phân hữu cơ còn có các vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng có thể hạn chế được sự phát triển của tuyến trùng.

– Thường xuyên sử dụng các loại thuốc sinh học như Paecilomyces lilacinus (Palila 500WP), Chitosan, Trichoderma spp. Nên sử dụng ngay từ khi bắt đầu trồng tiêu và sử dụng liên tục hàng năm để tăng cường lượng vi sinh vật đối kháng với tuyến trùng trong đất trồng tiêu.

– Thường xuyên theo dõi và kiểm tra vườn cây để phát hiện bệnh và xử lý sớm.

– Hạn chế xới xáo và không để nước chảy tràn từ gốc tiêu này sang gốc tiêu khác trong vườn tiêu bị bệnh.

–   Những vườn đã bị nặng cần nhổ bỏ và luân canh 2 – 3 năm với cây trồng khác trước khi trồng lại tiêu.

–   Sử dụng thuốc hóa học:

o   Sử dụng thuốc hóa học để trị tuyến trùng  và một số nấm dưới đất: Tervigo 020SC kết hợp với Ridomil Gold 68WG(với nồng độ 200ml Tervigo + 200g Ridomil Gold để phòng và 200ml Tervigo + 400g Ridomil Gold để trị, pha trong 200 lít nước tưới vào từ gốc)

o   Để phòng trừ các nhóm nấm xâm nhiễm gây thối rễ (Fusarium, Pythium, Lasiodiplodia, Rhizoctonia, Phytophthora) tưới gốc EDDY 72WP (pha 500g/ 200 lít, tưới 4-5 lít/ trụ ), xử lý thuốc 2 lần vào đầu mùa mưa (tháng 5,6) và giữa mùa mưa (tháng 8,9).

2.2. BỆNH DO NẤM PHYTOPHTHORA

Triệu chứng

Bệnh xuất hiện trên tất cả các bộ phận và ở các giai đoạn sinh trưởng của cây tiêu. Nấm bệnh có thể gây hại trên lá, chùm quả, thân, rễ nhưng phổ biến nhất là ở phần thân nằm trong đất nơi tiếp giáp với mặt đất.

* Triệu chứng trên thân ngầm (thối gốc thân): Nếu nấm bệnh tấn công vào phần thân ngầm ở phần cổ rễ sẽ làm cây tiêu chết đột ngột và gọi là bệnh héo chết nhanh. Đầu tiên trên phần thân ngầm tiếp giáp với mặt đất có những vết thâm đen. Dần dần các vết thâm đen này lan rộng và ăn sâu vào bên trong thân ngầm làm tắc mạch dẫn của dây tiêu. Dây tiêu bị bệnh có triệu chứng lá bị héo nhưng vẫn còn xanh. Sau đó lá úa vàng, héo rũ, chết khô cùng với dây trên cây. Thời gian từ khi lá bắt đầu héo đến khi dây tiêu bị chết rất nhanh, thường chỉ trong vòng 5 – 10 ngày. Thường khi nấm bệnh mới xâm nhiễm vào thân ngầm, dây tiêu vẫn còn xanh tốt chưa thể hiện triệu chứng héo lá; do đó rất khó phát hiện bệnh sớm. Đến khi dây tiêu bị héo lá thì thân ngầm đã bị gây hại nặng, khó phòng trị. Khi cây bị bệnh nặng, thân ngầm và rễ cây thâm đen, hư thối, đôi khi trơn nhớt và có mùi khó chịu.

* Triệu chứng trên rễ: Nếu nấm bệnh tấn công vào hệ thống rễ, rễ tiêu sẽ bị thối, thường là thối từ đầu rễ vào. Ban đầu nấm bệnh tấn công vào các rễ nhỏ của cây tiêu sẽ  làm các rễ nhỏ bị phá hủy, lá vàng, héo và rụng. Sự nhiễm bệnh lan dần sang hệ thống rễ chính và lan vào cổ rễ và gây nên thối cả hệ thống rễ. Cây tiêu sẽ bị suy yếu từ từ, sinh trưởng kém, vàng lá và trên mặt đất có triệu chứng của bệnh vàng lá chết chậm.

 * Triệu chứng trên thân, cành, lá:

          Nếu bệnh tấn công vào các bộ phận trên mặt đất như thân, cành, lá sẽ làm các bộ phận này thối đen. Đầu tiên là những vết bệnh mềm, sũng nước trên thân, cành, lá. Sau đó các vết bệnh lan rộng ra tạo các vết thâm đen dẫn đến đến triệu chứng thối thân, thối cành, cháy lá. Những lá tiêu gần sát mặt đất thường dễ nhiễm bệnh do nấm Phytophthora sau những trận mưa lớn trong mùa mưa.

* Triệu chứng trên gié hoa, quả: Sự nhiễm nấm Phytophthora trên gié hoa, quả gây hiện tượng quả, cuống gié hoa, quả bị đen và rụng.

Tác nhân gây bệnh

Bệnh do một số loài nấm Phytophthora gây hại.

Bệnh chết nhanh thường xuất hiện trong mùa mưa. đặc biệt là những tháng mưa nhiều và tập trung ở những vườn không thoát nước tốt. Những năm mưa nhiều và kéo dài bệnh thường gây hại nặng và lây lan nhanh, đôi khi thành dịch. Những năm có hạn hán kéo dài, khả năng sinh trưởng và sức đề kháng của cây kém nên cây cũng dễ bị nấm tấn công hơn trong mùa mưa.

