Xem Nhiều 2/2023 #️ Cây Cà Phê Và Kỹ Thuật Canh Tác (Tiếp Theo) # Top 2 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 2/2023 # Cây Cà Phê Và Kỹ Thuật Canh Tác (Tiếp Theo) # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Cây Cà Phê Và Kỹ Thuật Canh Tác (Tiếp Theo) mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

4– Triệu chứng thiếu hụt dinh dưỡng ở cây cà phê:

– Thiếu đạm: Cây sinh trưởng, phát triển kém, thấp cây, ít cành, ít chồi mới, lá nhỏ, mép lá chuyển vàng tới vàng úa, bắt đầu từ lá già trước, lá non sau, những vùng lá được che bóng bởi cây khác vẫn còn giữ được màu xanh. Thiếu đạm, đầu cành bị khô, lá già sẽ rụng dần để lại cành trơ trụi, quả dễ rụng, năng suất thấp, chất lượng cà phê giảm.

– Thiếu lân: Triệu chứng thiếu lân thường xuất hiện rõ ở những lá già của cành mang nhiều quả. Lá có màu vàng chanh (thường xảy ra trong mùa thu), dần chuyển sang hồng, nếu thiếu nặng sẽ nổi màu đỏ xỉn đến nâu tím rồi chết. Sự chuyển màu ở lá bắt đầu từ đầu lá, sau lan dần ra toàn bộ lá, lá non có màu xanh tối, dễ rụng lá. Khi thiếu lân rễ cà phê kém phát triển, hóa gỗ yếu, hạn chế quá trình hình thành mầm hoa, số hoa ít, hoa nở không tập trung, tỷ lệ đậu quả kém, năng suất và chất lượng đều thấp.

– Thiếu kali: Trên lá xuất hiện các đốm hoặc sọc vàng hơi đỏ, sau chuyển thành nâu đen và đan dọc rìa lá, lan từ chóp lá trở xuống, mép lá trở vào sau đó lá rụng dần. lá rụng hàng loại để lại cành trơ trụi nếu gặp gió mùa hơi lạnh ở đầu mùa khô. Thiếu kali quả rụng nhiều, quả nhỏ, quả một nhân nhiều, hạt lép, năng suất và chất lượng thấp.

Bao Phân bón Miền Nam NPK có hàm lượng kali cao

– Thiếu can xi: Chóp lá cong không đều vào phía trong, cây yếu dễ đổ ngã, gãy cành, rễ kém phát triển nên dễ bị sâu bệnh tấn công.

– Thiếu magiê: Ban đầu các gân lá từ xanh sẫm chuyển thành các vệt màu xanh ôliu lan từ giữa lá ra phía ngoài. Xuất hiện những vệt vàng song song với gân chính, sau đó lan rộng ra. Vùng giữa các gân lá chuyển từ màu xanh ôliu sang xanh lá mạ rồi sang vàng và cuối cùng thành màu đồng thau, lá rụng nhiều, năng suất và chất lượng thấp. Thiếu magiê có thể là do đất thiếu magiê hoặc canh tác nhiều năm nhưng không bón phân có chứa Mg hoặc do bón quá nhiều Kali.

– Thiếu lưu huỳnh: Các chùm lá cà phê non trên cùng chuyển từ xanh sẫm sang màu vàng nhạt, đặc biệt xuất hiện trên lá non, rìa (mép) lá bị uốn cong, lá giòn, dễ gãy, dễ rách và khô từ ngoài mép vào trong lá. Các lá già bị rụng nhiều, chỉ còn các lá non có màu vàng nhạt, năng suất và chất lượng đều giảm. Thiếu lưu huỳnh thường xuất hiện rõ ở các cây kiến thiết cơ bản. Thiếu lưu huỳnh có thể do đất thiếu lưu huỳnh hoặc do chỉ bón các loại phân không có S.

– Thiếu kẽm: Lá nhỏ, hẹp bề ngang, hệ thống gân nổi trên nền lá xanh nhạt hoặc vàng. Chùm lá trên ngọn mọc sít nhau. Các chồi non phát triển chậm, không vươn ra được. Khi thiếu trầm trọng, lá bị chết và rụng. Thiếu kẽm làm cho cây cà phê không thể phát triển được, năng suất rất thấp dù có bón nhiều phân đa lượng.

– Thiếu Bo: Các chồi non bị chết, lá non ra như cái quạt, lá biến dạng, một bên mép lá ngắn lại làm cho lá cong queo, bản lá hẹp và dài, chóp lá có màu xanh ôliu hoặc xanh vàng. Thiếu bo làm số hoa ít, tỷ lệ đậu quả thấp, quả non rụng nhiều, năng suất và chất lượng thấp. Sự thiếu hoặc thừa bo có quan hệ chặt chẽ với hàm lượng canxi trong lá. Nếu canxi trong lá cao thì mức độ ngộ độc bo giảm, ngược lại nếu hàm lượng canxi thấp thì dù nồng độ bo thấp cây cũng có thể bị ngộ độc.

– Thiếu mangan: Các cặp lá trưởng thành trên đầu cành chuyển từ màu vàng sang xanh nhạt, hay từ xanh ô liu thành màu vàng có đốm trắng, lá rụng nhiều, Thiếu mangan dẫn tới năng suất thấp, chất lượng giảm.

Sản phẩm đang được sử dụng ở khu vực cao nguyên

Bón phân cho cây cà phê:

5.1- Bón phân cho cà phê kiến thiết cơ bản:

– Lót khi trồng cho một hố gốc:

10-20 kg phân chuồng hữu cơ

0,5 – 1,0 kg vôi hoặc đôlômit

50-100 gram NPK 20-20-15+TE hoặc 16-16-8-9S+TE; 18-12-6+TE; 19-11-7+6S+TE.

