Kinh kê gà chọi – sách gà chép tay cực quý của người Việt

(Xem 94)

Cập nhật thông tin chi tiết về Kinh kê gà chọi – sách gà chép tay cực quý của người Việt mới nhất ngày 04/07/2020 trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đây là một cuốn sách gà chép tay mà ban biên tập diễn đàn sưu tầm được. Nội dung bao gồm Kê kinh và một số phần khác bao gồm Ngũ Hành luận, Kê Kinh luận, Cách nuôi gà chọi và bộ sưu tập hình vẽ về vảy gà. Trong dân gian hẳn có nhiều sách gà như vậy với nội dung ít nhiều khác biệt bởi mỗi người đều có thể thêm thắt, chỉnh sửa tùy vào kinh nghiệm và hiểu biết của mình. Những sách như vầy trước đây là dạng bí truyền bởi đâu ai dại gì mà đưa cho người khác đọc để “đá” ngược lại mình!

Về nguồn gốc, bên trong có ghi “sao y theo sách đá gà của một ông chức sắc đạo Cao Đài ở tòa thánh Tân An, ngày 15-2-1960”, tuy nhiên vì nội dung được chép trên cuốn vở học sinh sản xuất năm 1993 nên chúng tôi đoán nó không phải bản sao lần đầu, mà là bản sao của bản sao, tức sao chép lẫn nhau, người này sao chép của người kia. Chỉ biết một bản đến tay của Thắng (carom), do ba của cô bạn gái trước khi xuất cảnh gửi tặng (có lẽ ổng muốn hại đời anh bạn carom nhà ta, lý do tại sao thì không rõ, chỉ biết đấy là khởi đầu của một cuộc đời sa ngã).

Chúng tôi chọn đăng một phần nội dung ngoại trừ bài Kê kinh diễn nghĩa và bộ sưu tập về vảy gà (vốn đã phổ biến). Các bài “Kê kinh luận” và “Cách nuôi gà chọi” có tham khảo và bổ sung từ một nguồn sưu tập khác là sách “Thú đá gà : kê kinh, kê kinh diễn nghĩa, cách nuôi và xem gà đá” của Huỳnh Ngọc Trảng, nhà xuất bản T.P. Hồ Chí Minh – 1990. Theo chúng tôi, tác giả Huỳnh Ngọc Trảng cũng sưu tầm được một bản sách gà chép tay lưu truyền trong dân gian, nhưng riêng phần “Kê kinh diễn nghĩa”, ông lấy từ báo Nông cổ mín đàm. Bởi vậy sách mới đăng đúng tên “Kê kinh diễn nghĩa” thay vì “Kê kinh” như trong các bản chép tay; cách gọi ngắn gọn tuy phổ biến nhưng dễ nhầm lẫn với bản gốc bằng tiếng Hán-Nôm của Phạm Công. Tác giả Huỳnh Ngọc Trảng đã nhầm lẫn khi gọi phần “phụ lục” của “Kê kinh diễn nghĩa” là… “Kê kinh”! Để tiện phân biệt, chúng tôi xin đặt lại là “Kê kinh luận”.

Bản Kê kinh trong sách gà chép tay có nhiều sai biệt so với bản gốc trên báo, nhất là phần về ngũ hành đã được sửa đổi cho đơn giản và dễ hiểu hơn (tuy nhiên, “vận tam lâm” bị bỏ qua khiến cho việc tính toán nhật thần sinh khắc không khỏi thiếu sót). Các bạn có thể tham khảo phần dưới cùng.

Kê kinh luận

“Bởi mình chẳng biết nhiều bề,

Chẳng thông sanh khắc, bất kỳ mạng chi.

Tại mình coi chẳng hay suy,

Có thua rồi trách sách gì dở thay,

Xin cho hợp cách như vầy,

Bá chiến bá thắng cách nay đã truyền.

Sách xem phải nghĩ cho tàng (tường),

Hữu trung hình ngoại rõ ràng chẳng sai.

Người hiền xem mạo biết tài,

Dở hay gì cũng bề ngoài hình dung”

Kinh kê một quyển đặt ra,

Muốn chơi gà chọi phải xem cho tường,

Mỗi trang năng thấy nên tường

Thạo quen thông tốt cho ròng mới xuê

Có chơi rồi biết mới mê

Thua không nhũn chí, ăn về tung hô.

