Xem Nhiều 2/2023 #️ Các Biện Pháp Kỹ Thuật Cơ Bản Của Nghề Trồng Rau # Top 4 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 2/2023 # Các Biện Pháp Kỹ Thuật Cơ Bản Của Nghề Trồng Rau # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Biện Pháp Kỹ Thuật Cơ Bản Của Nghề Trồng Rau mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phương thức trồng và phương pháp thiết kế vườn rau

Trước khi đi vào tổ chức sản xuất rau, yếu tố quan trọng đầu tiên cần được tính đến là lựa chọn và quyết định phương thức trồng rau để trên cơ sở đó tiến hành thiết kế vườn rau hợp lý.

Nội dung trong bài viết

Phương thức trồng và phương pháp thiết kế vườn rau

Phương thức trồng rau

Phương pháp thiết kế vườn rau

Đất trồng rau

Chọn đất

Làm đất, lên luống

Phương thức trồng rau

Rau có thể trồng ngoài trời hoặc trồng ở các khu đất có bảo vệ, hoặc trồng theo phương thức hỗn hợp.

-Trồng ngoài trời là từ khi gieo cho đến khi thu hoạch, các khâu kỹ thuật như gieo, trồng, chăm sóc,… đều được tiến hành ở ngoài trời, không có các điều kiện che chắn, bảo vệ. Theo phương thức này các hoạt động sản xuất thường đơn giản, dễ làm, giá thành hạ, có thể tiến hành sản xuất trên những diện tích lớn.

-Trồng ở các khu đất được bảo vệ thường được tiến hành ở những nơi do điều kiện không thuận lợi như giá rét, cây không thể sinh trưởng và phát triển trong điều kiện tự nhiên. Cũng có thể do những mục đích riêng, thí dụ các vườn ươm kiểm dịch thực vật,.., người ta tiến hành trồng rau trong các khu đất được bảo vệ. Thông thường người ta xây dựng các khu nhà kính, các khu lồng lưới có các hệ thống sưởi ấm, hệ thống thông gió, hệ thống ánh sáng, v.v… tạo nên các khu đất được bảo vệ để trồng rau. Trồng theo phương thức này, thường khá phức tạp, tốn nhiều công, đầu tư lớn, giá thành cao v.v… Nhưng theo phương thức này có thể tạo ra những năng suất rau rất cao trên từng đơn vị điện tích, có những trường hợp năng suất rau có thể cao gấp 4- 5 lần so với trồng ngoài đồng. Phương thức này cũng mang lại hiệu quả cao trong việc sử dụng đất và tạo ra khả năng để giải quyết rau giáp vụ, sản xuất được rau ăn trong các điều kiện ngặt nghèo, tạo nên các điều kiện thí nghiệm khống chế và điều tiết các yếu tố ngoại cảnh mà trong điều kiện sản xuất ở ngoài trời không thể có được.

Trồng theo phương thức hỗn hợp là kết hợp giữa phương thức trồng ngoài trời với phương thức trồng trên các khu đất được bảo vệ.

Để đảm bảo thu được hiệu quả kinh tế cao, làm tăng năng suất và chất lượng của rau, một số loại rau có những thời kỳ được gieo trồng trên đất được bảo vệ và các thời kỳ khác lại được trồng và chăm sóc ở ngoài đồng. Thông thường thời kỳ gieo hạt và phát triển cây con được tiến hành ở trên đất được bảo vệ, thời kỳ này cây sinh trưởng và sinh thực được tiến hành ở ngoài đồng ruộng.

Phương pháp thiết kế vườn rau

Vườn rau thường được xây dựng ở các vùng chuyên canh trồng rau, trên cơ sở đất đai nông nghiệp được quy hoạch sử dụng hợp lý nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao.

Để đáp ứng nhu cầu về rau cho các thành phố lớn, các khu công nghiệp tập trung, các khu dân cư đô thị, các địa phương thường quy hoạch các vùng sản xuất rau có tính chất tập trung chung quanh các điểm có yêu cầu phục vụ đó. Mặt khác, dựa trên cơ sở điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi, một số vùng được quy hoạch thành những vùng tập trung sản xuất một số loại rau xuất khẩu như cải bắp, dưa chuột, ngô rau, tỏi v.v…

Việc quy hoạch thành những vùng rau chuyên canh có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình thâm canh sản xuất rau và tạo điều kiện để áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới vào nghề trồng rau.

Trên cơ sở quy hoạch vùng trồng rau, người ta tiến hành thiết kế các vườn rau. Để quy hoạch cụ thể các vùng chuyên canh rau cấn phân tích cụ thể và chi tiết các đặc điểm khí hậu, đất đai, tập quán canh tác của địa phương, các kết cấu hạ tầng đã có. Trên cơ sở đánh giá đầy đủ các điều kiện hiện tại, tính toán các nhu cầu của thị trường và dự báo nhu cầu trong tương lai, quy hoạch sắp xếp và bố trí trồng các loại rau phù hợp với điều kiện khí hậu đất đai, khả năng chuyên chở, lưu thông, v.v…

Trong khu trồng rau, cần quy hoạch và thiết kế một hệ thống đường sá thuận lợi bao gồm các trục đường chính với các hệ thống đường nhánh đến tận các ruộng rau. Rau phần lớn được sử dụng dưới dạng tươi sống lại dễ bị dập nát, cho nên cần có hệ thống giao thông thật thuận tiện để tránh hư hao mất mát sau khi thu hoạch và trong khi chuyên chở.

Trong khu trồng rau, hệ thống giao thông thường được kết hợp với hệ thống tưới tiêu nước và bờ vùng, bờ thửa ruộng rau. Hệ thống tưới gồm những mương dẫn nước các cấp nằm bên cạnh các đường trục chính và phụ. Mương trục chính cần cao hơn, rộng hơn các mương nhánh, mương xương cá vào ruộng. Hệ thống mương tưới cần dược bê tông hóa và xây dựng cao hơn rãnh ở các luống rau để tưới nước có thể tự chảy vào ruộng rau dễ dàng. Hệ thống tiêu nước cần được bố trí ở mọi khu vực trồng rau. Hệ thống mương tiêu cần thấp hơn luống rau, để khi gặp mưa hoặc khi cần tháo nước, nước chảy ra được dễ dàng.