– Bón thúc: Sử dụng phân NPK 16-16-8-9S+TE; NPK 20-20-15+TE; 15-15-15+TE bón với liều lượng sau:

+ Năm thứ nhất: 300-350 kg/ha + Năm thứ 2: 500-600 kg/ha Lượng phân trên được chia ra làm 2-3 lần bón vào đầu, giữa và cuối mùa mưa.

Vào năm thứ 3 NPK bón theo tỷ lệ cà phê kinh doanh và cần bón phân hữu cơ với lượng 1-2 tấn/ha.

5.2- Bón phân cho cà phê kinh doanh:

Cà phê kinh doanh có nhu cầu kali và đạm cao hơn so với lân, ngoài ra, nó còn cần một lượng đáng kể các chất trung và vi lượng. Phân bón NPK 16-8-16+9S+TE và phân NPK có tỷ lệ N : P : K phù hợp, có hàm lượng lưu huỳnh và trung vi lượng cần thiết thích hợp với nhu cầu dinh dưỡng cà phê kinh doanh trong mùa mưa. Đối với vườn cà phê đạt năng suất từ 3-4 tấn nhân/ha, bón với liều lượng sau:

+ Đợt 1: bón phục hồi NPK  20-5-5+TE, 22-4-4+TE; hoặc các sản phẩm Phân bón Miền Nam cho mùa khô: 250-300kg/ha. Kết hợp khi tưới lần 1.

+ Đợt 2: (Bón đầu mùa mưa khoàng tháng 5-6): 500-600 kg/ha Phân bón Miền Nam loại NPK 16-16-8-9S+TE;  hoặc 18-12-6+TE; 19-11-7+6S+TE…

+ Đợt 3 (Bón giữa mùa mưa khoảng tháng 7-8): 700-800 kg/ha phân NPK: 16-8-16+9S+TE; 17-7-17+5S+TE; 18-5-18+4S+TE

+ Đợt 4 (Bón vào gần cuối mùa mưa, khoảng tháng 8-9): 600-700 kg/ha Phân bón Miền Nam NPK 17-5-19+5S+TE; 16-5-20+4S+TE.v.v…

Nếu năng suất vườn cà phê cao hơn mức 4 tấn nhân/ha thì nên bón tăng thêm từ 100-150 kg/ha ở mỗi vụ bón trong quy trình trên. Cứ mỗi hai năm thì bổ sung bón phân hữu cơ một lần.

Sau thu hoạch, sẽ tỉa bỏ những cành vô hiệu, tạo tán cân đối cho cây.

Cách bón: 

Dóng thẳng tán lá xuống đất xới đất với chiều rộng 15-20 cm, chiều sâu khoảng 5-10 cm hay gọi là mở bồn, kết hợp vét bồn rồi rải phân đều quanh mép bồn; Lấp đất làm giảm thất thoát phân bón. Các tàn dư của cà phê như lá rụng, lá non do tỉa cành, vỏ quả cần được vùi lấp trả lại cho đất.

 Sưu tầm và biên soạn Ks Lê Minh Giang

Quy Trình Kỹ Thuật Trồng Cà Phê, Chăm Sóc, Canh Tác Cây Cà Phê

1, Nguồn gốc cây cà phê

2, Yêu cầu về khí hậu và đất trồng cà phê

Cây cà phê vối, cà phê mít thích hợp với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, nhiệt độ 24 – 26 độ C, lượng mưa 2000mm/năm trở lên

Cây cà phê chè thích hợp với khí hậu lạnh vùng cao, cận nhiệt đới. Nhiệt độ từ 20 – 22 độ C, lượng mưa từ 1700 – 2000mm/năm

Cả 3 loài cà phê đều cần một khoảng thời gian khô hạn ngắn sau thu hoạch để phân hóa mầm hoa.

Về đất trồng: Cà phê không yêu cầu khắt khe về đất, có thể sinh trưởng trên nhiều loại đất, đất đỏ bazan, đất xám, đất thịt pha… nhưng để đạt năng suất cao và ổn định thì trồng ở đất đỏ bazan là phù hợp nhất. Đất trồng cà phê yêu cầu thoát nước tốt, tơi xốp, độ pH của đất từ 5.0 – 6.5. Có tầng canh tác từ 0.8 – 1m, đất giàu dinh dưỡng, hàm lượng hữu cơ trung bình đến cao

Đối với đất trồng cà phê lâu năm, muốn nhổ gốc trồng mới, cần cày đất thật kỹ, phơi đất và trồng 2-3 vụ màu trước khi trồng lại cà phê

Gió và ánh sáng: Gió nóng hay gió lạnh đều ảnh hưởng đến cây cà phê, có thể giảm năng suất nếu gặp gió mạnh và giai đoạn trổ bông. Do đó nhất thiết phải trồng cây chắn gió ở xung quanh vườn hoặc giữa các hàng giai đoạn kiến thiết. Cà phê là cây thích ánh sáng tán xạ, nên trồng xen cà phê với bơ, hoặc cà phê xen tiêu trên trụ sống. Sẽ giúp giảm ánh sáng trực tiếp.