Liều công chẳng tiếc lúa bồ,

Nâng niu triu trớn, báo cô chẳng màng.

Chỉ qua kê tướng rõ ràng,

Khá nghe cho khỏi, sai lầm chẳng xong.

Kiếm gà những kẻ chơi ròng,

Biết chọi nhiều thế lẹ làng đá đau,

Đói con, non trống chẳng màu,

Dưỡng nuôi tức tưởi đá đâu có bền.

Mỏ như se sẻ thì nên,

Đã xuôi lại vắn: cắn liền, đá lia.

Mỏ to, mỏ quặp thì chê,

Chậm, làm biếng cắn: hay bê khó lòng.

Mồng dâu, mồng chốc, mồng công,

Rờ lạnh như chết, nhỏ hòng lẹ thay,

Mồng trập, mồng trích nào hay,

Khổ qua, mồng lỗ thiệt rày chẳng nên.

Qua, trập, lỗ, lái không bền,

Trích thường đi dưới, lỗ thì hay thua.

Lỗ mũi rộng lại cho to,

Lưỡi nhỏ lại có bớt: người cho kê thần.

Khi không miệng lưỡi thúi cùng,

Ấy là gà xấu: cắn ròng, rã thây.

Ô bông, mắt ếch đá hay,

Có tàn nhan đá trúng rày anh danh.

Mắt hai sắc, lại khác hình,

Thần kê nuôi lấy, để dành chớ trao.

Mắt trắng lại đỏ lẽ bền đâu,

Nuôi chi thứ ấy lo âu nhọc lòng.

Đầu hột xoài, con mắt sâu,

Lẹ làng cắn đá, mựa hầu cổ vai.

Cổ tròn lại vắn ít gai,

Dĩa dưới trốn tránh, vỉa hay vét lòn.

Đầu gốc tre, cổ rựa tong (tong teo)

Yếu cùng chậm chạp, chẳng dùng chớ nên.

Cổ dài mà hẹp đi trên

Vai chằng đôi mới vững bền cứng gai

Ít khi có gà quý thay,

Giữ gìn của quý thiệt là chẳng sai.

Cánh ốp sát, ngang cùng dài

Nào hễ sẻ đuôi đá hoài như không.

Hai cánh giáng không đồng,

Thiệt hay đau mắt chẳng xong chớ cầu.

Cánh mặt hai mươi bảy lông,

Hai lăm cánh trái ít hòng tốt đâu.

To nách, nở hậu chẳng mầu,

Đòn thì mau giảm, đá lâu gục đầu.

Xương tròn lườn thẳng mới mầu,

Mình như bắp chuối, đuôi hầu vổng lên.

Vạch đuôi xem cánh chớ quên,

Lông đuôi lông tượng mới nên gà tài.

Gà mã đá hay lại bền,

Mã ớt, mình nhỏ, tre phì sát xuôi.

Phao câu lớn, bầu dầu đôi,

Ghim sau rít rịt, lông đuôi cho nhiều.

Đá chẳng ti, tiếp bồi theo,

Xám khô, ô ướt ấy điều gà hay.

Lườn tàu thật dễ nuôi thay,

Lườn sâu, vế chặt nào ai chẳng dùng.

Dẻo dai, gà thiệt mình gân,

Don don đá lẹ, chọi hung chẳng vừa.

Đuôi cứng ngắt đứng giọt mưa,

Ưa đá sỏ mé, lẹ thôi vô ngần.

Gối rùn, bộ đứng ngang chàng,

Ấy gà dễ cáp, coi bằng (mà) cao vai.

Hàng vảy hậu xuống cho dài,

Lớn đều khỏi cựa đá hay đá bền

Nát gối hay té chẳng nên,

Vảy độ ngang cựa chạy lên cho đầy.

Nát độ thua dễ nào sai,

Cựa đóng dưới thấp: đâm hay là thường.

Chưn hèo, chưn rắn, chưn xanh,

Chân chì, chân nghệ vảy rành lấn vô.

Vảy dày coi thể như thô,

Vảy mỏng láng ướt, cẳng cho thật tròn.

Chân vuông thì phải khai mương,

Phải được như vậy mới thường đá hay.

Kê thần vấn gối một hai,

Ăn độ tới chết chẳng cần lo chi.

Vấn ba cái kế nhằm gì,

Thứ tự sấp xuống, mới thì chẳng xong.