Nấm bệnh chủ yếu sống trong đất và lây lan từ đất qua nước mưa; nước tưới; thân, cành, lá tiêu bị bệnh rụng xuống đất. Thân, cành, lá thường bị nhiễm bệnh trong mùa mưa. Các vườn ẩm thấp, các cây có bộ tán lá rậm rạp là điều kiện thích hợp cho nấm bệnh phát triển.

Do diễn biến bệnh trên đồng ruộng rất nhanh, thường khi lá bắt đầu héo thì nấm đã ăn sâu vào bên trong các bộ phận của cây, nên đối với bệnh này phòng bệnh là chủ yếu. Để phòng trừ bệnh cần phải sử dụng biện pháp phòng trừ tổng hợp bao gồm các biện pháp: vệ sinh đồng ruộng, kỹ thuật canh tác, sinh học và hóa học. Đặc biệt chú trọng biện pháp canh tác và sinh học.

– Chọn đất trồng tiêu có tầng canh tác dày, thoát nước tốt, có mực nước ngầm thấp.

– Xử lý hom giống trước khi trồng bằng một trong các loại thuốc sau Aliette 80 WP (0,1%), Ridomil Gold 68 WP (0,1%), Rovral 50 WP (0,1%).

– Trồng tiêu với mật độ thích hợp

– Đào rãnh thoát nước, tránh để nước đọng trong gốc tiêu, vun đất cao ở phần gốc thân, không để bồn quá sâu.

– Tạo điều kiện tiểu khí hậu thuận lợi trong vườn  tiêu như: trồng cây đai rừng chắn gió, cây che bóng để vườn tiêu có độ ẩm, nhiệt độ thích hợp cho cây tiêu sinh trưởng và phát triển tốt.

 – Điều chỉnh cây che bóng hợp lý: Cây tiêu thường được cho leo bám lên các loại cây trụ sống như cây muồng đen, cây lồng mức, cây muồng cườm, cây keo dậu… Trong mùa mưa tán của các loại cây trụ sống này phát triển và tạo một vùng tiểu khí hậu dưới tán cây với ẩm độ cao và nhiệt độ thấp. Đây là điều kiện lý tưởng để cho nấm Phytophthora phát triển và lây nhiễm. Việc chặt các cành nhánh cây trụ sống trong mùa mưa là cần thiết để cây tiêu có thể nhận ánh sáng mặt trời để quang hợp và giảm độ ẩm trong vườn cây. Các cành nhánh được chặt có thể dùng để che phủ đất chống lại sự văng đất bệnh lên cây tiêu.

– Trồng các loại cây che phủ như cây lạc dại (Arachis pintoii) giữa các hàng tiêu để kìm hãm sự lan truyền của nấm Phytophthora và chống lại việc văng các hạt đất bị nhiễm Phytophthora từ các lá tiêu ở dưới thấp trong suốt mùa mưa.

– Thường xuyên kiểm tra vườn cây trong mùa mưa, đặc biệt là những trận mưa sau một đợt hạn hán kéo dài, để có thể phát hiện được bệnh sớm. Khi đã phát hiện được cây bệnh phải kiên quyết đào bỏ, thu dọn tàn dư cây bệnh đưa ra khỏi vườn và đốt để loại trừ nguồn bệnh.

– Trong quá  trình chăm sóc vườn tiêu tránh gây vết thương cho thân ngầm và  rễ  tiêu: Khi làm cỏ vào mùa mưa nên tránh làm tổn thương rễ, những cỏ mọc trong gốc nên nhổ bằng tay. Khi bón phân chú ý không để phân vô cơ tiếp xúc trực tiếp với phần thân của cây tiêu.

– Cắt bỏ các các dây lươn và các cành nhánh ở cách mặt đất khoảng 30 cm, để tạo độ thông thoáng ở phần gốc thân và hạn chế các lá ở tầng thấp tiếp xúc với đất là nơi có nhiều nguồn nấm Phytophthora.

– Bón phân vô cơ cho cây tiêu cân đối và hợp lý.

– Thường xuyên bổ sung chất hữu cơ cho đất bằng các loại phân hữu cơ hoặc sử dụng các vật liệu như: cây xoan, cây đậu tương, cây lạc, rơm rạ, ngô và các loại cây họ đậu để tủ gốc, làm tăng sự phát triển của các vi sinh vật đối kháng với nấm Phytophthora.

– Không trồng xen các loại cây là ký chủ của nấm Phytophthora trong vườn tiêu như: bầu bí, cây họ cà, cao su, ca cao, sầu riêng, bơ…

– Thường xuyên sử dụng các chế phẩm sinh học có nấm đối kháng với nấm Phytophthora như Trichoderma(Tricô – ĐHCT), Pseudomonas fluorescens ….để hạn chế sự phát triển của nấm Phytophthora. Bón 2 – 3 lần trong mùa mưa.

Biện pháp hóa học tổng hợp phòng trừ bệnh chết nhanh

Rửa vườn : Norshield 86.2WG (300 g/200 lít) phun kỹ ướt đều toàn bộ trụ tiêu và quanh gốc sau khi thu hoạch xong (tháng 3,4).

Quét gốc : Cắt bỏ cành nhánh sát mặt đất, dùng Norshield 86.2WG (50 g/1 lít) quét ướt đều phần gốc thân, cổ rễ vào đầu mùa mưa (tháng 5,6).

Tưới gốc : thực hiện 2 lần đầu mùa mưa và giữa mùa mưa EDDY 72WP (500g/ 200 lít), tưới ướt đều cho thuốc thấm sâu vào vùng rễ (4 – 5 lít/ trụ tùy theo tuổi cây).