Khu vực trồng rau cần dược chia thành các ô nhỏ. Tùy theo tính chất đất đai, tuỳ theo đặc điểm của loài rau mà chọn diện tích các ô trồng rau cho thích hợp. Nhưng các khu vực trồng rau chỉ nên thay đổi trong phạm vi 4.000m đến 10.000m2. Trong khu vực trồng rau nên chia thành các khu nhỏ như sau:

Khu vườn ươm chuyên sử dụng để gieo hạt và chăm sóc cây con. Diện tích khu vườn ươm được tính toán như sau: 1m2 vườn ươm gieo hạt có đủ cây con trồng cho 15-20m2 đối với hành, 30-40m2 đối với xà lách, 40-50m3 đối với su hào, 80- 120m2 đối với cải bắp, su lơ, 60-100m2 đối với các loại cà, ớt. Diên tích vườn ươm còn tùy thuộc vào tỷ lệ nảy mầm và số hạt trong 1 gam của các loại rau. Nếu tỷ lệ nẩy mầm cao, số hạt trong 1 gam nhiều thì diện tích vườm ươm giảm đi, nếu tỷ lệ nẩy mầm thấp, số hạt trong 1 gam ít thì diện tích vườm ươm phải tăng lên.

Khu chuyên trồng rau sản xuất. Tùy thuộc vào kế hoạch sản xuất phân bố cho các loại rau mà bố trí diện tích cần thiết cho mỗi loại rau. Việc bố trí diện tích cho các loại rau còn cần được tính toán trên cơ sở hệ thống luân canh được áp dụng cho từng khu vực trồng rau cụ thể.

Khu chọn lọc giống, nhân giống và thực nghiệm: Trong khu này có thể bố trí các vườn giống rau, vườm chọn lọc giống, vườn nhân giống, vườn thí nghiệm tăng sản, vườn thực nghiệm úng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ mới.

Đất trồng rau

Chọn đất

Rau có thể sinh trưởng và phát triển trên nhiều loại đất khác nhau, Tuy nhiên, muốn có năng suất cao và chất lượng rau tốt cần trồng rau trên các các chân đất tốt, phù hợp với đặc điểm của từng loại rau.

Nhìn chung, các loại rau cần được trồng trên các chân đất giàu dinh dưỡng, cao ráo, thoáng, gần nước, tơi xốp, tầng đất trồng trọt dày. Đối với những loại rau ăn rễ, thân cũ thì cần chọn đất cát pha nhẹ, đất phù sa ven sông. Các loại cải, su hào, bắp cải, su lơ, cà, bầu bí,… nên trồng trên các chân đất thịt nhẹ. Các loại rau thuỷ sinh như rau muống, rau cần, cải xoong… nên trồng ở các chân đất trũng, ngập nước.

Làm đất, lên luống

Đất trồng rau cần được cày, cuốc sâu. Đối với các chân đất thịt sau khi cày lật, cần được phơi ải 5-7 ngày. Đối với đất cát có thể không nên cày quá sâu.

Đất trồng rau không đòi hỏi phải làm quá nhỏ. Lớp đất mặt chỉ nên làm nhỏ cho đến kích thước 3-5cm là vừa. Tuy vậy, khi gom luống cần chú ý tạo lớp đất trên cùng gồm những phần tử nhỏ hơn lớp đất ở dưới. Đối với đất vườn ươm, cần làm đất nhỏ hơn nhưng cũng không nên mịn như bột, vì làm đất quá nhỏ sau những trận mưa hoặc sau nhiều lần tưới sẽ làm mặt đất đóng váng, hạt rất khó mọc, đất không được tơi xốp và thoáng khí. Khi cày bừa cần chú ý vơ sạch cỏ dại và làm cho mặt ruộng bằng phẳng.

Lên luống: Sau khi đất được cày bừa kỹ, nhặt sạch cỏ dại thì lên luống. Có nhiều kiểu luống để có thể thích hợp với điều kiện khí hậu và địa hình của từng vùng.

Luống bằng: Áp dụng cho những vùng cao ráo, lượng mưa đều đặn. Mặt luống bằng phẳng, những nơi mưa nhiều thì cần làm luống cao và hẹp. Lên luống theo cách này cổ thể làm tăng được diện tích trồng rau.

Luống chìm: Áp dụng cho những nơi ít mưa, thường bị khô hạn. Mặt luống thấp hơn mặt đất và đường đi lại. Làm luống theo cách này có thể giữ được ẩm cho cây.

Luống mui thuyền: Ở giữa luống cao, thấp dần về 2 bên tạo thành hình khum mui thuyền. Luống kiểu này có tác dụng thoát nước trên mặt luống khi trời mưa. Loại luống này được áp dụng cho những vùng mưa nhiều.

Luống lòng khay: Ở giữa thấp, xung quanh luống có gờ cao, có tác dụng giữ nước, giữ phân. Kiểu luống này thường được áp dụng cho những vùng đất cát trong vụ hanh khổ.

Luống gờ sống trâu: Ở giữa cao, hai bên mép luống tạo thành rãnh, rau được trồng vào các rãnh đó. Kiểu luống này có tác dụng giữ ẩm. Đất ở giữa luống được phơi ải rồi dùng để vun dần vào gốc cây. Luống này dược áp dụng cho những vùng có nhiều gió. Các gờ đất che cho cây rau đúng vững không bị gió làm lay động nhiều.

Luống vồng là một loại luống cao, đáy rộng, mặt luống hẹp. Loại luống này thường được áp dụng để trồng các loại rau lấy thân củ, rề củ nhu cà rốt, củ cải v.v… ở những nai không có mưa nhiều.

Hình dáng của luống chủ yếu là hình thang. Ở đáy rộng, mặt luống hẹp.

Chiều cao luống tùy thuộc vào địa hình, đất đai và tình hình mưa hạn. Ở những nơi thoát nước dễ đàng, đất cao ráo, đất cát pha, nhẹ thì chiều cao luống chỉ cần 12-15cm. Đối với các loại rau có rễ ăn nông như hành, tỏi, mùi và một số rau gia vị khác thì không cần làm luống cao. Chiều cao của luống còn tùy thuộc vào tình hình mua nắng ở từng vụ, từng mùa. Cùng một loại rau, nhưng nếu trồng vào vụ mưa thì cần làm luống cao để dễ thoát nước, trồng vào vụ khô hạn thì cần làm luống thấp hoặc chìm để giữ ẩm. Ở các chân đất thịt chiều cao luống cần làm cao hơn so với ở các chân đất bãi, đất cát pha và cao tới 18-20cm.