3, Mật độ trồng cà phê

Cà phê vối: Khoảng cách trồng là 3m x 3m đối với đất tốt và bằng phẳng (1.118 cây/ha), trồng 3m x 2,5m đối với đất trung bình và dốc (1.330 cây/ha)

Cà phê mít: trồng 5m x 5m hoặc 7m x 7m (khoảng 700 cây/ha)

Cà phê chè: trồng 2m x 1m (khoảng 4.000 – 5.000 cây/ha)

4, Lựa chọn giống cà phê

Cà phê vối: Nên chọn những giống cà phê cao sản như: Giống TR4 (Giống cà phê 138), Giống TR9 (Giống cà phê 414 – Các giống có mã TR là các giống được Viện Eakmat nghiên cứu và tuyển chọn, khuyến khích nhân rộng). Hoặc chọn các giống xuất xứ Lâm Đồng như: Giống Hữu Thiên, Giống Thiện Trường, Giống Trường Sơn TS5 (cà phê xanh lùn). Đây là những giống có năng suất cao, kháng bệnh rỉ sắt tốt, cây sinh trưởng mạnh….

Cà phê chè: Chọn các giống TN1, TN2, … TN10 trong đó 2 giống TN1 và TN2 là giống đã được Bộ NN&PTNT công nhận

5, Kỹ thuật trồng cà phê

Thời vụ trồng cà phê: Có thể trồng vào vụ Thu (Tháng 8-9DL) hoặc vụ xuân (tháng 2-3DL)

Chuẩn bị hố trồng: Đào hố và bón lót phân trước khi trồng 1 tháng, hố có kích thước 60 x 60 x 60cm. Khoảng cách tùy theo mật độ trồng

Bón lót: Mỗi hố trộn 10-20kg phân chuồng hoai mục + 1kg phân hữu cơ sinh học HVB + 0,2kg phân khoáng vi lượng HVB + 0,3 – 0,5kg supe lân + 0,5 kg vôi bột. Trộn đều với lớp đất mặt, lớp đất sâu loại riêng để tạo bồn. Sau khi trộn phân lấp đầy hố, vun cao 5-10cm, sau đó dùng châm dẫm nhẹ

Tiến hành trồng cà phê: sau 1 tháng ta tiến hành trồng cây con vào hố. Tùy theo kích thước bầu ươm, đào 1 lỗ chính giữa hố, đường kính lớn hơn bầu 10cm, sâu khoảng 30cm.

Khi trồng cần xé nhẹ lớp nilon của bầu ươm, không làm vỡ bầu. Đặt cây vào chính giữa lỗ (căn cho thẳng hàng, thằng cây) mặt bầu thấp hơn mặt đất 5cm.

Lấp đất từ từ đồng thời dùng tay nén chặt đất xung quanh

Sau khi trồng tiến hành vét bồn xung quanh gốc, đường kính khoảng 1m – 1m2, nén chặt thành bờ, tránh trời mưa đất trôi xuống lấp mất cây con

6, Kỹ thuật chăm sóc cà phê

Trồng cây chắn gió cho cà phê

Cây trong giai đoạn kiến thiết, giai đoạn thu hoạch đều cần được chắn gió cẩn thận. Nên sử dụng cây muồng vàng làm cây chắn gió. Trồng vào giữa hàng cà phê, khoảng cách 2-3 hàng cà phê 1 hàng muồng vàng. Xác cây muồng vàng có thể tận dụng để ép xanh khi thay thế cây mới

Trồng cây che bóng cho cà phê

Có thể tận dụng các ngã tư giữa các bồn để trồng cây che bóng, khoảng cách 9 x 9m hoặc 9 x 12m. Trồng cùng thời điểm với cây cà phê con. Các cây che bóng có thể là bơ sáp, sầu riêng thái, cây trụ sống trồng tiêu, vừa có tác dụng che bóng vừa là cây xen canh có giá trị kinh tế, cải thiện thu nhập.

Cây che bóng cần rong tỉa cành hợp lý, không để quá rậm rạp. sao cho cây cà phê bên dưới có thể tiếp nhận được ánh sáng. Tán cây phải cách ngọn cà phê từ 2 – 4m.

Làm cỏ cho cà phê

Cà phê là cây có nhiều rễ con hấp thu dinh dưỡng tầng mặt, do đó cần làm cỏ thường xuyên, 1 năm 4-5 lần. Làm sạch cả trong bồn và trên thành bồn. Khi làm cỏ có thể kết hợp đánh bồn. Trước khi bón phân cũng cần làm cỏ sạch sẽ

Kỹ thuật làm bồn cà phê

Việc làm bồn giúp cho công tác tưới tiêu, bón phân dễ dàng và hiệu quả hơn. Thành bồn cần được nén chặt thành bờ, cao hơn mặt bồn bên trong 15 – 20cm. Mỗi năm đánh bồn 1 lần vào đầu mùa mưa, mở rộng bồn theo tán cây, đến khi giao nhau với các bồn của hàng bên cạnh thì ngưng.

Cắt tỉa cành tạo tán cây cà phê

Thường xuyên bẻ chồi vượt mọc từ thân chính và nách lá, đặc biệt là đầu mùa mưa, trước đợt bỏ phân. 1 năm có thể tiến hành làm chồi từ 5-6 lần

Sau khi thu hoạch, dùng kéo cắt bỏ cành tăm, cành nhỏ giáp thân, cành khô, cành bị sâu bệnh

Ở mỗi vị trí đốt cành chỉ để lại khoảng 3 cành dự trữ

Tỉa bớt các cành thứ cấp trên cao để ánh sáng có thể tiếp cận các cành bên dưới

Hãm ngọn ở độ cao 1,6 – 1,7m

Đối với cà phê cưa đốn phục hồi: Tiến hành cưa vào khoảng tháng 2 DL, vị trí cưa cách mặt đất 20 – 25cm. Cưa vát 1 góc 45 độ. Nuôi 4-5 chồi khỏe mạnh nhất. Khi chồi cao 25cm, để lại 2 chồi để tạo thân và tiến hành chăm sóc, tạo hình như đối với cà trồng mới

Kỹ thuật tưới nước cà phê

Mùa khô cần tiến hành tưới nước cho cây cà phê, cà phê con 10-15 ngày 1 lần. Cà phê giai đoạn kinh doanh 20-25 ngày 1 lần. Khi tưới cần tưới tập trung để cây ra hoa đồng loạt tăng tỷ lệ đậu trái.