Phun lá, bông và trái non: dùng Ridomil Gold; Agri foost 400; Hợp Trí Kaliphos (500ml/ phuy 200 lít) phun khi cây có lá non gữa 2 lần tưới Eddy (tháng 7,8 và tháng 9,10)

Lưu ý:

–   Có thể bổ sung thêm 1 lần quét thân vào giữa mùa mưa (tháng 8-9).

– Trường hợp phát hiện vườn đã có bệnh nên tưới EDDY 72WP 2 lần cách nhau 15 ngày/ 1 lần (500 – 600g/200 lít, tưới 4-5 lít/nọc)

– Sau khi phòng trị bệnh nên tưới hay bón Hợp Trí Super Humic để kích thích bộ rễ mới và hồi phục cây (bón 20g/ trụ hoặc pha 1kg/200 lít nước để tưới).

– Bổ sung thêm phân trung vi lượng phân giải chậm Micromate (50g/gốc) vào đầu và cuối mùa mưa để phòng chống hiện tượng rối loạn dinh dưỡng vàng xoăn đọt.

2.3. BỆNH KHẢM LÁ VÀ XOĂN LÁ (TIÊU ĐIÊN)

Triệu chứng

          Có 3 triệu chứng phổ biến xuất hiện trên cây tiêu:

* Triệu chứng khảm lá: Lá tiêu không bị biến dạng, triệu chứng đặc trưng là các vết khảm nhẹ trên lá bánh tẻ, giống như triệu chứng thiếu vi lượng. Cây vẫn phát triển bình thường và cho năng suất.

* Triệu chứng khảm lá biến dạng: Lá biến dạng, mép lá quăn, gợn sóng, lá dài và hẹp lại, lá xoăn cuốn vào trong, lá dày và giòn, bề mặt lá nhăn nhúm. Lá bị bệnh nặng bị mất diệp lục, có khảm đốm vàng hay vệt trắng theo gân chính của lá. Cây bị bệnh vẫn phát triển chiều cao và cho quả, nhưng cành nhánh phát triển kém, cành thường ngắn và nhỏ, ra hoa ít, chùm quả thưa ít hạt, năng suất thấp.

* Triệu chứng xoăn lùn: Cây tiêu bị bệnh thường có lá nhỏ, biến dạng; mặt lá sần sùi; lá dày và giòn; mép lá gợn sóng, có những vùng xanh đậm xen lẫn với những vùng xanh nhạt do sự phân bố không đều của diệp lục. Ngọn tiêu nhỏ lại và ra rất nhiều ngọn tạo thành búi lớn sát gốc. Các lóng đốt của cây tiêu ngắn lại, dẫn đến chiều cao cây cũng thấp hẳn so với cây bình thường. Triệu chứng này thường gặp ở vườn tiêu kiến thiết cơ bản. Trên vườn tiêu triệu chứng này thường dễ nhận biết và nông dân thường gọi là “tiêu điên”.  

Biện pháp phòng trừ:

– Không được lấy giống từ các vườn đã có triệu chứng bệnh virus. Bệnh do virus thường lây lan qua hom giống lấy từ cây đã bị bệnh. Các cây này có thể chưa thể hiện triệu chứng xoăn lá, khảm lá nhưng virus đã xâm nhập và hiện diện trong cây.

– Trong quá trình canh tác không dùng dao, kéo cắt tỉa các cây bị bệnh, sau đó cắt sang cây khỏe.

  – Cần phải kiểm tra cây tiêu xem có các côn trùng môi giới chích hút hay không. Nếu có thì phun một trong các loại thuốc sau: Bassa 50 EC nồng độ 0,1% hay Vibasa 50 ND nồng độ 0,2%, Subatox 75 EC nồng độ 0,2%, để diệt trừ côn trùng môi giới.

– Khi cây đã bị bệnh virus thì không thể cứu chữa, cần nhổ bỏ cây bệnh.

2.4. BỆNH THÁN THƯ

Triệu chứng

Đầu tiên trên lá có những đốm lớn màu vàng sau đó chuyển thành màu nâu và đen dần. Vết bệnh có hình dạng không nhất định. Khi già rìa vết bệnh có quầng đen rộng bao quanh, phân cách giữa phần mô bệnh và mô khỏe.

Bệnh thường gây hại ở đầu và mép lá tiêu, làm lá bị cháy, trường hợp bị nhiễm nặng lá sẽ bị rụng. Bệnh cũng có thể tấn công vào gié bông, gié quả làm bông, hạt bị khô đen hoặc cũng có thể gây hại thân nhánh cây tiêu làm tháo đốt, khô cành. Bệnh xuất hiện quanh năm nhưng thường phát triển mạnh trong mùa mưa.

Tác nhân gây bệnh: Do nấm Colletotrichum spp.,

Biện pháp phòng trừ:

– Tạo tỉa thông thoáng vườn cây

– Phun thuốc Tepro Super 300EC 250ml/phuy 200 lít; Rius opti; Carban… bệnh nặng phun lại lần 2 cách nhau 15 ngày.

2.6. BỆNH NẤM MẠNG NHỆN

Triệu chứng

                 (Cành tiêu bị nấm mạng nhện)               (Cành lá tiêu bị khô do nấm mạng nhện)

– Trên thân, cành, lá có những sợi màu trắng giống như sợi chỉ bám chặt làm các bộ phận này bị héo khô. Triệu chứng dễ nhận biết đó là cành và lá khô héo nhưng vẫn bám chặt vào cây do các sợi nấm kết chặt lại với nhau. Bệnh thường xuất hiện ở các cành lá trên đỉnh tán hay các cành lá phía ngoài tán.

