Xem Nhiều 3/2023 #️ Chính Sách Thuế Xuất Khẩu Phân Bón Của Trung Quốc Trong Năm 2012 # Top 7 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 3/2023 # Chính Sách Thuế Xuất Khẩu Phân Bón Của Trung Quốc Trong Năm 2012 # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Chính Sách Thuế Xuất Khẩu Phân Bón Của Trung Quốc Trong Năm 2012 mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đối với Phân bón gốc Phosphate: Chính phủ Trung Quốc vừa chính thức công bố chính sách thuế xuất khẩu năm 2012. Theo thông báo​​, đã có sự thay đổi so với năm 2011 về cách tính thuế xuất khẩu các mặt hàng phân bón NP, TSP và các loại phân bón được đóng trong bao nhỏ trọng lượng dưới 10Kg. Các loại phân bón này sẽ bị áp mức thuế suất 82% khi được thông quan vào các tháng trong mùa cao điểm từ tháng 1 đến tháng 5 và từ tháng 10 đến tháng 12, trong đó bao gồm 7% thuế tạm thời và 75% thuế đặc biệt. Đối với những tháng mùa thấp điểm từ tháng 6 đến tháng 9 sẽ vẫn áp dụng 7% thuế suất tạm thời nhưng không áp dụng 75% thuế đặc biệt.

Chính phủ đã quyết định duy trì các loại thuế, giá tham chiếu và giá trần giống như đã được áp dụng trong năm 2011 đối với phân bón MAP, DAP và các hỗn hợp giữa DAP và MAP. Theo đó, những sản phẩm này sẽ bị áp mức thuế suất 110% trong mùa cao điểm từ tháng 1 đến tháng 5 và từ tháng 10 đến tháng 12, trong đó bao gồm 35% thuế tạm thời và 75% thuế đặc biệt. Đối với những tháng mùa thấp điểm từ tháng 6 đến tháng 9, không áp dụng thuế suất đặc biệt đối với xuất khẩu MAP, DAP và hỗn hợp giữa DAP và MAP, nhưng mức thuế tạm thời là 7% sẽ được áp dụng đối với (1) DAP được bán tại mức hoặc thấp hơn mức giá trần 3.400 NDT/tấn, và (2) MAP và hỗn hợp giữa DAP và MAP được bán tại mức hoặc thấp hơn giá trần 2.900 NDT/tấn. Khi giá xuất khẩu cao hơn giá trần trong mùa thấp điểm thì mức thuế suất tạm thời sẽ được tính toán trên cơ sở sau: (1,07 – (giá trần/giá xuất khẩu)) * 100

Vì vậy, ví dụ, nếu DAP được bán với giá 4.000 NDT/tấn thì thuế suất tạm thời sẽ được tính là:

(1,07 – (3.400 /4.000)) * 100 = 22% Thuế suất xuất khẩu Axit phosphoric và phân bón PKs sẽ vẫn áp cho cả năm là 7%, trong khi phân bón NPKs sẽ tiếp tục bị áp mức thuế suất 110% trong 03 quý đầu năm 2012, trong đó bao gồm 35% thuế tạm thời và 75% thuế đặc biệt, và mức 95% trong quý thứ 4 khi thuế tạm thời giảm xuống 20% nhưng thuế đặc biệt vẫn được duy trì ở mức 75%.

Thuế suất xuất khẩu đối với phân bón Urea trong năm 2012 đã được xác nhận ngày hôm nay và như dự đoán, không thay đổi so với thuế suất năm 2011. Thuế suất cao vẫn được duy trì tại mức 110% (35% cộng với 75% thuế đặc biệt) từ Tháng 11 cho đến hết tháng Sáu. Từ tháng 7 cho đến tháng 10, mức giá cơ sở đã được thiết lập ở mức 2.100 NDT/tấn. Nếu giá xuất khẩu dưới mức giá này, thuế suất sẽ là 7%, nếu cao hơn mức giá này, một công thức sẽ được sử dụng: (1,07 – (giá cơ sở/giá xuất khẩu)) x 100.