Nếu có những đợt mưa trái mùa, cần tiến hành “tưới đuổi” cung cấp đủ nước để cây ra hoa đều.

Có thể tưới bằng “béc” hoặc tưới “dí” vào bồn tùy theo địa hình và nguồn nước ít hay nhiều. Tưới nhỏ giọt cũng là 1 biện pháp rất hay, giúp tiết kiệm nước tưới đồng thời bảo đảm cây luôn được cung cấp đầy đủ lượng nước cần thiết

7, Kỹ thuật bón phân cho cà phê

Xem bài chi tiết: Quản lý dinh dưỡng và kỹ thuật bón phân cho cà phê

8, Phòng trừ sâu bệnh cho cà phê

Xem bài chi tiết: Sâu bệnh hại trên cà phê và cách phòng trừ

9, Thu hoạch và chế biến cà phê

Yêu cầu đầu tiên đối với việc thu hái cà phê là hái đúng độ chín. Để có cà phê chất lượng cao nhất thiết phải có quả chín đỏ hay vừa chín, không hái quả xanh. Không để quả chín nẫu hay khô trên cây. Nếu có lẫn những loại này thì cần bỏ ra phơi riêng.

Trong sản phẩm thu hoạch số quả chín hoặc vừa chín nhất là 95%, trừ đợt thu hoạch lần cuối tỷ lệ có thể thấp hơn.

Hái cà phê bằng cách dùng ngón tay bứt quả, không tuốt cành, không bứt cả chùm đối với cà phê chè. Phải bảo vệ cành, lá, nụ tránh ảnh hưởng tới vụ sau. Không để quả cà phê lẫn vào trong đất dễ bị nhiễm nấm bệnh.

Cà phê hái xong phải chế biến ngay. Nếu không kịp phải trải quả cà phê trên nền gạch cho thoáng mát, không quá dày 30-40 cm. Không ủ đống cà phê làm cho quả cà phê nóng và lên men. Không giữ cà phê hái về quá 24 giờ.

Bao bì đựng sản phẩm cà phê quả tươi và phương tiện vận chuyển phải sạch, không có mùi phân bón, mùi hoá chất…

Bài viết có sử dụng hình ảnh và tư liệu sưu tầm trên internet + kinh nghiệm riêng của người viết. Nếu có gì sai sót xin được góp ý thêm. Xin cảm ơn

Liên hệ mua cây giống cà phê các loại

Chị Thu 0944 333 855 VƯỜN ƯƠM CÂY GIỐNG TIẾN ĐẠT Địa chỉ cửa hàng: 280 Nguyễn Lương Bằng, TP. Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk Địa chỉ vườn ươm: 304/57/1 Nguyễn Lương Bằng, TP. Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk Vui lòng liên hệ trước khi đến

Tìm kiếm : cách chăm sóc cà phê mới trồng, Ky thuat canh tac ca phe, khoảng cách trồng cà phê tr4, kỹ thuật trồng cà phê tr4, cách chăm bón cà phê xanh lùn, cach trong cafe, cach trong va cham soc ca fe, ki thuat cham soc caphe co ban va cay tieu, Ky thuat cham soc ca phe

Kỹ Thuật Trồng Cây Cà Phê

Hướng dẫn kỹ thuật trồng cây cà phê đem lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao cho bà con

1. Chuẩn bị đất trồng cà phê

Đất trồng phải là đất tốt, tầng đất dày, tơi xốp, dễ thoát nước, giàu dinh dưỡng.

Nếu phải trồng lại trên chu kỳ trước đã trồng cà phê thì phải trồng cây cải tạo đất như các cây họ đậu từ 2-3 năm.

Đất chu kỳ trước đã bị bệnh thối rễ thì không nên trồng lại cây cà phê mà cần phải luân canh với cây trồng khác.

2. Thiết kế vườn cây

Vườn cà phê thiết kế hoàn chỉnh ngay từ đầu đảm bảo yêu cầu sau:

*Thâm canh tăng năng suất lâu dài * Bảo vệ đất chống xói mòn * Bảo vệ cây trồng, chống các yếu tố thời tiết bất thuận (sương muối, gió nóng, bão) * Bảo đảm cơ giới hóa trong các khâu chăm sóc, vận chuyển. * Tiết kiệm đất (đất dành cho đai rừng và đường đi dưới 15%).

Tuỳ theo địa hình bằng phẳng hoặc dốc mà thiết kế vườn cây thành từng lô, mỗi lô 16-20 ha. Chiều dài của lô song song với đường đồng mức. Mỗi lô được phân thành từng lô nhỏ 1 ha (50x100m) để tiện quản lý. Chiều dài hàng cà phê trong lô là 50 m, chiều dài hàng cà phê trong 1 lô là 400-500m.

Xung quanh mỗi lô có các đai rừng và đường vận chuyển chính đồng thời là đường quay máy vuông góc với hàng cà phê, rộng 7-7,5m (tính từ gốc cà phê đến chân đai rừng). Nếu bề rộng của khoảnh là 400 m thì có 1 đường trục chính giữa song song với hàng cà phê rộng 6m.

Các đường phụ giữa các lô rộng 5 m (tính từ gốc cà phê lô này sang gốc cà phê lô kia).