– Bệnh làm cho cây không phát triển được chiều cao, phần dây thân từ đỉnh tán bị chết khô và tuột khỏi trụ.

Đây là loại bệnh mới xuất hiện gần đây tại một số vùng trồng tiêu ở nước ta nhưng đã gây nhiều tổn thất nặng cho người trồng tiêu

Tác nhân gây bệnh

          Do nấm Corticium koleroga. Đây là loài nấm thích ẩm độ cao, sợi nấm luôn phát triển theo hướng ánh sáng. Vì vậy bệnh phát triển mạnh trong mùa mưa và thường gây hại phần nửa phía trên của cây tiêu.

Biện pháp phòng trừ

          Sử dụng Keviar 325SC (250 ml/ phuy 200 lít) phun trên lá.

2.7. BỆNH TẢO (BỆNH ĐỐM RONG)

Triệu chứng

          Mặt trên lá có những đốm tròn hoặc hơi tròn, hơi nổi lên cao hơn bề mặt của phiến lá một chút. Ở giữa đốm tảo có lớp rong phát triển nhìn giống như lớp nhung mịn, màu nâu đỏ.

          Tảo cũng có thể gây hại trên cành và quả tiêu nhưng không phổ biến như trên lá.

(Lá tiêu bị tảo đỏ gây hại)

Tác nhân gây bệnh

          Do tảo Cephaleuros virescens. Tảo phát triển mạnh trong điều kiện mưa nhiều và ẩm. Đất thoát nước kém, cây sinh trưởng kém, vườn cây thông thoáng là điều kiện để tảo phát triển

Biện pháp phòng trừ

– Tạo tỉa thông thoáng vườn cây.

– Rong tỉa cây choái và cây che bóng trong mùa mưa.

–  Rửa vườn sau thu hoạch là hiệu quả nhất : Norshield 86.2WG (300 g/ 200 lít) phun kỹ ướt đều toàn bộ nọc tiêu và quanh gốc. Mục đích: Vệ sinh vườn tẩy các loại nấm bệnh tồn lưu trên lá, trái, thân, nọc tiêu, …

2.8. MỘT SỐ BỆNH HẠI KHÁC TRÊN CÂY TIÊU

          Ngoài ra trên cây tiêu còn có một số bệnh khác gây hại nhưng mức độ gây hại không nghiêm trọng như: bệnh đen lá (do nấm Lasiodiplodia theobromae), bệnh khô vằn (do nấm Rhizoctonia solani), bệnh nấm hồng (do nấm Corticium salmonicolor)

3.SÂU HẠI CHÍNH TRÊN CÂY HỒ TIÊU VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

3.1. RỆP SÁP (Pseudococcus sp.)

Trên cây tiêu rệp sáp gây hại tất cả các bộ phận của cây từ thân, lá, quả đến rễ. Rệp sáp hại rễ là đối tượng gây hại nguy hiểm, đã từng gây nạn dịch làm hủy diệt nhiều vườn tiêu tại Đak Lak vào những năm trước 1990 và hiện nay chúng cũng là một trong những nguyên nhân gây hiện tượng vàng lá, chết cây tại các vùng trồng tiêu ở nước ta.

Cách gây hại

* Trên mặt đất

Rệp sáp tấn công gié hoa, gié quả, đọt non, kẽ cành, mặt dưới lá tiêu. Chúng chích hút dinh dưỡng làm cho các bộ phận này không phát triển được và khô héo.

Khi rễ tiêu bị rệp sáp gây hại thì triệu chứng trên cây giống như triệu chứng bệnh vàng lá chết chậm. Thường rất khó phát hiện triệu chứng trên thân lá khi cây bị rệp gây hại ở mức độ nhẹ. Cây bị hại nặng thì vàng lá, cằn cỗi, sau đó cây rụng hết lá và chết. Vì vậy khi thấy cây có triệu chứng sinh trưởng kém, rụng lá thì cần phải kiểm tra hệ thống rễ của cây để xác định nguyên nhân.

* Dưới mặt đất

Rệp sáp chích hút thân ngầm và rễ của cây tiêu, tạo vết thương để nấm xâm nhập và làm thối rễ. Rễ các cây bị rệp nặng thường có măng xông bao xung quanh tạo thành những vùng u lớn, bên trong có rất nhiều rệp sáp. Lớp măng xông này sẽ bảo vệ rệp không bị tác động bởi các điều kiện ngoại cảnh, vì thế khi cây đã có măng xông ở rễ thì rất khó diệt rệp. Rệp sáp thường tấn công vào phần thân ngầm tiếp giáp với mặt đất (cổ rễ) trước, sau đó đến các rễ ngang và rễ chính. Do vậy, đối với các cây có triệu chứng vàng lá nặng, khi kiểm tra cổ rễ nếu không thấy rệp sáp, cần phải đào sâu đến vùng rễ ngang và rễ chính.

Rệp sáp lây lan chủ yếu nhờ vào các loài kiến, cây tiêu bị rệp sáp gây hại thường có nhiều kiến. Rệp sáp tiết ra chất thải có hàm lượng đường cao là thức ăn cho nhiều loài kiến, đồng thời chất thải này cũng tạo điều kiện cho nấm muội đen phát triển. Kiến ăn dịch của rệp sáp và mang rệp đi khắp nơi. Ngoài ra rệp sáp còn lây lan qua các con đường khác như: mưa, nước tưới, dụng cụ lao động.  