Chính phủ Trung Quốc đã có sự thay đổi trong việc áp mức thuế suất cho phân bón Urea đóng trong bao dưới 10Kg là 7% trong mùa thấp điểm và 82% trong mùa cao điểm.

apromaco

Trung Quốc Tăng Thuế Xuất Khẩu Phân Bón Và Những Ảnh Hưởng Đối Với Thị Trường Việt Nam

Kể từ năm 2005, giá các loại phân bón trên thế giới bắt đầu tăng mạnh. Hiện tại, giá phân đạm trên thế giới đứng ở mức 400 USD/tấn, trong khi giá phân đạm ở Trung Quốc là 290 USD/tấn. Mức chênh lệch giá này kích thích các nhà sản xuất bán sản phẩm của mình ra nước ngoài để kiếm lợi nhuận. Trong 2 tháng đầu năm nay, lượng phân đạm xuất khẩu của Trung Quốc đạt 1,71 triệu tấn, tăng gấp 3 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Các loại phân lân monoammoium xuất khẩu tăng 280% và phân lân diammonnium xuất khẩu tăng 130%. Do đó, việc nâng thuế xuất khẩu các loại phân bón của Chính phủ Trung Quốc là thông điệp rõ ràng gửi tới các nhà sản xuất phân bón không nên vì lợi nhuận mà bán sản phẩm của mình ra nước ngoài dẫn tới khả năng thiếu phân bón phục vụ sản xuất nông nghiệp trong nước.

Lượng phân bón sản xuất của Trung Quốc cơ bản cung cấp đầy đủ cho sản xuất nông nghiệp. Do đó, nếu Trung Quốc kiểm soát tốt việc xuất khẩu phân bón sẽ bảo đảm đủ lượng phân bón cần cho vụ Xuân năm nay. Trung Quốc lo ngại giá phân bón, giống và thuốc trừ sâu tăng sẽ tác động xấu tới tâm lý sản xuất của người nông dân.

Những diễn biến tình hình trên thị trường phân bón Trung Quốc gây tác động xấu tới việc nhập khẩu phân bón Việt Nam. Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội phân bón Việt Nam dự báo rằng điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành nông nghiệp Việt Nam. Việc tăng thuế xuất khẩu có thể đẩy giá phân Urê của Trung Quốc lên tới 800 USD/tấn, so với mức 300 USD/tấn hiện nay.

Hiện tại, các công ty phân bón Việt Nam mới chỉ sản xuất được 53% nhu cầu phân Urê, 75% phân lân, và 100% phân NPK. Trong khi đó, Việt Nam phải nhập khẩu 100% các loại phân DAP, SA, Kali và phân lân. Việt Nam nhập khẩu phân bón từ Trung Quốc phần lớn là do qua đường tiểu ngạch nên không thống kê được chính xác, nhưng nguồn cung này rất quan trọng với ngành nông nghiệp. Phân bón là một trong mười mặt hàng chiến lược không được phép tăng giá cho đến ngày 1/6 tới theo yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ nhằm kiềm chế lạm phát, trong khi giá phân bón các loại trên thị trường thế giới đã tăng ở mức kỷ lục trong vòng 50 năm qua.

Nhập khẩu phân bón năm 2006 của Việt Nam trị giá khoảng 673 triệu USD. Số liệu thống kê sơ bộ trong năm 2007 cho thấy cả nước đã nhập 3,8 triệu tấn phân bón các loại, đạt kim ngạch trên 997 triệu USD, tăng 22,5% về lượng và tăng 45,1% về trị giá so với năm 2006, mặc dù tình hình nhập khẩu phân bón không có nhiều biến động.

Năm 2007, Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp phân bón lớn nhất cho Việt Nam, chiếm trên 55% tổng lượng phân bón nhập khẩu của cả nước, bỏ khá xa so với nhà cung cấp lớn thứ hai là Nhật Bản với tỷ trọng 7,3%. Trong năm 2007, nhập khẩu phân bón về từ thị trường Trung Quốc tăng khá mạnh, tăng tới 70% về lượng và tăng 94% về trị giá so với năm 2006, đạt 2,1 triệu tấn, trị giá trên 579 triệu USD. Chủng loại phân bón nhập về chủ yếu từ thị trường Trung Quốc là Urê, DAP, SA và MAP. Cơ cấu chủng loại phân bón nhập khẩu từ Trung Quốc năm 2007: Phân Urê, DAP, SA, MAP, NPK, phân lân, Kali, MOP.

Trong 2 tháng đầu năm 2008, Việt Nam nhập khẩu phân bón tăng mạnh cả về số lượng và giá trị. Giá DAP trong tuần từ 10-14/3/2008 vẫn trong xu hướng tăng mạnh. Hiện tại, giá DAP đã tăng lên mức cao nhất kể từ trước đến nay, đạt 1.000 USD/tấn, FOB. Mặc dù, nguồn cung phân bón hiện đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất nhưng do giá phân bón trên thị trường thế giới tăng trở lại nên giá phân trong nước cũng tăng theo. Giá phân Urê tại các tỉnh trong thời gian từ 10-14/3/208 tăng thêm từ 1.300 đến 1.600 đồng/kg so với giá tuần trước đó và tăng khoảng 65% so với cùng kỳ năm ngoái, giao động ở mức 7.600-8.600 đồng/kg. Đặc biệt, giá DAP tăng rất mạnh, lên 18.000-19.000 đông/kg. Hiện nay, nhu cầu phân bón Urê cho vụ Đông Xuân này là khoảng 300 ngàn tấn, trong đó, miền Bắc khoảng 200 ngàn tấn, miền Trung khoảng 100 ngàn tấn.