Nếu địa hình có độ dốc trên 80 phải chú ý thiết kế đảm bảo cho cơ giới chăm sóc và vận chuyển, bảo đảm các biện pháp chống xói mòn như thiết kế hàng cây theo hình đồng mức (vành nón), trồng cà phê theo kiểu nanh sấu, trồng các băng cây chống xói mòn.

Đối với hộ nông dân có diện tích nhỏ thì không cần phải phân lô, tuy nhiên phải trồng theo đường đồng mức.

3. Đào hố, trộn phân lấp hố

Kích thước hố đào: Đất tốt đào dài 40cm, rộng 40cm và sâu 50cm. Đất xấu đào dài 50cm, rộng 50cm và sâu 60cm.

Trộn phân lấp hố: Phân hữu cơ, lân trộn đều với đất mặt và lấp xuống hố. Hỗn hợp đất phân lấp cao hơn mặt hố từ 10-15cm. Trộn phân, lấp hố phải xong trước khi trồng mới khoảng 1-2 tháng.

Liều lượng phân cho 1 hố: Phân hữu cơ 10-15 kg, phân lân 0,5 kg.

4. Khoảng cách, mật độ trồng

Cà phê chè Catimor khoảng 5.000cây/ha, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 1m. Nếu đất xấu có thể trồng dày hơn.

Cà phê vối (Robusta): 3,5×2,5m tương ứng 1.330 cây/ha, trồng 1 cây/hố; 3,0×2,5m tương ứng mật độ 2.660cây/ha, trồng 2 cây/hố.

Trồng đầu mùa mưa là tốt nhất. Những vùng có nước tưới thì có thể trồng cuối mùa mưa nhưng phải đảm bảo đủ nước.

6. Kỹ thuật trồng

Dùng cuốc móc 1 lỗ nhỏ giữa hố sâu 25-30cm, rộng 15-20cm ở chính giữa hố đã được lấp trước. Xé túi ni lon, nhẹ nhàng đặt cây vào giữa hố, điều chỉnh cây đứng thẳng, lấp đất từ từ vừa lấp vừa dùng tay nén chặt đất, lấp đất ngang mặt bầu.

Trồng xong cần làm bồn tạo thành bờ xung quanh hố. Phải cẩn thận tránh không làm vỡ bầu. Đặt bầu sao cho mặt bầu âm dưới mặt đất 7-10cm để dễ đánh ổ gà, đắp bùn giữ nước cho cây.

Cây trồng thẳng và ém đất quanh bầu thật chặt, không làm vỡ bầu.

Sau khi trồng cây xong phải thực hiện ngay các biện pháp chăm sóc bảo vệ cây: Đánh bồn, tủ gốc bằng rơm rạ, rác, cỏ thành vòng tròn, cách gốc 20cm dày ít nhất 20cm, trên phủ nhẹ một ít đất cho rác dẹp xuống. Phun thuốc trừ sâu Confidor 100 SL để chống mối.

7. Tủ gốc, che túp

Ngay sau khi trồng xong cần tiến hành tủ gốc cho cà phê. Dùng rơm rạ, cỏ khô, cây phân xanh… tủ gốc với độ dày 5-10cm, cách gốc 5-10cm để tránh mối làm hại cây. Ở những nơi sau thời gian trồng mới thường gặp hạn cần che túp. Mùa mưa không cần che túp song mùa nắng che túp có tác dụng chống gió, chống hạn, chống rét.

Đối với cà phê trồng mới, sau khi trồng 15-20 ngày phải kiểm tra, trồng dặm kịp thời những cây chết và còi cọc. Chấm dứt trồng dặm trước khi kết thúc mùa mưa 1,5-2 tháng. Kỹ thuật trồng dặm chỉ đào hố trồng lại trên cây chết, các thao tác như trồng mới.

Trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây cà phê, đặc biệt ở thời kỳ kiến thiết cơ bản phải diệt cỏ kịp thời, bảo đảm cây cà phê không bị cỏ lấn át.

Những nơi có các loại cỏ khó cuốc sạch như cỏ tranh, cỏ gấu thì tiến hành diệt cỏ bằng các loại thuốc hoá học hiện đang được dùng.

Thường xuyên tủ gốc cho cây cà phê để giữ ẩm, giảm được tưới nước và công làm cỏ. Đồng thời tủ gốc còn điều hoà nhiệt độ đất, giữ cho đất luôn tơi xốp.

8.3. Trồng xen trong vườn cà phê ở thời kỳ kiến thiết cơ bản

Trong thời kỳ kiến thiết cơ bản các vườn cà phê cần trồng xen những cây trồng khác để bảo vệ, cải tạo, nâng cao độ phì của đất. Các cây trồng xen có thể sử dụng là: lạc, đậu đỗ các loại. Cây, cành, lá của cây trồng xen dùng làm nguyên liệu tủ gốc.

8.4.Cây che bóng và đai rừng chắn gió

Cây che bóng tạm thời:

Trồng vào giữa 2 gốc cà phê hoặc trồng thành băng ở giữa 2 hàng cà phê bằng các cây phân xanh có thân đứng cao như muồng hoa vàng, cốt khí, đậu săng…

Cây che bóng lâu dài:

Trồng cây keo dậu, khoảng cách trồng 5m x 6m. Sau khi cây lớn thì tỉa dần và cố định mật độ 10 x 12m (cứ 2 cây tỉa đi 1 cây). Chú ý cây bóng mát trồng vào giữa vị trí của 2 cây cà phê trong thời kỳ cà phê ở thu hoạch thì bộ tán của cây che bóng phải cao cách bộ tán cây cà phê từ 2,5-3m.

Đai rừng chắn gió:

Xung quanh vùng trồng cà phê cần trồng các đai rừng chắn gió. Đai rừng trồng thẳng gốc với hướng gió chính hoặc chếch 1 góc 60 độ.