Chiều rộng luống thông thường là 0,8-1,2m, cũng có loại luống rộng 1,5 – 2,3m. Luống rộng thường được áp dụng cho các loại rau ít phải chăm sóc hoặc có động tác chăm sóc đơn giản.

Rãnh luống thường rộng 25-30cm, có nơi làm rộng đến 40- 50cm. Làm rãnh rộng thường giảm điện tích đất được sử dụng đề trồng rau vì vậy ở những chân đất cao, đất cát pha, thành phần cơ giới nhẹ người ta chỉ cần làm rãnh hẹp và lên luống

Hướng luống có ý nghĩa trong việc cung cấp ánh sáng và nhiệt độ cho cây. Hướng luống có tác động đến sinh trưởng và phát triển của rau, đặc biệt là đối với các loại rau cao cây, cây leo lên giàn. Thực tế trồng rau ở nước ta cho thấy hướng luống Đông – Tây là tốt nhất vì với hướng luống này cây rau tiếp thu đầỵ đủ ánh sáng mặt trời ban ngày.

Các Dáng Thế Cơ Bản Của Cây Cảnh Nghệ Thuật, Bonsai

Phân loại cây dáng thế dựa vào dáng thế cây và số lượng cây trên gốc mà người ta chia thành các loại như sau:

1. Dáng cơ bản

1.1. Dáng trực là gì?

Cây dáng trực là cây có trục thân cây thẳng góc với mặt đất (thế đứng) α = 0 o (nhìn tổng thể giữa ngọn và gốc hình thành đường thẳng hoặc gần thẳng đứng).

* Ý nghĩa của cây cảnh dáng trực: Dáng trực trong nghệ thuật cây cảnh nó được nghệ thuật hoá để ẩn dụ thế hiên ngang, bất khuất…

Cây thông dáng trực thế trượng phu

Cây si dáng trực và cây sanh dáng trực

1.2. Dáng xiên (xiêu)/nghiêng hay dáng tà là gì?

Là dáng mà trục của thân cây hơi nghiêng so với phương nằm ngang khoảng α = 20 o – 70 o.

* Ý nghĩa của cây dáng xiêu: Ngoài thiên nhiên những cây này gặp trắc trở, thiên tai làm đổ nghiêng nhưng cây vẫn sống và vươn lên.

Về mặt thẩm mỹ các cây có dáng xiêu thường trông rất mềm mại, duyên dáng nhã nhặn, thường thể hiện hình tượng của người phụ nữ.

Cây Sanh dáng nghiêng và cây Hoa giấy dáng nghiêng

Cây Sanh dáng nghiêng cành phóng và Cây Sanh dáng nghiêng

1.3. Dáng hoành là gì?

Dáng hoành là là dáng cây mà trục của thân cây nằm ngang so với mặt chậu.

Ý nghĩa của cây cảnh dáng hoành: Dáng hoành ở ngoài tự nhiên thường là những cây có điều kiện sống khó khăn nhưng cây vẫn sống và nảy lộc đâm chồi (cây nằm ngang trên mặt đất α = 70 ≤ 90 o)

* Về thẩm mỹ: Dáng cây này khá khác thường, ngoạn mục biểu hiện sự mềm mại dịu dáng, duyên dáng…

Cây Hoa giấy dáng hoành

Cây Cần thăng dáng hoành và Cây Sanh dáng hoành

3.1.4. Dáng huyền là gì?

Cây sanh dáng huyền và Cây Hoa giấy dáng huyền

* Ý nghĩa của cây cảnh dáng huyền: Ngoài thiên nhiên những cây này thường sống trong điều kiện khí hậu nghiệt ngã nhất (cây ở sườn núi, vách đá…) nhưng cây vẫn có thể sống, gốc cây bám chắc vào đá, treo leo giữa trười mây, ngọn cây vươn lên tạo hình ảnh của sự kiên trì nhẫn nại vượt qua phong ba bão táp hướng tới tương lai phát triển.

Về mặt thẩm mỹ: Dáng cây thể hiện sự mềm mại, dịu dàng, sự tươi trẻ… song tiềm ẩn một sức sống mãnh liệt.

2. Một số thế cơ bản của cây cảnh, bonsai

2.1 Thế từ cây một thân

a. Thế trượng phu

Tùng la hán thế trượng phu

Cây dáng trực thân nhỏ đều từ gốc đến ngọn, bộ rễ to, khoẻ, vững trắc. cây có 2 hoặc 4 cành và ngọn, cành số 1 có chiều dài bằng 2/3 chiều cao của cây.

Cây trong chậu nhưng có cảm giác cao ngút ở đại ngàn phỏng theo cây thông ngạo nghễ, hiên ngang đứng trên núi cao. Cây nói nên khí tiết của đấng trượng phu, thẳng thắn, cương trực…

b. Thế nhất trụ kình thiên

Là cây dáng trực, khoẻ khoắn, vững chắc, cành và ngọn tập trung ở trên cao, để lộ thân cây to cho ta một cảm giác khoẻ khoắn.

Ý nghĩa nói về thế lực nhỏ bé nhưng dũng ảm chống lại thế lực tiêu cực rất to lớn

Cây sanh thế nhất trụ kình thiên

c. Thế tam đa (Phúc – Lộc – Thọ)

Tam đa gồm: đa phúc (nhiều con), đa lộc (nhiều tiền của), đa thọ (sống lâu). Đó là ước muốn chung của con người xa xưa.

Thế được tạo hình từ cây 2 cành 1 ngọn (cây 3 thân cũng gọi là thế tam đa). Kiểu cổ các tán được cắt tả tròn trịa như hình đĩa xôi, theo quan niện quả phúc thì phải tròn. Ngày nay, cành và ngọn đã được cắt tỉa phóng thoáng, linh hoạt, tự nhiên hơn và dáng sử dụng là trực biến hoá.