Vấn cán gà ấy chẳng dùng,

Vấn ngang nơi cựa cũng đồng khá khuyên.

Dặm cựa trái đâm mắt liền,

Vảy hậu mười bốn làm sao cũng bền.

Chân lông vảy chạ khá khen,

Ba hàng thẳng rẳng đều liền chẳng chê.

Chân trơn sanh sứa nhiều bề,

Mé, hầu, ngang, sỏ nào hầu dở đâu

Vấn Khâu, Vấn Xéo cũng mầu,

Vấn chậu, Phủ Địa lại hầu yêu đương.

Liên Giáp Nội thiệt hảo toàn,

Hơn Liên Giáp Ngoại rõ ràng chẳng sai.

Thân dưới cựa vảy nứt hai,

Bể biên kỵ kẽm xổ hay thường thường.

Đá độ thua chắc trăm đường,

Chớ nuôi gà ấy lọ lường về sau.

Tam Tài thiệt nhỏ mới mầu,

Dặm liền ba cái đá đau vô cùng.

Nguyệt Luân cong cựa đâm lưng,

Vảy sáo giữa cẳng, lại càng tốt xinh.

Vấn Khâu ba vảy tam tinh,

Đá đòn chúng xáng, thiệt tình dễ thương.

Bốn vấn nứt giữa Khai Vương

Vấn ba, khai giữa cho tường chữ công

Gà hay nuôi lấy mà dùng

Vấn cựa, nứt bốn đá hòng chết thay (vảy Cúc Bồn)

Ba vảy dụm trên gối hay (Lạc Mai)

Đá hầu tức sặc, ít ai dám kình

Vấn Xéo ngang cựa chớ khinh,

Thủy ba là hiện khá dành để chơi,

Cúc Bồn gần chậu vảy rời,

Bốn, năm dụm lại thiệt thời rất hay.

Yến Chậu vảy lót kín thay,

Ẩn Tinh cũng đó, đá đòn chúng la

Ác Tinh nhỏ xíu nhưng là

Hình hột tấm mẳn, cũng là quý thay.

Chân đen, chân trắng cũng hay,

Kêu là Nhựt-Nguyệt đá tài đáng mê.

Ngón giữa mười bảy vảy chê,

Đá êm lại bở, phải dè chớ nuôi.

Mười chín sắp lên hẳn hòi,

Lại thêm thắt ngón, vô hồi đá đau.

Dậm nội ngón trong cũng màu

Dậm ngoại chẳng thấy hại đâu bao giờ

Hai vảy dính áp ước mơ,

Ấy là Liên Giáp nào ngờ dở chi.

Liên Giáp nứt giữa vảy thì,

Nhựt Thần đó chút mấy khi thua tiền.

Nhơn Tự vảy chẻ cũng hên

Nứt ngoài đầu ngón giữa luôn chớ lòa

Cách ba dặm ngoại ngón bìa,

Đá bị vem mắt khi thì đui chăng.

Nhơn Tự ngón thới nên cầm,

Đá thời nó lại hay đâm, sỏ cần.

Ngón dài vảy ngắn mới dùng,

Ngón trong mười bốn, ngoài chừng mười ba,

Thới năm, sáu vảy chẳng xong

Chân tiền là vảy ngón chong lên bàn.

Vảy cho được lớn, ngay hàng,

Năng coi đều đặn, no tròn khá khen.

Ấy xem cho thạo cho quen,

Kẻo mà uổng lúa, thua tiền tốn công.

Bồng thời túc mái, kêu con

Có gan chịu đòn đá thắng tới luôn

Chân vấn sáo cũng chẳng hèn

Chân cò, cổ diệc ai khen đâu là.

Nhứt thời chụm ngón bỏ ra,

Hai thời lắc mặt, thứ ba né lồng.

Ấy gà sỏ mé hay hung,

Khá lo gìn giữ để dành lớp con.

“Nhơn Tự Nội ăn vảy Son,

Son ăn vảy Mực, Mực còn ăn Dương.

Dương ăn Nhựt Tự lẽ thường,

Nhựt ăn Công Tự cho tường chẳng sai.

Công ăn Bán Nguyệt gà tài,

Bán Nguyệt ngoài móng ăn hoài Kim Kê.

Kim Kê khẩu tự chớ khi,

Khẩu Tự lại chẳng thua chi Cúc Bồn.”