Biện pháp phòng trừ

– Thường xuyên theo dõi và kiểm tra phát hiện rệp sáp, nhất là đối với các vườn đã bị rệp sáp gây hại nặng.

– Cần chăm sóc vườn cây, cắt bỏ những cành mọc sát mặt đất, vệ sinh đồng ruộng để hạn chế sự lây lan của rệp qua kiến.

– Cắt bỏ các cành nhánh tiêu bị rệp sáp nặng, nhổ bỏ các cây tiêu đã bị rệp sáp gây hại tạo măng xông, đưa ra ngoài vườn và đốt.

– Việc phòng trừ rệp sáp hại rễ chỉ có hiệu quả khi cây bắt đầu có triệu chứng chậm phát triển, cây vàng lá nhẹ, rệp sáp chưa tạo ra măng xông. Khi kiểm tra phần cổ rễ nếu có rệp sáp thì sử dụng một trong các loại thuốc sau để tưới vào gốc tiêu: Brightin 1.8EC(250 ml/200 liters, tưới 4-5 liters/gốc), Subatox 75 EC, nồng độ 0,3 %, Pyrinex 20 EC, nồng độ 0,3 %, Suprathion 40 EC, nồng độ 0,3 %…, liều lượng 1 – 2  lít dung dịch/ gốc, tưới 2 – 3 lần cách nhau 15 ngày. Trước khi xử lý cần đào đất ra để thuốc tiếp xúc trực tiếp với rệp thì hiệu quả sẽ cao hơn. Đào đất đến đâu tưới thuốc đến đó, đợi thuốc ngấm rồi lấp đất lại.

– Các loại thuốc dạng hạt cũng rất thuận tiện để phòng trị rệp sáp hại rễ: dùng Basudin rải gốc với liều lượng 30-40g/gốc. Rạch rãnh sâu 7-10cm quanh tán trụ tiêu, rắc thuốc và lấp đất. Chỉ thực hiện khi đất đủ ẩm.

– Có thể dùng thuốc sinh học Metarhizium với lượng 500 g/ gốc để phòng trừ.

– Nếu cây đã bị măng xông thì nhổ bỏ, việc phòng trừ giai đoạn này không có hiệu quả bởi vì rễ tiêu đã bị thối không thể hồi phục lại được.

– Hạn chế trồng tiêu trên các vùng đất đã bị rệp sáp gây hại nặng.

3.2. BỌ XÍT LƯỚI hay RẦY THÁNH GIÁ (Elasmognathus nepalensis)

Đặc điểm hình thái và cách gây hại

Con trưởng thành của bọ xít lưới có màu đen, kích thước khoảng 15 x 7 mm. Cánh dài quá bụng, mảnh lưng ngực trước kéo dài ra hai bên và phình tròn ở đầu, nhìn giống như hai cánh ngắn. Mặt lưng và cánh trước có cấu tạo lưới. Vòi nằm sát mặt dưới của đầu và ngực.

Bọ xít lưới chích hút lá non, gié bông, gié quả, quả non làm rụng gié bông, gié quả, quả non, giảm tỷ lệ đậu quả và ảnh hưởng đến năng suất vườn cây. Mức độ rụng hoa, quả phụ thuộc vào mật độ bọ xít trên cây. Khi cây tiêu bị bọ xít gây hại nặng, gié bông, gié quả rụng đầy dưới đất. Bọ xít lưới thường sống ở mặt dưới lá  tiêu, ngoài ra chúng còn sống và trú ngụ ở các loại cỏ trong vườn tiêu.

Bọ xít lưới thường xuất hiện vào giai đoạn cây tiêu ra hoa và đậu quả. Thời gian xuất hiện nhiều nhất trong năm là vào đầu và giữa mùa mưa.

Biện pháp phòng trừ

          – Thường xuyên kiểm tra vườn tiêu để phát hiện sớm sự xuất hiện của bọ xít lưới.

          – Thu gom các bộ phận bị hại, đưa ra ngoài vườn để đốt.

– Làm cỏ trong vườn tiêu để phá bỏ nơi trú ngụ của bọ xít lưới.

          – Trồng tiêu với mật độ thích hợp, tạo hình để cây thông thoáng.

– Sử dụng một trong các loại thuốc như: Thiamax 25WG, Brightin 1.8EC,

Permecide 50EC, Motox, Subatox 75 EC (0,3 %)… Phun vào tán lá, chú ý phun kỹ vào tán lá và mặt dưới lá tiêu và phun vào lúc chiều tối sẽ tăng hiệu quả phòng trừ.

3.3. RỆP MUỘI(Toxoptaura sp.)

Đặc điểm hình thái, sinh học của rệp và cách gây hại

Rệp muội có màu xanh, nâu bóng hay đen.  Rệp non có màu sắc thay đổi nhưng nhạt hơn rệp trưởng thành. Rệp muội dài 2 – 3 mm, có cánh hoặc không có cánh, râu đầu tương đối ngắn.

Rệp muội thường xuất hiện và chích hút các bộ phận non của cây tiêu như đọt non, lá non, làm biến dạng, thâm đen.

Biện pháp phòng trừ

– Vệ sinh vườn tiêu để loại bỏ các cây ký chủ khác của rệp muội.

– Có thể dùng một trong các loại thuốc sau đây khi thấy cần thiết như: Subatox        75 EC (0,2 %), Thiamax 25 WG (4g/ 16 lít nước). Chỉ phun vào các bộ phận của cây tiêu bị rệp muội gây hại.