Thế tam đa

– Ngày nay, quan niệm về thế tam đa cũng thay đổi:

“Nhiều con – Túng thiếu – Giảm thọ

Ít con – Dư dật – Trường thọ”

d. Thế ngũ phúc

Cây thế ngũ phúc (4 cành 1 ngọn) cũng tương tự như cây tam đa. Thế này thường ở dáng trực biến hoá Thế tam đa và thế ngũ phúc đi đôi với nhau, hai thế này đều là cây trực thọ, cây ngũ phúc năm tầng, có thể uốn như cây tam đa rồi nuôi thêm hai tán nữa y như vậy là đạt

Thế ngũ phúc

Nhưng cũng có thể đối thành 5 tầng theo lối chiết chi tứ diện cũng được. Thế ngũ phúc to cao đẹp hơn thế Phước, Lộc, Thọ, ý muốn chúc tụng cao hơn nữa là Phước, Lộc, Thọ, An, Khang, nghĩa là có phúc, tốt lành may mắn, có lộc giàu có nhiều ruộng đất, có thọ là sống lâu trăm tuổi, An là sống yên ổn không bị xáo trộn, có khang là vui vẻ, chết êm ải thoải mái. Đúng là câu chúc tụng đầy đủ đẹp đẽ nhất.

e. Thế bạt phong

Thế bạt phong

Thường là cây dáng xiêu, thường gọi là xiêu phong. Trong tạo hình các nhánh, cành được kéo xuôi về phía sau trái chiều với dáng của cây. Các tán thưa, rõ tán, nhánh, cành lượn sóng có cảm giác gió đang thổi mạnh

Thế cây như một con người đang vượt qua bão táp để đi tới đích, nói nên khí phách quả cảm, ý chí kiên cường của con ngời trước mọi bão táp của cuộc đời.

f. Thế bạt phong hồi đầu

– Tương tự như thế bạt phong chỉ khác là cổ cây quặt về phía sau, ý nghĩa thể hiện con người cố gắng vượt qua bão táp nhưng còn ngoảnh nhìn về phía sau đầy lưu luyến và hứa hẹn đối với quê hương.

Thế bạt phong hồi đầu

g. Thế long thăng

– Cách thứ nhất: Uốn đầu rồng ở trên ngọn cây. Cách này hợp lý vì rồng bay lên thì đầu phải ở trên, nhưng rất khó uốn, làm sao ngọn cây nhỏ hơn gốc cây mà uốn đầu nằm trên ngọn cho đạt. Rồng lúc nào cũng đầu to, đuôi nhỏ, cho nên phải tìm cách cưa cắt cách nào để cho đầu rồng to, lại thêm mũi miệng nữa thật là khó tạo dáng cho đẹp. Thân rồng thì dễ, chỉ cần uốn cong cong, các nhánh làm chân làm mây ôm lấy thân cây không mấy khó, nhiều người vẫn uốn được.

– Cách thứ hai: Thăng lên nhưng đầu năm dưới gốc cây, phải tạo dáng làm sao khi nhìn là thấy rồng cất đầu bay lên mới tài. Phải tạo dáng cho rồng vươn lên, mắt, mũi, miệng xừng lên, hai chân trước làm hai chân vươn móng chòm lên, hai chân sau hạ thấp đuôi vẫy đập để cất cánh bay bổng lên. Nghệ thuật trong thăng là thân mình phải quật khởi mới mới đúng điệu.

Thế Long thăng

Thế này đẹp hơn vì đầu to đuôi nhỏ, tàn nhánh cân đối. Thế này tượng trưng cho lòng cương quyết, lúc nào cũng vươn lên tiến bộ.

h. Thế thác đổ

Thế thác đổ

Thế này cây cảnh cổ ít có thấy, là thế huyền độc thụ thân nằm bò qua miệng chậu, như bị trận cuồng phong xô ngã xuống ao, nên ngọn cây bẻ cong, thòng xuống thấp hơn đáy chậu. Dáng thật mềm mại uốn cong hợp lý theo luật hồi đầu tự nhiên, vươn lên lúp búp có từng bậc rất đẹp, biểu hiện cho sức sống làm cho người xem có cảm giác dễ chịu.

i. Thế Hạc lập

Thế này biến đổi từ thế phượng vũ, nhưng hai cánh không xòe ra, đầu ngẩng lên cao hơn nữa, đuôi cũng không xòe ra, cành hầu cũng ôm lấy thân cây làm cho mình chim hạc hơi dài ra, ngọn vươn cao và hồi đầu hạ để làm mỏ hạc. Thế này gọn gàng, nhưng oai vệ rất đẹp. Biểu hiện lòng tự tin, tính khiêm tốn, nhưng nhất định sẽ thành công.

Thế Hạc lập

k. Thế phượng vũ

Thế này sửa theo dáng hình chim phượng đang múa. Là cây độc phụ chân phượng có hai rễ nổi cao lên thành 2 chân, thân ngắn vặt làm mình ngọn hồi đầu làm đầu chim. Cành thứ nhất uốn xèo ra phía sau làm đuôi chim, hai cành tả hữu uốn xèo ra thành hình cánh chim đang múa, đây là phân hay dở của nghệ nhân, phải uốn sao cho uyển chuyển mềm mại như cánh chim múa. Cành phụ che thân làm hầu, ức ngắn gọn. Thế này phải có nét mỹ thuật, khi nhìn là biết chim phượng bay múa, tượng trưng cho tính yêu đời vui tươi.

Thế phượng vũ

2.2 Thế từ cây 2 thân một gốc

a. Cây thế phụ tử, mẫu tử

Cách làm cây: Cây có 2 thân cùng gốc. Đường kính thân cây con tối đa bằng 2/3 đường kính cây cha mẹ. Chiều cao thân cây con không vợt quá 1/2 chiều cao cây cha mẹ

Thế phụ tử

+ Cây thế phụ tử có dáng trực, khoẻ khoắn. Thân con thường ở giữa canh số 1 và số 2

Thế mẫu tử

+ Cây thế mẫu tử có dáng xiêu, mềm mại, uyển chuyển.

+ Vị trí thân cây con không bị các cành của thân cha mẹ che lấp

+ Thân cha mẹ có thể lấy 2 hoặc 4 cành 1 ngọn tuỳ theo nét đi của cha mẹ. Thân tử sẽ phân cành ngọn tuỳ theo cành ngọn của cha mẹ làm sao cho tổng số cành của 2 thân là số lẻ.

b. Cây thế huynh đệ

Người chơi cây thế quan tâm tìm những cây hai thân một gốc để tạo thế huynh đệ với ý nghĩa về giáo dục đạo đức. Ông cha ta có câu

“Quyền huynh thế phụ – Anh thay mặt cha

Huynh đệ như thủ túc – Anh em như chân tay”

– Yêu cầu đối với thế này

+ Chạc cây liền cùng với gốc

+ Chạc cây phải khép sát nhau

+ Độ lớn và chiều cao hai cây vào khoảng một 10 một 8

– Chú ý:

+ 2 cây dáng trực, khoẻ khoắn – anh em trai

+ Thân to thẳng khoẻ, thân nhỏ mềm mại – Anh trai, em gái…

Cây Tùng cối – Thế Huynh đệ và Sanh – Thế huynh đệ đồng khoa

Cây Bỏng lẻ – Thế tỷ muội và cây Ngâu – Thế tỷ muội

2.3 Những thế từ cây môṭ gốc ba thân hoăc̣ ba thân trồng ghép trởlên

a. Thế tam đa.