Đai rừng rộng 9 m, ở giữa trồng 3 hàng muồng đen, hàng cách hàng 1 m và cây cách cây 3 m. Hai bên mép đai rừng trồng thêm các loại cây ăn quả như mít, nhãn, vải, xoài…

8.5. Bón phân thúc cho cà phê

Phân hữu cơ:

Mỗi năm bón cho cà phê 1 lần phân hữu cơ sau khi thu hoạch quả. Liều lượng 5-10kg/cây kết hợp với phân lân và phân vô cơ bón lần cuối cùng trong năm (tháng 11-12).

Cách bón: Đào rãnh sâu 20cm, rộng 20cm xung quanh mép tán, rải đều phân hữu cơ và các tàn dư thực vật xung quanh, sau đó lấp lại.

Phân đạm và kali có thể bón 3 lần/năm vào tháng 2-3, 6-7, 11-12.

Trước khi bón phân cần làm cỏ sạch, trộn các loại phân với nhau, rải đều xung quanh tán lá và lấp lại bằng lớp đất mặt để tránh bốc hơi hoặc phân bị rửa trôi khi gặp mưa.

Lần bón phân cuối cùng trong năm cần kết hợp với phân chuồng và phân lân để bón, sau khi thu hoạch xong sẽ giảm được công lao động.

Riêng năm trồng mới, sau khi trồng 1-2 tháng, bón 25- 30g phân Urê và 25-30 g phân kali cho một hố.

Sau trồng mới khi cây bóng các loại chưa phát huy tác dụng thì phải che túp cho cà phê sớm.

Khi thời tiết nắng hạn hoặc rét, nhất là có sương muối cần che túp cho cà phê.

Túp che kín hướng gió đông-bắc, để hở 1/4 phía tây-nam, túp phải chắc chắn, cao cách đỉnh cà phê 10-15cm, không để túp đè lên cây cà phê.

Là một trong những biện pháp kỹ thuật hết sức quan trọng để tạo cho cây có bộ tán cân đối, cành quả phân bố đều trong không gian để từ đó giữ cho cây đạt năng suất cao ổn định. Tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chăm sóc, thu hái, hạn chế bớt sự tấn công phá hoại của sâu bệnh.

Xu hướng hiện nay là tạo hình đơn thân tức là mỗi hố chỉ để 1 thân chính. Để tránh cho cà phê mọc nhiều thân trên 1 hố phải thường xuyên đánh tỉa kịp thời các chồi vượt mọc từ gốc và từ các nách lá trên thân chính.

Cắt bỏ các cặp cành cơ bản mọc sát mặt đất (cách mặt đất từ 20-25cm) để cho cây được thông thoáng và thuận lợi cho việc đi lại chăm sóc, thu hái.

Tỉa bớt một số cành cơ bản nhỏ, sinh trưởng kém và không có khả năng ra cành thứ cấp để cây được thông thoáng và tập trung dinh dưỡng để nuôi các cành khác.

Cắt bỏ tất cả các cành thứ cấp mọc sát thân chính, các cành tăm nhớt, bị sâu bệnh, cành chùm và các cành khô chết để cho ánh sáng chiếu vào được phía trong của tán cây.

Cắt ngắn các cành già cỗi do đã cho nhiều vụ quả để dồn chất dinh dưỡng nuôi những cành tơ khỏe mọc từ phía trong.

Loại bỏ những chồi vượt mọc từ gốc, trên thân chính và trên đỉnh ngọn.

Bình Luận

Powered by Facebook Comments

Kỹ Thuật Trồng Và Chăm Sóc Cây Cà Phê

Một số những giống cà phê điển hình:

– Giống cà phê chè PQ1 được chọn ra từ giống Mokatali ở Phú Thọ có năng suất ổn định: 1,4 – 1,6 tấn/ha, chống chịu bệnh gỉ sắt khá.

– Giống cà phê chè PQ2 được tuyển chọn từ giống cà phê chè hương phẩm nhập nội từ Cuba (Cutura amarello) có năng suất cao: 1,5 – 1,6 tấn/ha, phẩm chất khá, có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt.

– Giống Catimor do viện nghiên cứu cà phê Việt Nam tuyển chọn, đang được trồng phổ biến trong sản xuất, năng suất cao ổn định, phẩm chất khá, chống chịu bệnh gỉ sắt.

– Giống cà phê chè 17ABC là giống có khả năng cho năng xuất cao, phẩm chất tốt, đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu, chống chịu tốt đối với điều kiện ngoại cảnh bất thuận như rét, hạn nóng, và chống chịu bệnh gỉ sắt.

– Ngoài ra trong sản xuất còn trồng các giống Bourbon, mundonovo, Typica, Catuai,…

– Chọn đất thích hợp cho cà phê (tầng canh tác dày trên 70 cm, mực nước ngầm dưới 1m, tơi xốp, thoát nước nhanh, hàm lượng mùn khoảng 2%, pH gần trung tính, sau đó tiến hành khai hoang, san ủi đất bằng phẳng cục bộ, làm sạch gốc cây, cày sâu lật đất kết hợp với bón phân để cải tạo đất.

– Sau khi cày sâu bừa kỹ nên gieo 1 – 2 vụ cây phân xanh để cày vùi tăng lượng dinh dưỡng cho đất.

– Với đất dốc trên 15 độ có địa hình bát úp, thiết kế vườn cà phê theo hình thang với các đáy là đường vận chuyển quanh đồi, các cạnh bên là đường xuyên đồi.