4. CÁC LOÀI SÂU HẠI TIÊU KHÁC

  Trên cây tiêu còn có các loại sâu hại khác như: rầy xanh (thuộc Bộ Homoptera), bọ xít dài (Leptocorisa actua), bọ cánh cứng ăn lá (Anomala sp., Apogonia sp.)…Tuy nhiên các loài này không xuất hiện phổ biến và mức độ gây hại không nghiêm trọng đối với cây tiêu.

Dùng một trong các loại thuốc sau: Bi 58 40 EC, Subatox 75 EC, nồng độ 0,3%, phun 2 lần cách nhau 7 – 10 ngày.

Kỹ Thuật Trồng Rau Bí Theo Hướng Khai Thác Ngọn

Thời vụ: Có thể trồng quanh năm, nhưng tập trung vào 2 vụ chính: Đông Xuân trồng tháng 11 để cắt ngọn tháng 2, tháng 3, thu quả tháng 4, tháng 5; Hè Thu trồng tháng 7 để cắt ngọn bán vào tháng 9, tháng 10.

Chọn và làm đất: Bí ngô ưa đất tốt, giàu mùn, tơi xốp, có cấu tượng nhẹ, dễ thoát nước vì vậy nên chọn những chân đất cao ráo, đất thịt nhẹ pha cát như đất phù sa ven sông, suối. Có thể tận dụng các bờ lô, bờ thửa, bờ ruộng để trồng, trồng xen canh trong vườn cây ăn quả khi chưa khép tán nhưng cách gốc các loại cây này khoảng 1m. Cũng có thể tranh thủ trồng một vụ luân canh với lúa mùa sau khi thu hoạch nhưng phải lên luống, khơi rãnh để tránh bị úng ngập dễ bị bệnh thối gốc, thối cây. Với đất bãi, đất vườn chỉ cần cày bừa, lên luống rộng 2m; với đất lúa mùa chỉ cần cày lật, lên luống rồi đặt đất mồi vào trong cây đã gieo qua bầu rồi xăm xới đất trong quá trình chăm sóc sau này.

Mật độ và cách gieo trồng: Có thể ngâm hạt trong nước ấm, vớt ra ủ trong khăn ẩm cho nứt nanh rồi đem gieo trực tiếp trên hố hoặc gieo vào bầu chăm sóc thành cây giống cứng cáp rồi đem trồng. Mỗi sào nên bón lót khoảng 400-500kg phân chuồng loại có nhiều chất độn. Càng nhiều phân chuồng thì khi bón thúc mới có thể bón được đạm để cây bí sinh trưởng, phát triển khỏe, thu hái được nhiều lứa, bền cây. Kinh nghiệm nhiều nơi cho thấy, với đất bãi, đất vườn thì nên gieo thẳng cây sẽ sinh trưởng khỏe hơn. Mỗi hốc gieo 2-3 hạt, khi đã mọc thì chọn giữ lại một cây khỏe mạnh còn nhổ bỏ hoặc để trồng dặm cho những hốc không mọc hoặc mọc yếu. Với đất ruộng nên trồng bằng cây bầu giống là tốt nhất. Vì là bí để cắt ngọn nên phải trồng dày với khoảng cách như sau: Hàng cách hàng 2m, cây cách cây 30-40cm. Mỗi sào có thể trồng được 500-600 cây, cao gấp 3-4 lần so với trồng để lấy quả.

Chăm sóc, thu hái: Khi cây đã bén rễ, hồi xanh nên tưới nhử 3 ngày/lần bằng nước giải hoặc nước phân chuồng pha loãng. Khi bí đã có 3-4 lá thật, cây sắp ngả ngọn thì cần vun gốc kịp thời để cho bí có ngọn to, bụ bẫm, non mới bán được giá. Khi ngọn đã bò dài 50-60cm thì bắt đầu thu hoạch bằng cách cắt tất cả các ngọn bí cách gốc 10-15cm. Nhổ sạch cỏ, rạch hàng cách gốc 20cm, bón thúc đạm với lượng 2,5-3kg/sào, lấp đất rồi tưới nhẹ. Khi các chồi gốc đã nảy mầm, chọn giữ lại mỗi gốc 2-3 chồi khỏe nhất, còn thì ngắt bỏ cho ngọn to. Các lứa thu hái tiếp theo cũng làm như vậy khi ngọn đã dài 60-70cm, cắt ngọn gần sát gốc và tiếp tục bón thúc, vun gốc và tưới nước đủ ẩm thường xuyên. Bí ngô cần lượng nước rất lớn để duy trì được năng suất và sản lượng chất xanh cao, vì vậy cần tưới nước thường xuyên, đảm bảo độ ẩm cho cây mới có năng suất cao, chất lượng tốt.

Phòng trừ sâu bệnh: Bí ngô hay bị các loại sâu ăn lá, nhện đỏ, rệp hại ngọn, hại lá… Cần chú ý phát hiện, phun trừ kịp thời bằng các loại thuốc sâu, thuốc trừ sâu vi sinh như Bt, NPV và đảm bảo thời gian cách ly, hạn chế sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học để tránh ngộ độc cho người mua.

Hướng Dẫn Kĩ Thuật Gieo Trồng Bí Đỏ Theo Hướng Khai Thác Ngọn.