Chỉ cho các sắc rõ ràng,

Đặng mà dè dặt kẻo mà chẳng an.

Ô ăn tía, tía thua vàng,

Vàng thì thua xám, tía ăn ớt ròng.

Xám ăn ớt, nhạn thua bông,

Gà đủ ngũ sắc mựa hòng sợ ai.

Tía, ô gắt, nhạn gáy dài,

Ớt, xám gáy thúc, lau thì gáy rao.

Gà bèo, gà chuối gáy khao,

Gà lai gáy quởn, chú ri gáy nhằn.

Giọng mã là thiệt tốt hơn

Thứ nhì ba dội, gáy trơn gà thường.

Mỗi canh gáy trước yêu đương,

Nội xóm ngang chạn quả tường ai qua.

Gà ô chân trắng mỏ ngà,

Lau đuôi, giáng cánh quả là linh kê.

Dở hay cho biết khen chê,

Kê thần thiệt có nhiều bề lạ thay.

Có con ngủ lại nằm dài,

Xuôi đầu, xòe cánh chân ngay dị kỳ,

Thả ra túc túc chẳng đi,

Nội vườn chẳng có gà chi dám vào,

Đạp mái thì chẳng cắn đầu,

Có con lại rượt cây cao mới kề.

Cáp gà phải lựa mọi bề,

Nếu mà sút chạn ăn về khó nuôi,

Sắc so, vảy luận đầu đuôi,

Thế thần khá sánh, thế chơi phải tường,

Một phân vảy, hai phân xương,

Đá chầu, chọi gió cáp thường thấy dai,

Đá ngang, đá sỏ khá nài,

Cao hơn gà chúng, đá rày mới nguyên.

Gà tơ chớ đá gà niên,

Gà vườn chớ đá gà trên làm gì,

Chân trơn đụng cựa ít gì,

Dầu cho vắng mấy mới khi hiểm nghèo.

Hãy còn thời vận dõi theo,

Dẫu cho hay mấy số nghèo chẳng qua.

Cách nuôi gà chọi

Đành rằng các thứ rõ thông

Dựng chan ăn độ cho rành nghề thay

Trống chấm niên lẹ lại hay

Hình như xương cẳng, xương giao đã đành

Ăn độ rồi đã thừa danh

Dưỡng nuôi cho mạnh để dành nối theo

Xám tro, vàng trụ, mái mèo

Mái râu, mái đất, mái hèo, mái xanh.

Tướng kê chọn lựa đã rành,

Cho ăn đầy đủ no cành mới xuôi.

Chơi gà nòi, chạ chớ nuôi,

Phòng gà hàng xóm tới lui chẳng mầu.

Chuồng trại sạch sẽ ráo cao,

Một trống, một mái không cho chạ vào.

Trong ngoài sạch sẽ là đầu,

Bữa nhốt, bữa thả chớ hầu có quên.

Mười ngày bèn cột ổ lên,

Cao chừng một thước, lót rơm cho đều.

Ăn tối trống mái no đều,

Lựa gút lúa sạch, trứng nhiều con sung.

Chớ rượt đuổi chạy làm lung,

Thất kinh gà hoảng, đẻ không có chừng.

Gà đẻ phải lấy bớt lần,

Để nhiều sợ bể hoặc ngừng đi chăng.

Trứng nhọn gà mái đã tường,

Trứng tròn gà trống nào hòng có sai.

Trứng nặng gà lớn xương thay,

Trứng nhỏ gà đẹt ấp thời thất công.

Trước đèn đốt rọi xem coi,

Quầng thâm chẳng thấy thiệt không có cồ.

Trứng vỏ mỏng chớ bỏ vô,

Là bữa gà đói, chó chồn rượt vây.

Gà già đẻ ít trứng thay,

Xế chiều lên ổ: con hay bao giờ.

Trứng nhỏ, chẳng đều gà so,

Lông hay giòn bể, chớ cho ấp nhiều,

Ổ lót sạch, cột chắc, treo

Để nơi khuất tịch, dễ trèo dễ lên

Chớ để gà khác gần bên,

Làm cho động đậy chẳng yên mái nằm.

Chớ để mưa tạt, dửa bầm,

Nắng đứng dọi thấu, trứng làm hầm hư.