– Với đất dốc 5 – 15 độ thiết kế vườn cà phê theo khối hình chữ nhật, chiều rộng 200m, chiều dài từ 200 – 400m. Bao quanh các khối đó là đường vận chuyển chính và đai rừng chắn gió. Mỗi khối được chia thành các lô 1ha. Hàng cà phê trồng theo đường nối tiếp nhau song song với chiều dài của của khối.

– Đối với đất dốc 3 – 5 độ thiết kế khối rộng 25ha (500mx500m), bao quanh khối lớn là đường vận chuyển và các đai rừng chính. Trên khối chia thành 25 lô 1 ha (100mx100m).

– Mật độ khoảng cách ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng phát triển và năng suất của cà phê.

– Mật độ khoảng cách tùy thuộc vào giống, điều kiện ngoại cảnh và trình độ canh tác: khoảng cách cây cách cây 2 x 2m (mật độ 2500 cây/ha) đến 3 x3m (mật độ 1.110 cây/ha).

– Cà phê vối: 2,5mx2,5m (1600 cây/ha) đến 3,5×3,5m (810 cây/ha), cà phê mít 3x3m (1100 cây/ha) đến 4x4m (625 cây/ha).

– Việc bố trí trên vườn cà phê theo các dạng sau:

+ Trồng từng cây tách biệt theo hình vuông, chữ nhật, tam giác đều, tam giác cân.

+ Trồng thành từng hàng đơn hoặc kép.

Xu hướng gần đây là: Trồng dầy, mật độ gấp 2 – 3 lần so với trồng cũ có nhiều ưu điểm: cho cà phê có môi trường mát, im gió, tăng tổng diện tích bề mặt tán (nhiều quả), mặt khác cà phê là cây tái sinh mạnh trồng dày để cưa đốn luôn phiên.

– Gieo thẳng hạt là cách làm đơn giản, đỡ tốn công, tỷ lệ sống thấp (Baraxin còn giữ tập quán gieo hạt thẳng).

– Gieo hạt trong vườn ươm từ tháng 10 – 12, gieo trực tiếp vào nền đất đã lên luống hoặc gieo vào túi P.E sau khi đã xử lý ngâm ủ.

– Có thể nhân giống bằng biện pháp giâm cành. Khả năng ra rễ của cà phê vối lớn hơn cà phê chè và cà phê mít.

– Cà phê giâm với giâm cành có khả năng đạt tỷ lệ sống trên 70%. Cành giâm được chọn từ cảnh vượt chưa hóa gỗ, cắt thành đoạn mang 2 lá non. Thời vụ giâm vào mùa mưa là thích hợp nhất. Miền Bắc vào tháng 2 – 3 và tháng 8 – 9, miền nam tháng 5 – 6.

Thời vụ chủ yếu miền Bắc tháng 8 – 9, miền Nam tháng 5 – 6, đã qua giai đoạn vườn ươm.

– Trồng bằng bầu nguyên cây: Là cách trồng phổ biến trên thế giới cũng như Việt Nam, khi cây qua vườn 6 – 7 tháng tuổi, chiều cao 25 – 30cm, đường kính cổ rễ 5 – 6mm, số cắp lá 6 – 8, có từ 0 – 2 đôi cành ngang (mới nhú).

– Trong bầu thân đoạn, khi cây trong vườn ươm quá lứa 16 – 18 tháng, cao 70 – 80cm, nhiều cành ngang nếu trồng cả cây sẽ chết do vậy phải cắt bớt thân đi gọi là trồng bầu cắt thân, cắt thân bớt lại 1 đoạn 15cm.

– Trồng rễ trần, nhổ cây cà phê rũ sạch đất rồi đem trồng. Ở những nơi mùa mưa dài trồng rễ trần đạt tỷ lệ sống cao, tuổi cây 6 – 8 tháng.

– Trồng ” tum” còn gọi là stum, khi để cây trong vườn quá lâu 24 – 36 tháng thì trồng theo cách này. Trước khi trồng xử lý cây bằng cách cắt thân, để lại 1 đoạn 15cm, cắt bớt rễ tạo thành hình nón trên để dài 7 – 8 cm dưới 1 – 2 cm.

– Nhu cầu dinh dưỡng của cà phê khá cao: Theo Catani, trong 1000 kg quả tươi có N: 15kg; P2O5: 2,5kg; K2O: 24kg; CaO: 2kg; MgO: 1kg. Theo Forestier trong 1000 kg cà phê nhân có N: 30kg; P2O5: 3,75; K2O: 24kg; CaO: 2kg; MgO: 1kg.

– Nói chung đạm và kali chiếm tỷ lệ cao nhất trong thành phần các chất dinh dương của hạt cà phê và giữ vai trò quyết định trong việc cấu tạo quả và hạt.

– Nhu cầu đạm và kali tăng nhanh vào thời kỳ quả lớn. Theo Catani và Forestier cho thấy nhu cầu dinh dưỡng cà phê tăng gấp bội vào năm thứ 3,4 được biệt là N, K2O. Đối với cà phê Việt Nam có thể bón theo quy trình sau:

* Năm thư nhất bón làm 2 lần:

Lần 1 (lót): 1/2 N + ½ K2O + tổng số lân.

Lần 2: ½ N + ½ K2O vào tháng 10.

*Năm thứ 2 và thứ 3 bón 3 lần

– Lần 1: 1/3 N + 1/3K2O + Tổng số lân vào tháng 5.

– Lần 2: 1/3 N+ 1/3K2O vào tháng 7.

– Lần 3: 1/3N + 1/3K2O vào tháng 10.

Lưu ý: Phân hưu cơ: nếu đất có hàm lượng mùn trên 3% thì không phải bón thêm phân hữu cơ; nếu dưới 3% cần bón thêm phân hữu cơ với lượng 15 – 20 kg/cây/1 lần/2 – 3 năm.