Theo truyện dân gian TQ, thì Phúc – Lộc – Thọ là 3 vị thần chăm lo cho dân về các mặt phúc, lộc, thọ có tên là “Phúc tinh, Lộc tinh và Thọ tinh” Cấu tạo của thế này là cây 1 gốc 3 thân hoặc 3 cây trồng ghép lại hoặc 3 cây liền nhau qua bộ rễ (liên căn)

Thế tam đa

b. Thế Ngũ phúc

Cây 1 thân 5 tán (4 cành, 1 tán) hoặc là cây 1 gốc 5 thân (trồng ghép) thể hiện: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh

Thế này trồng bằng năm cảnh trong một cái chậu hay cái khay to làm cảnh núi rừng, mỗi cây có một dáng riêng biệt có thể đứng hết, hoặc cây đứng cây xiêu, cây nằm, nhưng phải có lớn có nhỏ như sơn thủy mới đẹp

Thế ngũ phúc

Thân cành nhánh phải hài hòa, làm sao có tính cách giao chi, hỗ tương với nhau, nếu thiếu một cây thì thấy không đẹp.

c. Thế rừng cây

Các cây cao thấp khác nhau được trồng sao cho nhìn giống như 1 khu rừng.

Thế rừng cây

2.4. Một số thế khác

a. Thế lưỡng long tranh châu

Thế này phải uốn với song thọ trồng chung vào một chậu, uốn đối xứng thành hai con rồng uốn khúc, giao đầu tranh hạt minh châu nằm ở giữa.

Thế lưỡng long tranh châu

b. Thế long đàn phượng vũ

Thế này bay bướm hơn, có nghĩa là chim phượng hoàng múa trên mình rồng. Đây là thế có thể uốn với một cây, hoặc hai cây trồng chung một chậu. Phải cây cổ thụ gốc to, uốn nằm trên miệng chậu, gốc ngẩng lên làm đầu rồng.

Thân uốn cong hạ thấp, các chi xòe ra bốn phía làm chân và mây, ngọn ngã về phía sau làm đuôi rồng, cây thứ hai có hai rễ chẻ ra làm chân phượng, thân ngã ngang qua ôm lấy mình rồng, các cành hậu thân uốn làm đầu và đuôi chim phượng, hai cành tả hữu xòe ra làm hai cánh chim uốn với dáng đang múa, ngọn làm mây.

Thế này uốn cho thật dịu dàng mềm mại như phượng đang múa, tán nhánh xòe ra, trên mình rồng uốn khúc nhịp nhàng, thế chim phượng múa trên lưng rồng là tuyệt đẹp, biểu tượng cho quyền uy của vua chúa, ngày xưa chỉ có ở trong cung đình.

Thế long đàn phượng vũ

c. Thế bàn hổ phục

Thế này cũng có thể uốn với một cây cảnh to có hai thân hoặc với hai cây trồng chung một chậu. Thế long bàn hổ phục có nghĩa là rồng nằm uốn khúc và hổ cũng nằm sát đất chịu khuất phục để chầu chủ nhân.

Thế này rất khó uốn, phải có bộ rễ thành hình chân thú nằm xòe ra phía trước, tả thanh long, hữu bạch hổ, hai chân hổ chồm ra, hai chân rồng ngấu xuống: cây thanh long, gốc nằm trên mặt chậu, đầu ngẩng lên, thân uốn cong làm mình rồng, cành tả hữu uốn theo lối chiết chi làm mây, hai cành trước sau làm chân xòe móng ra, ngọn hồi đầu làm đuôi, uốn dáng mềm dẻo, uỷên chuyển

Cây bên phải, gốc thân bò trường lên chậu, đầu cúi mọp xuống, các chi tỉa nhỏ ôm lấy thân để trang trí, ngọn vươn lên làm đuôi, tỉa theo tàn chổi nhỏ. Thế long bàn hổ phục có hình dáng nằm chầu khuất phục hiền hòa, nhưng không kém phần uy nghi, biểu tượng cho quyền.

Thế bàn hổ phục

d. Thế long mã hồi đầu

Thế này gồm hai cây to riêng biệt hay cùng gốc, nhưng một cây cao một cây thấp, rễ xòe ra theo chân thú, cây thấp thân to, ngắn nằm ngang, ngọn làm đầu ngẩng lên, không tán nhánh, tạo dáng con ngựa nằm quay đầu trở lên.

Cây cao uốn thân long, cong cong văn vẹo, phân chi theo lối tứ diện, xòe ra bốn phía làm chân và mây, ngọn uốn tán to như bông sen rồi bẻ cúp xuống làm đầu rồng quay trở lại. Thế này rất khó uốn, phải lựa những cây mềm dẻo, có nhiều rễ để uốn chân thú nằm xòe ra như chân ngựa, uốn làm sao cho khỏi phải giải thích người khác xem mà biết mới hay, cho hài hòa mới đẹp.

Thế long mã hồi đầu

Nguồn: Giáo trình nghề tạo dáng và chăm sóc cây cảnh – Bộ NN&PT NT

Kỹ Thuật Trồng Phong Lan Cơ Bản

1- CÁC YẾU TỐ QUAN TRỌNG.

Phải nói cây sống vì nước, nếu không có nước thì chẳng có cây gì có thể sống được cả. Do đó, ẩm độ là quan trọng bật nhất đối với cây phong lan. Người trồng lan muốn lập vườn lan, trước hết phải nghĩ đến nguồi nước tưới, rồi sau đó mới lo đến các vấn đề khác.

a)- Độ ẩm:

Sớm muộn gì các nhà vườn trồng phong lan cũng bị vấn đề ẩm độ không khí làm bận tâm. Người ta cố gắng tạo một ẩm độ thích hợp cho sự tăng trưởng và phát triển các giống lan hiện có. Thông thường ẩm độ tương đối tối thiểu 70% thích hợp cho sự tăng trưởng của nhiều loại lan. Tuy nhiên ẩm độ lý tưởng vẩn là ẩm độ của vùng bản xứ mà loại lan đó được tìm thấy.