Bí ngô (bí đỏ) là cây dễ trồng, ngoài trồng lấy quả, người ta còn dùng ngọn non làm nguồn rau xanh rất tốt. Trong những năm gần đây, ở một số địa phương bà con nông dân trồng bí ngô chuyên khai thác lấy ngọn làm rau xanh đưa lại hiệu quả kinh tế rất cao, gấp 3 – 4 lần so với trồng lấy quả

Bí ngô (bí đỏ) là cây dễ trồng, ngoài trồng lấy quả, người ta còn dùng ngọn non làm nguồn rau xanh rất tốt. Trong những năm gần đây, ở một số địa phương bà con nông dân trồng bí ngô chuyên khai thác lấy ngọn làm rau xanh đưa lại hiệu quả kinh tế rất cao, gấp 3 – 4 lần so với trồng lấy quả

1. Giống

Để trồng bí lấy ngọn, bà con nông dân có thể trồng những loại bí ngô thông thường nhưng muốn đạt hiệu quả cao hơn, bà con nên chọn giống bí siêu ngọn cao sản để trồng. Giống bí siêu ngọn có đặc điểm sinh trưởng rất mạnh, ngọn to dài và nhiều nhánh nên có thể thu được rất nhiều ngọn. Khoảng 40- 50 ngày sau gieo là cây đã bắt đầu cho thu hoạch ngọn, năng suất cao và thu hoạch nhiều đợt.

2. Thời vụ

Bí siêu ngọn có thể trồng quanh năm, nhưng tập trung vào 2 vụ chính: vụ Thu Đông: Gieo hạt từ 1/9 – 15/10; vụ Đông Xuân, gieo hạt từ 15/12 – 25/1.

3. Chọn và làm đất

Bí ngô ưa đất tốt, giàu mùn, tơi xốp, thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước vì vậy nên chọn những chân đất cao ráo, đất thịt nhẹ pha cát. Có thể tận dụng các bờ lô, bờ thửa, bờ ruộng để trồng, trồng xen canh trong vườn cây ăn quả khi chưa khép tán nhưng cách gốc các loại cây này khoảng 1m. Cũng có thể tranh thủ trồng một vụ luân canh với lúa mùa sau khi thu hoạch nhưng phải lên luống, khơi rãnh để tránh bị úng ngập dễ bị bệnh thối gốc, thối cây.

Với đất bãi, đất vườn cần cày bừa, lên luống rộng 2m. Với đất lúa mùa, ruộng lúa sau khi gặt song còn ướt tranh thủ cày thành luống rộng khoảng 2 m để trồng cây (đã gieo qua bầu) bằng đất mồi, rồi xăm xới đất trong quá trình chăm sóc sau này.

4. Mật độ và cách gieo trồng

Ngâm hạt giống trong nước ấm từ 6 – 8 giờ. Sau đó vớt ra rửa sạch, đem ủ trong khăn ẩm cho nứt nanh mới đem gieo. Có thể gieo hạt trực tiếp trên hố hoặc gieo vào bầu chăm sóc thành cây giống cứng cáp rồi đem trồng.

– Nếu trồng trên đất bãi, đất vườn thì nên gieo hạt trực tiếp, cây bí sẽ sinh trưởng khỏe hơn. Mỗi hốc gieo 2-3 hạt, khi đã mọc thì chọn giữ lại 1 cây khỏe mạnh, còn nhổ bỏ hoặc để trồng dặm cho những hốc không mọc hoặc mọc yếu.

– Nếu trồng trên đất ruộng lúa mùa (đất ướt) thì tốt nhất nên làm bầu để trồng cây con. Sử dụng hỗn hợp giá thể gồm đất bột + mùn mục (hoặc phân chuồng hoai mục, trấu hun) theo tỷ lệ 1:1 cho vào các khay, bầu. Mỗi ô của khay hoặc mỗi bầu gieo 1 hạt, gieo xong phủ một lớp mỏng hỗn hợp đất mùn trên vừa kín hạt, sau đó tưới ẩm. Sau 2-3 ngày thì cây mọc, thường xuyên chăm sóc và tưới nước giữ ẩm. Khi cây có 2-3 lá thật thì tiến hành ra cây.

Mật độ trồng: Hàng cách hàng 2m, cây cách cây 30-40cm. Mỗi sào Bắc Bộ (360m

2

) có thể trồng được 500-600 cây, cao gấp 3-4 lần so với trồng bí để lấy quả.

5. Bón phân và chăm sóc

Mỗi sào Bắc Bộ nên bón lót khoảng 400-500kg phân chuồng, phân hữu cơ đã được ủ hoai mục và 15 – 20 kg phân lân, trước khi gieo hạt hoặc trồng cây. Bón càng nhiều phân chuồng thì cây bí càng sinh trưởng, phát triển khỏe, thu hái được nhiều lứa, bền cây. Nếu đất chua (pH < 6) thì cần bón bổ sung vôi bột để trung hòa độ chua của đất.

Khi cây đã bén rễ, hồi xanh (nếu trồng cây con) hoặc có 2 – 3 lá thật (nếu gieo hạt trực tiếp) nên tưới nhử bằng cách hòa 1 kg đạm urê + 2 kg supe lân vào nước, pha loãng để tưới quanh gốc.

Khi bí đã có 4-5 lá thật, cây sắp ngả ngọn thì bón thúc mỗi sào 1 kg đạm urê + 2-3kg NPK (loại 12:5:10 hoặc 16:16:8) để thúc cây vươn lóng và ngoi ngọn. Bón cách gốc 15 – 20cm, xới nhẹ kết hợp vun gốc cho cây.