Công thức phân bón cho cây cà phê các tuổi

– Trồng cây bóng mát sẽ tạo cho cây cà phê có năng suất ổn định do: Hạn chế bốc hơi nước, tạo điều kiện cung cấp ẩm cho cây cà phê, hạn chế sự khô hạn, hạn chế sự tác hại của sương muối, điều hòa nhiệt độ trong lô cà phê, chắn gió cho cà phê, giảm xói mòn rửa trôi, trừ cỏ dại, làm cho cà phê chín không tập chung thuận lợi chô hái thủ công. Tuy nhiên cây bóng mát có nhược điểm tạo điều kiện cho sâu hại phát triển, tranh chấp thức ăn với cà phê gây tốn kém và phức tạp trong sản xuất.

– Các cây che bóng tạm thời: Cốt khí, muồn lá dài, muồn lá tròn, gieo giữa các hàng cà phê.

– Cây che bóng vinh viễn vd: Muồn đen trồng với khoảng cách 12×10; Cà phê trồng theo khoảng cách 3x2m.

– Nhằm tạo thế cân bằng cho cây sinh trưởng phát triển, hạn chế hiện tượng ưu thế ngọn, thay thân chính đối với nương cà phê già, tạo độ thông thoáng khí để cho cây sinh trưởng phát triển phát triển tốt.

– Đối với cà phê chè Bourbon, Typica, Mundonovo thường tạo hình 1 thân kết hợp hãm ngọn nuôi tầng. Thông thường hãm ngọn nuôi tầng 2 lần là tốt nhất với chiều cao cho thu hái 1,6 – 1,8m có thể nuôi tầng 3.

+ Sau năm thứ nhất: Cây cao trên 1m tiến hành hãm ngọn ở độ cao 1m. Sau 2 – 3 năm tiến hành hãm ngọn lần 2 nuôi chồi vượt chiều cao so với thân 40cm (có khoảng 4 cặp cành), ổn định chiều cao 1,6 – 1,8m.

+ Đối với giống ít cành thứ cấp như Catura, Catura tạo hình đa trụ có hãm ngọn để nuôi tầng. Khi cây cao 50 – 60cm bấm ngọn tạo 3 thân, khi cây cao trên 1m hãm ngọn ở độ cao 1m. Sau 2 năm tiếp tục để 1 chồi mới trên chồi cũ phát triển tự do cố định ở chiều cao 1,6m.

– Đối với cà phê vối áp dụng phương pháp nhiều thân nuôi chồi thay thế (vì ít cành thứ cấp). Sau trồng nuôi chồi vượt để tạo 3 thân. Sau 3 – 4 vụ thu hoạch năng suất giảm thì nuôi chồi trên thân mẹ, cách gốc 70 – 80cm nuôi 3 -4 chồi. Sau 2 – 3 vụ thu hoạch nuôi chồi vượt cách gốc 1 – 1,2m. Riêng đối với cà phê vối miền nam áp dụng dạng nhiều thân kết hợp với hãm ngọn nuôi tầng.

+ Sửa cành: Cắt bỏ cành vượt, chồi vượt, loại bỏ cành tăm hay cành vòi voi, sửa cho tán thông thoáng.

– Sửa cành nuôi quả: sau 1 thời gian thu hoạch, trên tán cây nhiều cành mang quả già và có quả khô. Do vậy cắt bỏ cành khô, cành vòi voi, cành già tạo điều kiện cho cành ra tơ, giúp cho cây ra hoa kết quả tốt.

– Sửa cành đau: Sau 10 – 15 năm thu hoạch, cây mất cân đối, tán không đồng đều, năng suất có xu hướng giảm thì tiến hành sửa cành đau. Cắt tất cả các cành thu gom tán cây để lại các đoạn cành dài 30cm (phía trên) và 50cm (phía dưới).

– Cưa đốn phục hồi: khi sức sinh trưởng của cây giảm, năng suất giảm rõ rệt, tiến hành cưa đốn phục hồi, cưa toàn bộ tán cây chỉ bớt lại phần gốc 20 – 25cm.

– Tưới nước nhằm kéo dài tuổi thọ của bộ lá, là cơ sở của việc tạo hoa kết quả và tạo năng suất. Đặc biệt vào mùa khô hạn ở Tây Nguyên, tập trung tưới đón hoa, nuôi quả. Bắt đầu tưới vào mùa khô, lượng nước tưới 400 – 500m3/ha/lần. (4 – 6 lần).

– Yêu cầu hái đúng độ chín (2/3 quả màu đỏ), hái từng quả, không hái chùm, không tuốt cành, khi hái phải bảo vệ cành lá, tránh tổn thương các bộ phận của cây, ảnh hưởng đến năng suất quả về sau. Cà phê chè quả chín tháng 10, 11, 12, 1; cà phê vối tháng 11, 12, 1, 2, 3, cà phê mít tháng 6, 7, 8, 9.

– Thu hái xong vận chuyển về nơi chế biến kịp thời. Nếu không chế biến kịp cần rải cà phê trên nền cao thoáng mát.

– Chế biến cà phê có 2 phương pháp:

Quả tươi, làm sạch, xát tươi, xát tươi, ngâm ủ, rửa, cà phê thóc, xay khô, đánh bóng, phân loại, đóng bao, xuất xưởng.

Quả tươi, làm sạch, sấy khô, xay quả khô, phân loại, đóng bao, xuất xưởng.

Bạn đang xem bài viết Cây Cà Phê Và Kỹ Thuật Canh Tác (Tiếp Theo) trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!