Độ ẩm của không khí là tỷ lệ của sư trương hơi nước, được tính bằng phần trăm (%). Thí dụ: ngày mưa có độ ẩm cao đến 100% là độ ẩm của sương mù, phơi quần áo không khô. Độ ẩm 0% là ngoài trời nắng gắt, hoàn toàn khô, không có hơi nước trong không khí. Độ ẩm của vườn lan cỡ 70% là thích hợp nhất. Độ ẩm thay đổi theo thời gian trong ngày. Buổi sáng mát mẻ, ẩm độ cao. Buổi trưa, chiều khô nóng ẩm độ thấp. Độ ẩm cũng thay đổi theo mùa. Mùa mưa ẩm độ cao, mùa nắng ẩm độ thấp. Gìan lan nào mà có được độ ẩm tương đối ổn định thì thật là lý tưởng.

Các nhà vườn đã cố gắng dùng các biện pháp khác nhau để kiểm soát điều kiện ẩm độ tại các vườn lan của mình, nhằm mục đích tạo độ ẩm ổn định cho sự phát triển của cây lan, cũng như ngăn ngừa tình trạng nhiễm bệnh và điều khiển sự ra hoa.

Một phương pháp đơn giản nhất được sử dụng để ước định ẩm độ trong vườn là, dùng tay sờ vào thành và đáy chậu: Nếu tay cảm thấy ẩm là chậu đã thứa nước, bề mặt chậu khô và mát là vừa, nếu khô và hơi ấm là thiếu. Phải lưu ý, cây lan luôn bị chết rất nhanh vì thừa nước hơn là thiếu nước. Đây cũng là một sự cố mà các người mới chơi lan thường hay mắc phải. Thừa nước qúa cây sẽ bị thối úng và chết trong vài ngày, còn ngược lai thiếu nước cây còi cọc, sức tăng trưởng chậm do sự giảm quan hợp và tăng hô hấp, nhưng cây sống lây lất rất lâu.

Ta cần phân biệt ba loại ẩm độ: ẩm độ của vùng, ẩm độ của vườn và ẩm độ cục bộ trong chậu.

Ẩm độ của vùng là của một vùng có diện tích nhỏ mà ở đấy ẩm độ gần đồng nhất với nhau, do thiên nhiên tạo ra.

Ẩm độ của vườn là ẩm độ đo được trong vườn lan.

Ẩm độ cục bộ trong chậu là ẩm độ trung bình của các chậu lan ở trong vườn, ẩm độ này đo được trong các giá thể.

Ẩm độ của vùng < ẩm độ của vườn < ẩm độ cục bộ trong chậu.

Nếu ẩm độ của vùng cao thì ẩm độ của vườn và ẩm độ cục bộ trong chậu cao, do đó ta không cần tưới nước hoặc cấu tạo một giá thể giữ ẩm.

Nếu ẩm độ của vùng thấp, ta tăng lượng nước tưới và giá thể được cấu tạo gồm những chất hút ẩm

Cần lưu ý là, ẩm độ trong vườn cao thì tốt hơn lá ẩm độ cục bộ trong chậu cao. Nên nhớ là lan ít bị chết do ẩm độ trong vườn cao, mà thường bị chết do ẩm độ cuc bộ trong chậu cao nhất là ẩm độ cục bộ này, tạo bởi các giá thể hoàn toàn giữ ẩm hiện diện trong chậu. Ẩm bộ cục bộ chỉ được tăng lên trong trường hợp không có cách nào khác, do ẩm độ trong vườn quá thấp không đủ cung cấp cho sự phát triển của cây khi sự thông gió quá độ. Tưới nước vào chậu, sẽ làm tăng ẩm độ cục bộ, phải lưu ý vấn đề này nhất là mùa mưa, vào những ngày mưa dầm.

b)- Tưới nước:

Để điều hoà ẩm độ, người trồng lan phải biết cần tưới nước như thế nào, cũng như tưới nước vào lúc nào. Phải biết loại lan nào cần nhiều nước, loại nào cần ít nước, loại lan nào cần nước có độ PH cỡ bao nhiêu, loại nào chịu được nước có hơi kiềm, loại lan nào chịu được nước có hơi acide. Nước tưới phải tuyệt đối không mặn, không có phèn, không có vôi

Tưới nước nhiều hay ít tuỳ thuộc vào ẩm độ, sự thông gió, giá thể, loài lan, mùa tăng trưởng, nhiệt độ, sự che sáng nơi trồng. Mỗi nhà vườn đều có cách tưới khác nhau, tuỳ theo quy mô vườn lan, lớn hay nhỏ.

Nếu bạn là người mới chơi lan, số lượng chậu không đáng kể thì phương pháp nhúng là hoàn hảo. Chậu được nhúng hẳn vào trong nước, vì thế chậu và giá thể ướt đều. Tuy nhiên phương pháp nhúng lại rất dễ lây bệnh từ cây này sang cây khác. Đây là khuyết điểm cần lưu ý.

Mỗi loài lan có nhu cầu tưới nước khác nhau. Cu trả lời sau đây có vẻ hơi nghịch lý đối với người mới chơi lan, nhưng lại là một sự thật. Cây phong lan phải được tưới váo mùa mưa nhiều hơn là mùa nắng vì đây là mùa sinh trưởng của lan, trừ những ngày mưa nhiều, ta phải tưới điều đặn trong những ngày nắng ráo. Cũng không nên gó một tiêu chuẩn bình quân về lượng nước tưới hàng ngày đối với lan, ngày nắng xen kẽ giữa 2 ngày mưa, tưới nước ít hơn những ngày nắng của các tiểu hạn. Đối với từng loại lan, lượng nước cung cấp cho chúng cũng khác nhau. Biểu hiện của sự thiếu nước, là các giả hành nhăn nheo, đối với loài lan đa thân, hoặc chùn lá đối với loài lan đơn thân. Tuỳ điều kiện nơi trồng ta có những lần tưới nước khác nhau. Nếu có điều kiện, có thể tưới sân thượng hoặc nển đất nhiều lần trong ngày, cách tưới này rất hiệu qủa cho sự phát triển của lan.