Ngoài thị trường cung cấp quen thuộc là Trung Quốc, nguồn cung cấp Urê cho Việt Nam còn có thêm Đài Loan. Tuy nhiên, tỉ trọng nhập khẩu vẫn chiếm phần lớn từ Trung Quốc chiếm tới 98% về lượng. Giá phân Urê Việt Nam nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc trong tháng 2/08 tăng khoảng 21 USD/tấn, tăng 6,6% so với tháng trước, đạt trung bình 321 USD/tấn, còn giá nhập về từ Đài Loan là 310 USD/tấn.

Thuế Giá Trị Gia Tăng, Thuế Xuất Khẩu Đối Với Mặt Hàng Đạm Urê Xuất Khẩu (Tổng Công Ty Phân Bón Và Hóa Chất Dầu Khí)

Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu đối với mặt hàng đạm Urê xuất khẩu (Tổng Công ty Phân bón và Hóa Chất Dầu khí)

© DONG NAI CUSTOMS – Công văn cập nhật lúc 14h00 ngày 09/12/2020

Kính gửi: Tổng Công ty Phân bón và Hóa Chất Dầu khí

Bộ Tài chính nhận được công văn số 1753/PBHC-TCKT ngày 07/10/2020 của Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí đề nghị hướng dẫn cách áp dụng chính sách thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng (GTGT) của mặt hàng đạm Urê xuất khẩu. Về vấn đề này, Bộ Tài chính có ý kiến như sau:

1. Về thuế GTGT

– Tại khoản 1 Điều 1 Luật số 106/2006/QH13 quy định đối tượng không chịu thuế như sau: “Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác; sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản phẩm trở lên.”.

– Tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 146/2017/NĐ-CP ngày 15/12/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015 của Chính phủ quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT như sau:

“1. Khoản 11 Điều 3 được sửa đổi, bổ sung như sau:

11. Sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản khai thác chưa chế biến thành sản phẩm khác.

Sản phẩm xuất khẩu là hàng hóa được chế biến trực tiếp từ nguyên liệu chính là tài nguyên, khoáng sản có tổng trị giá tài nguyên, khoáng sản cộng với chi phí năng lượng chiếm từ 51% giá thành sản xuất sản phẩm trở lên trừ các trường hợp sau:

– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh trực tiếp khai thác và chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng.

– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ tài nguyên, khoáng sản do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến mà trong quy trình chế biến đã thành sản phẩm khác sau đó lại tiếp tục chế biến ra sản phẩm xuất khẩu (quy trình chế biến khép kín hoặc thành lập phân xưởng, nhà máy chế biến theo từng công đoạn) thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng.

– Sản phẩm xuất khẩu được chế biến từ nguyên liệu chính không phải là tài nguyên, khoáng sản (tài nguyên, khoáng sản đã chế biến thành sản phẩm khác) do cơ sở kinh doanh mua về chế biến hoặc thuê cơ sở khác chế biến thành sản phẩm xuất khẩu thì sản phẩm xuất khẩu này thuộc đối tượng áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 12 Luật thuế giá trị gia tăng.

– Tại khoản 23 Điều 4 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành về thuế GTGT (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016, Thông tư số 25/2018/TT-BTC ngày 16/3/2018) quy định: “Cục Thuế các tỉnh, thành phố phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành trên địa bàn theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan để hướng dẫn các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất, kinh doanh xuất khẩu sản phẩm từ tài nguyên, khoáng sản căn cứ đặc tính sản phẩm và quy trình sản xuất sản phẩm để xác định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản đã chế biến hoặc chưa chế biến thành sản phẩm khác để thực hiện kê khai theo quy định.

Đối với trường hợp doanh nghiệp kê khai sản phẩm đã chế biến thành sản phẩm khác mà quy trình sản xuất sản phẩm chưa đủ cơ sở xác định là sản phẩm khác thì Cục Thuế có trách nhiệm báo cáo Tổng cục Thuế để phối hợp với các Bộ, Cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành căn cứ vào quy trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp để xác định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản chưa chế biến thành sản phẩm khác hay đã chế biến thành sản phẩm khác theo quy định của pháp luật.”.