Mỗi trưa cho mái xuống ăn

Thả xuống đi rảo, kẻo nằm mạt sanh

Đừng cho gà trống rượt dành,

Phơi lông, dúi bụi rồi lên ổ liền.

Lìa trứng lâu cũng chẳng nên,

Nếu mà lạnh ngắt, trứng bèn hư đi.

Cách chừng một khắc vị chi,

Vì gà lên ổ phải coi kỹ càng,

Nếu lấm bùn phải rửa lau,

Kẻo để nó ung, ấp càng thất công.

Ấp năm bữa xem trứng trong

Như không cồ phải toan hòng lấy đi.

Xám đen là trứng có cồ,

Mười lăm ngày nhúng lõi thời rung rinh

Còn trứng xục xịch là hư,

Chùi trứng ráo rẽ bỏ vô ổ liền,

Ấp đặng hai mươi mốt ngày

Trứng thời khẻ mỏ, nở rày cũng mau.

Trứng sát cứ gỡ chẳng sao,

Đợi gà cứng cáp, xuống vào ban trưa.

Lấy tay cạy mỏ chớ chừa,

Khỏi rút mỏ trấu, ngăn ngừa về sau.

Tấm mẳn ăn lúc ban đầu,

Nước sôi để nguội làu làu chớ quên.

Cho ăn thiếu thốn chẳng bền,

Đói con, non trống nào bền nào dai!

Bắt gà lẻ mẹ không hay,

Tự nhiên để vậy lâu ngày càng sung.

Nếu trời ướt át chớ quên,

Cho ăn khô ráo: khỏi hen, khỏi sò.

Gà sáu tháng đổ lông giò,

Biết gáy một tháng phải lo tích mồng,

Nửa tháng xổ nhấp một lần,

Đặng quen đòn đá đứng lâu đá bền.

Một nhang trở lại làm ngăn,

Ban đầu xổ ít, lần lần tăng thêm.

Gà tơ chớ xổ gà niên,

Chọi gà vừa chạn, sợ hư xương mềm.

Vỉa, khấu chớ để đá luôn,

Can ra xổ lại, phòng gà hư chăng.

Một chặp cho uống nước sơ,

Thổi hơi, đánh cán để chờ chi lâu.

Xổ rồi phải nhớ vỗ hen,

Vỏ trầu với muối cho ăn khỏi sò.

Mài ngải với rượu xức vô,

Cánh hông đầu cổ đặng cho tan bầm.

Cẳng gà cũng phải đem dầm,

Vừa tới đầu gối kẻo hòng hư chân.

Sau mười phút nhớ phơi lông,

Tắm nắng vừa phải, chớ không nướng gà.

Gặp mái chớ để theo rà,

Tối cho ăn uống theo đà mỗi đêm,

Cây lót để ngủ chớ quên,

Tránh không có gió và khô chỗ nằm.

Thục địa, cam thảo, da tây,

Nấu cho uống dặm: đá rày bền lâu.

Chớ cho đạp mái lần nào,

Kẻo đứng không vững, khuya thì run chân.

Cứt khô, ngủ chẳng giấu đầu,

Là gà sung mạnh chớ lo sợ gì.

Nếu gà đau mắt phải lo,

Lá khế non, muối cùng nhai phun vào.

Hoặc con mắt có hạt cườm,

Ốc bươu đốt, xức vậy mà rất hay.

Gà cước chậu mới khó cho,

Để dầm nước lạnh thì giò bớt sưng.

Hoặc lấy mắm nêm bó chưn,

Lâu ngày mới hết, nhớ ngưng xổ gà.

Bị trĩ: ỉa rặn không ra,

Lá mồng tơi đỏ ăn mà rất hay.

Dầu đu đủ uống hàng ngày,

Thì trơn cái ruột, bịnh rày bớt đi.

Ăn không tiêu chẳng hại gì,

Cho ăn chút muối, uống thì nước hâm.

Gà mắc gió (dùng) rau húng đâm,

Lấy mà cho uống, dầu phong xức mình.

Kỹ càng các việc đã bày,

Nếu mà làm đúng, ít khi thua người,

Bởi chỉ rõ lời cao ngoan,

Bắt vần đủ kiểu, miễn sao dễ tường,

Lời thô, tiếng tục tầm thường,

Xin người kinh sử văn chương chớ cười.