Còn đối với thời gian mỗi lần tưới thì như thế nào. Vấn đề này tuỳ thuộc vào điều kiện nơi trồng và kinh nghiệm riêng của từng người. Tuy nhiên, một hệ thống béc phung với thời gian tưới là 15-30 phút/ lần, có thể áp dụng cho nhiều loại lan. Thời gian giữa 2 lần tưới cũng được xác định, nếu giữa 2 lần tưới bề mặt chậu khô ráo và nhiệt độ ấm giúp cây mọc rễ rất tốt. Nếu lúc nào chậu cũng ẩm, cây sẽ khó ra rễ và phát triển yếu ớt. Lưu ý, sáng sớm và chiều tối ẩm độ tương đối cao, và giữa trưa ẩm độ thấp, vì vậy để tạo một sự ổn định về ẩm độ trong ngày. nếu tưới 2 lần trong ngày thì nên tưới một lần vào lúc 9 giờ sáng, một lần vào lúc 3 giờ chiều, nếu tưới một lần trong ngày thì tưới vào lúc 10 giờ sáng là tốt nhất.

c)- Nhiệt độ.

Nếu như ẩm độ quyết định sự xuất hiện của các loài lan, thì nhiệt độ quyết định sự phân bố các loài lan ấy trên thế giới.

Căn cứ vào địa lý. Người ta chia lan ra làm ba nhóm khác nhau theo điều kiện nhiệt độ, lan vùng ôn đới, lan vùng nhiệt đới, lan vùng trung gian.

Nhiệt độ ở giàn lan tuỳ theo khí hậu của từng vùng trên trái đất. Vùng nhiệt đới, như ở chúng tôi nóng ẩm quanh năm. Vùng ôn đới thì mát lạnh. Vùng trung gian, ranh giới giữa hai vùng nầy thì vừa mát vừa nóng như ở trung mỹ. Ở cao độ, vùng núi non như đà lạt thì có thể trông lan xứ lạnh và cả lan xứ nóng. Ở vùng quá nóng như xích đạo thì không phù hợp với phong lan. Vùng nóng ẩm có hai mùa mưa nắng rõ rệt như chúng tôi thì nên trồng các loại lan xứ nóng của Nam Mỹ. Ở Đà Lạt, Lâm Đồng khí hậu mát mẻ, nên trồng lan xứ lạnh. Nếu đem lan xứ lạnh trồng ở TPHCM, thì lan vẫn phát triển tốt, nhưng không ra hoa, vì không có đủ thời gian lạnh trong năm. Cũng có loại lan trồng ở xứ lạnh, xứ nóng đều được và rất dễ ra hoa.

Vì vậy, khi mua lan về trồng phài biết cây lan đó xuất xứ từ đâu, ở xứ lạnh hay xứ nóng. Muốn biết loại lan xứ nào thì phải xem chữ đầu của tên lan. Thí dụ: như lan cattleya. Lan xứ nóng có chữ:

LC = Laeliocattleya.

BC = Brassocattleya.

BLC = Brassolaeliocattleya vv…

Các loại lan có nguồn gốc từ xứ lạnh, mang ten chữ:

SC = Sophrocattleya.

SLC = Sophrolaeliocattleya vv…

Đây cũng là vấn đề kinh nghiệm, người trồng lan dần dần sẽ biết.

d)- Độ thông thoáng.

Vườn lan phải được thông gió. Cây lan ở ngoài thiên nhiên thường mọc trên cao, có nhiều gió. Không khí cũng là một món ăn của cây lan. Khi trồng ở thành phố thì các giàn lan thiếu gió vì bị các nhà che khuất, trừ các giànlan ở trên sân thượng. Lượng không khí duy chuyển làm mát cây lan, không có gió làm cho giàn bị hầm hơi, làm nóng cây lan. Cho nên giàn lan nào thiếu gió thì cây lan không tốt, nhưng giàn lan nào có nhiều gió quá, làm thoát nhiều hơi nước, cây lan cũng không tốt. Trường hợp nầy phải che bớt gió.

e)- Ánh sáng.

Ánh sáng là điều kiện rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển thông qua quá trình quang hợp và hô hấp. Độ sáng có thể tính bằng Lux hay bằng Calories. Giữa trưa trời nóng, độ sáng cỡ 800 Kcal/m2/giờ. Sáng sớm trời còn mát, độ sáng cỡ 100 Kcal/m2/giờ. Nguồn ánh sáng cung cấp năng lượng cho cây lan phát triển tốt, nhưng nắng nóng quá thì độ sáng tăng cao, cây lan sẽ bị khô. Cho nên mỗi loại lan chỉ chịu được một độ sáng nhất định. Đây cũng là yếu tố quyết định nhất cho sự trổ hoa của lan, tuy nhiên nhu cầu về ánh sáng của từng loài cũng khác nhau, thí dụ:

Vanda lá tròn, Bò cạp Arachnis, Renanthera, nhu cầu về anh sáng 700 Kcal 1m/m2/giờ, khoảng 100% ánh sáng.

Dendrobium, nhu cầu về ánh sáng 500 Kcal 1m/m2/giờ, khoảng 70% ánh sáng.

Vanda lá dẹp, Ascosenda nhu cầu về ánh sáng 450 Kcal 1m/ m2/giờ, khoảng 60% ánh sáng.

Catleya, nhu cầu về ánh sáng 400Kcal 1m/ m2/giờ, khoảng 50% ánh sáng.

Phalaenopsis, nhu cầu về ánh sáng, 200Kcal 1m/ m2/giờ, khoảng 30% ánh sáng.

Trừ những loại ưa sáng hoàn toàn và loại ưa 70 % ánh sáng có thể sử dụng ánh sáng trực tiếp, còn các loại khác nên dùng ánh sáng khuếch tán, nếu không cây dễ bi bỏng lá.

Dựa vào số liệu trên mà ta làm giàn che cho từng loại lan. Gìan che làm ánh sáng khuếch tán, giảm bớt độ nóng, làm mát cây lan. Sự quang hợp của cây lan gia tăng theo cường độ ánh sáng, nhưng đến mức độ nào đó thì bão hòa, cây lan không còn quan hợp được nữa, mà lại gia tăng thoát hơi nước, làm khô cây lan, vì vậy phài làm mát môi trừng chung quanh giàn lan.