Căn cứ quy định nêu trên, đề nghị Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí liên hệ với Cục Thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn xác định sản phẩm xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản đã chế biến hoặc chưa chế biến thành sản phẩm khác để thực hiện kê khai theo quy định của pháp luật.

2. Về thuế xuất khẩu

Bộ Tài chính có ý kiến để Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí được biết và thực hiện./.

Việt Nam Xuất Khẩu Phân Bón

(18/6/2012) – Trước đây, Việt Nam là nước nhập khẩu nhiều phân bón. Năm nay, lượng phân bón nhập khẩu giảm mạnh, trong khi lượng phân bón xuất khẩu lại đang gia tăng khá nhanh.

Theo ông Lê Quốc Phong, TGĐ Cty CP Phân bón Bình Điền, năm nay, xuất khẩu phân bón gia tăng mạnh là do nhiều loại phân bón chủ lực như ure, NPK… được sản xuất trong nước, không những đã đủ đáp ứng cho nhu cầu nội địa mà còn dư để xuất khẩu. Phân ure do Nhà máy đạm Cà Mau và Nhà máy đạm Phú Mỹ sản xuất đã được xuất khẩu ra nước ngoài. Phân NPK vốn đã được xuất khẩu từ mấy năm qua, năm nay lượng xuất khẩu lại càng tăng mạnh. Riêng Cty Bình Điền, năm nay đặt kế hoạch xuất khẩu 130 ngàn tấn NPK thương hiệu Đầu Trâu sang Lào và Campuchia, thì đến giờ đã xuất được trên 60 ngàn tấn. Phân DAP tuy vẫn phải nhập thêm từ nước ngoài, nhưng do đã được nhập về nhiều, cộng với sản lượng không nhỏ từ nhà máy DAP Đình Vũ (Hải Phòng), tính ra đang dư so với nhu cầu trong nước, nên nhà máy này cũng đã cho xuất khẩu DAP …

Ông Nguyễn Hạc Thúy, Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, cho hay, trong năm nay, sản lượng nhiều loại phân bón chủ lực sẽ ở mức rất cao. Chẳng hạn, sản lượng NPK sẽ đạt trên 4 triệu tấn, trong khi nhu cầu trong nước chỉ khoảng trên 3 triệu tấn. Sản lượng ure từ các nhà máy đạm Phú Mỹ, Cà Mau, Ninh Bình, Hà Bắc, cũng sẽ vượt xa so với nhu cầu khoảng 1,8 triệu tấn. Xuất khẩu phân bón năm nay cũng không cần phải có giấy phép như những năm trước. Do đó, các doanh nghiệp đang đẩy mạnh xuất khẩu phân bón ra nước ngoài.

Thông tin từ các doanh nghiệp xuất khẩu phân bón cho thấy, phân bón Việt Nam đang có nhiều thị trường tiềm năng. Gần là các thị trường trong khu vực như Lào, Campuchia, Thái Lan… Xa hơn nữa là Ấn Độ, châu Phi… Theo ông Lê Quốc Phong, xuất khẩu phân bón hiện đang theo 2 dạng: có thương hiệu và không có thương hiệu. Xuất khẩu có thương hiệu là phân bón được đóng bao, in nhãn mác đàng hoàng. Xuất theo dạng này, thị trường tuy có hẹp (hiện nay phân bón thương hiệu mới chỉ xuất sang Lào và Campuchia), nhưng giá bán cao hơn, lợi nhuận tốt hơn, và quan trọng nhất là doanh nghiệp sẽ giữ được thị trường ổn định. Còn xuất không thương hiệu tức là xuất theo dạng hàng rời, không bao bì, nhãn mác gì cả. Nhà nhập khẩu mua phân bón dạng này về đóng bao dưới nhãn mác nào đó của họ rồi tung ra thị trường. Vì thế, phân bón xuất khẩu không thương hiệu thường bị ép giá, dễ bị mất thị trường khi có nước khác chào giá bán thấp hơn đối với sản phẩm cùng loại. Do đó, khi buộc phải xuất khẩu phân bón theo dạng không thương hiệu, các doanh nghiệp chủ yếu chỉ nhắm tới vấn đề giải quyết công ăn việc làm cho công nhân, gia tăng doanh số, còn lợi nhuận là không đáng kể.

Bạn đang xem bài viết Chính Sách Thuế Xuất Khẩu Phân Bón Của Trung Quốc Trong Năm 2012 trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!