Ngũ hành sanh khắc

Tương sanh

Kim sanh thủy

Thủy sanh Mộc

Mộc sanh Hỏa

Hỏa sanh Thổ

Thổ sanh Kim

Tương khắc

Kim khắc Mộc

Mộc khắc Thổ

Thổ khắc Thủy

Thủy khắc Hỏa

Hỏa khắc Kim

Lưu ý: nếu mình sanh nó thì mình hơn nó. Ngược lại, nó bị mình khắc thì nó lại thua mình.

Tính tháng âm lịch

Tháng giêng thuộc Dần

Tháng hai thuộc Mẹo

Tháng ba thuộc Thìn

Tháng tư thuộc Tỵ

Tháng năm thuộc Ngọ

Tháng sáu thuộc Mùi

Tháng bảy thuộc Thân

Tháng tám thuộc Dậu

Tháng chín thuộc Tuất

Tháng mười thuộc Hợi

Tháng mười một thuộc Tý

Tháng chạp thuộc Sửu

Quý

Tháng 1, 2, 3 thuộc mùa Xuân hành Mộc

Tháng 4, 5, 6 thuộc mùa Hạ hành Hỏa

Tháng 7, 8, 9 thuộc mùa Thu hành Kim

Tháng 10, 11, 12 thuộc mùa Đông hành Thủy

Lưu ý: kể từ ngày 13 đến 30 trong tháng cuối của mỗi quý thuộc về Tứ Quý, hành Thổ.

Mùa Xuân

Mộc vượng Xám

Hỏa tướng Điều

Kim ưu Nhạn

Thổ tù Vàng

Thủy tử Ô

Mùa Hạ

Hỏa vượng Điều

Thổ tướng Vàng

Mộc ưu Xám

Thủy tù Ô

Kim tử Nhạn

Mùa Thu

Kim vượng Nhạn

Thủy tướng Ô

Thổ ưu Vàng

Hỏa tù Điều

Mộc tử Xám

Mùa Đông

Thủy vượng Ô

Mộc tướng Xám

Kim ưu Nhạn

Thổ tù Vàng

Hỏa tử Điều

Giải thích

Xuân: Mộc vượng, Hỏa tướng, Kim ưu, Thổ tù, Thủy tử.

Vượng, ưu, tù, tử có tánh cách khác nhau. Vượng và tướng đều thạnh mà vượng thì có phần hơn (vì chánh mùa). Ưu, tù, tử đều suy mà ưu còn khá hơn tù, tử (chữ tử: chết là suy nhất).

Mộc: Xám chánh mùa thạnh hơn Điều (Tía): Hỏa vì Mộc sanh Hỏa, nếu Xám mã và cánh xám mà có lộn mã đỏ cũng tốt vì đỏ thuộc Hỏa, hai sắc đều thạnh cả. Còn Điều mã đỏ, cánh đen, sắc đen thuộc Thủy: suy. Điều có sắc thạnh lẫn sắc suy.

Như vậy, Xám đá với Điều, Xám có phần lấn về sắc là được một phần hơn. Nếu vây vi tốt hơn thì nhất định Xám sẽ thắng. Thế là Xám hơn Điều đó là so sắc thạnh với nhau.

Dưới đây là so sắc suy với nhau:

Kim ưu Nhạn

Thổ tù Vàng

Thủy tử Ô

Trong ba sắc trên Ô là sắc suy nhất, nếu Vàng đá với Ô thì sắc Vàng sẽ khá hơn Ô. Hơn nữa Thổ khắc Thủy thì Vàng sẽ thắng Ô. Đó là nói về mùa, còn lấy nhật thần mà suy thì cũng thêm phần thắng theo phương cách áp dụng như sau:

Thí dụ: mùa Xuân, Ô suy mà đá nhằm ngày Thổ thì càng xấu vì ngày ấy khắc Thổ thì càng xấu hơn, khắc Thủy nếu bằng chạn, độ kém bằng nhau thì Ô phải thua. Nhiều khi Ô đang thắng mà nhằm ngày khắc khiến bị xui bay mỏ, đui mắt cho đến khi thủ huề hoặc thua ngược. Cứ theo các phương thức nói trên về mùa, sắc cũng như về nhật thần mà suy nghiệm để áp dụng cho những trường hợp khác thì chắc thắng nhiều hơn bại.

Bạn đang xem bài viết Kinh kê gà chọi – sách gà chép tay cực quý của người Việt trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!