Khi ngọn đã bò dài 60-70cm thì bắt đầu thu hoạch lứa đầu tiên bằng cách cắt tất cả các ngọn chính cách gốc 20-30cm. Sau đó, tiến hành nhổ sạch cỏ dại, rạch hàng cách gốc 20-25cm, bón thúc mỗi sào 2,5-3kg đạm urê hoặc NPK (loại 12:5:10 hoặc 16:16:8), lấp đất rồi tưới nhẹ. Khi các chồi gốc đã nảy mầm, ngắt bỏ những chồi nhỏ, yếu, giữ lại mỗi gốc 2-3 chồi khỏe nhất.

Các lứa thu hái tiếp theo cũng làm tương tự, khi ngọn đã dài 60-70cm, cắt ngọn gần sát gốc (để lại 2 – 3 mắt lá) và tiếp tục bón thúc, vun gốc và tưới nước đủ ẩm thường xuyên cho bí ra nhiều chồi mới có chất lượng cao.

* Lưu ý:

– Bón phân xa dần gốc theo tuổi cây, bón sâu 6-7 cm để tăng hiệu quả phân bón.

– Các lần bón phân nên kết hợp làm cỏ trước để tăng hiệu quả phân bón.

6. Tưới tiêu

Ở giai đoạn đầu sau trồng cần tưới nhẹ thường xuyên cho cây mau bén rễ hồi xanh, đảm bảo đủ độ ẩm cho cây sinh trưởng phát triển tốt.

Thời kì sinh trưởng, cây bí ngô cần lượng nước rất lớn, vì vậy cần tưới nước thường xuyên, đảm bảo độ ẩm cho cây mới có năng suất cao, chất lượng tốt.

Nếu bị mưa ngập cần tháo hết nước ngay vì cây bí không chịu được ngập úng. Ruộng bí quá ẩm để phát sinh bệnh phấn trắng.

7. Phòng trừ sâu bệnh

a. Một số sâu bệnh hại chính trên cây bí ngô:

– Ruồi đục lá: Sâu non nằm giữa 2 lớp biểu bì ăn phần diệp lục để lại đường đục ngoằn nghèo trên lá.

– Sâu ăn lá: Thường có mật độ cao khi cây sinh trưởng tốt sau trồng 25-30 ngày, chúng hại búp, lá non.

– Rệp: Thường xuất hiện trong điều kiện thời tiết khô hanh, hạn hán. Mật độ thường tăng rất nhanh do chúng đẻ ra con.

– Bọ trĩ: Chích hút dịch ở lá, ngọn, thân non làm lá bị xoăn, cứng và giòn.

– Bệnh héo xanh vi khuẩn: Gây hại ở tất cả các thời kỳ của cây nhưng nghiêm trọng nhất là thời kỳ hoa – quả và bệnh phát triển thuận lợi ở nhiệt độ 25-30

0

C. Bó mạch thâm nâu, cây không hút được nước, héo và chết.

– Bệnh giả sương mai: Gây hại cả thân, lá. Bệnh phát sinh nặng trong điều kiện nhiệt độ dưới 20

0

C, ẩm độ không khí cao.

– Bệnh phấn trắng: Bệnh gây hại cả 2 mặt lá, nhưng thường phát sinh gây hại mạnh ở mặt trên. Nấm bệnh tồn tại trong hạt giống tàn dư cây bệnh và lan truyền theo gió.

– Bệnh khảm lá: Bệnh do virut gây hại, nếu bị bệnh từ khi cây còn nhỏ, cây còi cọc lá xoăn nhỏ và thường không ra quả. Bệnh do côn trùng chích hút truyền bệnh chủ yếu là rệp, bọ trĩ, lây từ cây bệnh sang cây khoẻ.

b. Biện pháp phòng trừ:

– Đối với sâu hại: Áp dụng các biện pháp canh tác, thủ công, sinh học. Theo dõi phát hiện sớm, khi cần phun các loại thuốc: Elincol 12 ME, Vertimex 1.8EC; Sherpa 25EC, Trebon 30EC (trừ sâu ăn lá), Confidor 100SL, Oshin 20WP, Elsin 10EC (trừ các loại chích hút), … Do tính chất lấy ngọn làm rau nên bà con nông dân cần ưu tiên sử dụng các loại thuốc trừ sâu vi sinh như Bt, NPV, hạn chế sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Phải đảm bảo thời gian cách ly khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.

– Đối với bệnh hại: Xử lý hạt giống, chọn giống kháng, dọn sạch tàn dư cây bệnh tiêu hủy. Khi cần thiết phải phun thuốc: Phòng trừ bệnh héo xanh bằng cách phun hoặc tưới gốc định kỳ bằng thuốc Funguran-OH 50WP hoặc các thuốc gốc đồng, Exin 4.5 HP (Phytoxin VS), Bactocide,… Trừ bệnh sương mai, phấn trắng bằng một trong các thuốc sau: Juliet 80 WP, Vicarben-S 70 BTN, Daconil 500SC, Đồng oxyclorua (Vidoc) 80 BTN, Aliette 80WP, Ridomil Gold 68WP, Tilt Super 300EC, Bellkute 40WP, Ensino 40 SC, Binhnomyl 50WP, Manage 5WP,…

Bạn đang xem bài viết Kỹ Thuật Trồng Bí Ngô Theo Hướng Khai Thác Ngọn – Công Ty Cp Vật Tư Kỹ Thuật Nông Nghiệp Bình Định – Phân Bón Mặt Trời Mới trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!