Kỹ Thuật Cơ Bản Cho Bonsai

Với những người đam mê cây cảnh tạo được một tác phẩm đẹp và chăm sóc để duy trì và phát triển thêm vẻ đẹp là một niềm vui khó diễn tả được bằng lời. Để tạo được những tác phẩm đẹp phải thật sự đam mê và tốn nhiều công sức. Muốn làm được vậy người chơi cây cảnh phải nắm vững một số kiến thức cơ bản về tạo hình và cắt tỉa hay cách thức để duy trì thế cây và bộ tàn cây được cân đối. Chúng tôi xin chia sẻ một số kỹ thuật cơ bản để chăm sóc bonsai hiệu quả:

Kỹ thuật cơ bản cho bonsai

Chọn cây

Dáng tổng thể: Một tác phẩm bonsai đẹp cần có sự cân đối về tổng thể của cây, các thành phần chính tạo nên dáng tổng thể: Thân – Rễ – Cành

Thân cây: Thân cây đẹp là là một thân cây có độ to giảm dần từ gốc đến ngọn, nghĩa là gốc to nhỏ, thân cây là nét chính tạo nên dáng cây nên khi chọn nên chọn những thân phù hợp với dáng nhìn sẽ đẹp hơn, nếu thân cây có các yếu tố khác như hình dạng vỏ cây, các nét sần sùi tạo nên tuổi tác của thân cây nhìn cũng sẽ có giá trị thẩm mỹ hơn.

Rễ cây: Đây có thể nói là yếu tố tạo nên độ vững chãi và mạnh mẽ cho cây, bộ rễ cây đẹp là bộ rễ chỉ lộ ra và lan tỏa trên mặt đất, không có những rễ chồng chéo nhau hay mọc từ sau ra trước.

Cành cây: Tổng thể cành tạo nên bộ tán của cây. Tán cây có thể điều chỉnh bằng cách uốn sửa các cây mọc cho phù hợp. Thường cành trong bonsai được phân bổ theo hình xoắn ốc, độ dài và độ nhỏ của cành nhỏ dần từ gốc đến ngọn: cành gần gốc to hơn cành trên ngọn. Nên cắt bỏ những cành mọc vượt quá lớn hay mọc ngang đâm xéo, hoặc mọc cùng vị trí với các cành chính khác trong cây.

Ngoài ra chậu cây cũng là một trong những yếu tố quyết định vẻ đẹp của cây, những chậu cây có hình dáng và kích thước phù hợp với cây sẽ làm vẻ đẹp của cây tăng lên rất nhiều.

Kỹ thuật tạo dáng

Tạo hình bằng dây nhôm

Với kỹ thuật này có thể tạo cây cảnh bằng cách thay đổi hướng của thân và nhánh cây. Những cành mọc chĩa lên có thể uốn ngang hay vuốt xuống để tạo ấn tượng già dặn, trưởng thành.

Cách quấn

Quấn thân cây: Cắt một sợi dây có chiều dài gấp 2 lần nhánh hay thân cần quấn. Có thể quấn dây lượn quanh thân một góc 45o, đó là cách quấn hiệu quả nhất. Cách quấn: Cắm một đầu kẽm xuống đất, đầu tiên quấn quanh gốc cây, sau đó quấn lên thân cây. Nếu muốn quấn thêm một lần nữa, bạn nên quấn sát với sợi dây trước và nhất thiết không quấn chồng lên nhau.

Quấn nhánh: Bắt đầu quấn từ dưới. Đồng thời quấn dây xen kẽ theo chiều dài của nhánh đến khi làm xong nguyên cây (trở lại quấn trên những cành non thật tỉ mỉ). Hoặc chúng ta quấn cùng một lúc cả nhánh chính và nhánh phụ trước khi quấn tiếp. Sử dụng dây mảnh hơn cho bề dày của nhánh thon. Thông thường, hãy quấn hai nhánh cùng một lúc với cùng một sợi dây quấn, quấn quanh để tạo thế dựa thân. Ở những nơi có nhánh đơn, thì nên quấn liên kết với nhánh khác, buộc chặc đầu dây bằng cách gài nó dưới vài vòng đầu tiên.

Bao lâu thì gỡ dây quấn? Điều này còn tùy thuộc độ dày của thân, cành, loại cây, chất lượng và tuổi cây. Nên thường xuyên kiểm tra dây quấn để đảm bảo dây quấn để đảm bảo dây không hằn vào vỏ khi cây phát triển. Phải cẩn thận khi chọn cỡ dây phù hợp với độ lớn và sự phát triển của cây. Nên thay đổi cỡ dây quấn theo độ dày của thân nhánh thì cỡ dây phải nhỏ dần, cỡ dây tương ứng bằng 1/6 đến 1/3 đường kính của cành hoặc thân chọn quấn. Để tháo dây quấn, tốt hơn hết bạn nên cắt dây thành những đoạn nhỏ, nhằm giảm bớt sự rủi ro, hư hại cho cây.

Sang chậu và thay đất

Khi đất trong chậu đã cạn kiệt chất bổ dưỡng thì bonsai có hiện tượng: Cây không còn tươi tắn, có hiện tượng xuống sức, bộ lá kém tươi và bắt đầu nhuốm vàng bệnh hoạn, các cành như không thể cất cao lên được, nhiều rễ con lồi lên mặt đất chậu, lớp đất trên bề mặt chậu mỏng dần đi. Những triệu chứng trên cho thấy đã đến lúc thay đất cho cây.

Theo thời tiết nước ta thì nên sang chậu vào mùa xuân hay trước mùa mưa khi cây bắt đầu đâm chồi, nảy lộc và đó là thời tiết mát mẻ.

Dùng dao cùn xắn từ từ phần đất sát thành chậu cho đến khi bầu đất và thành chậu được tách ra hay trước đó một buổi ta tưới nước cho đất thật nhão, như vậy chỉ cần nghiêng chậu là lấy cây ra được. Tiến hành cắt bỏ rễ lớn và rễ con đã quá già và chỉ chừa lại những rễ non. Nên dùng loại kềm bén để hớt bớt rễ, vết cắt cần cho ngọt, không được giập nát. Bộ rễ sau khi xử lý xong phải được gọn gàng. Đây cũng là dịp tốt để ta cắt tỉa những cành, nhánh mọc không đúng cách, hoặc sửa đổi chúng.

Bón phân

Bón phân định kỳ 1-2 tháng/lần, lượng bón cho mỗi cây/đợt tùy theo cây lớn nhỏ. Nên bón các lọai phân hữu cơ vì cây dễ hấp thu hơn, tránh lạm dụng việc bón phân vô cơ sẽ có hại cho cây.

Bạn đang xem bài viết Các Biện Pháp Kỹ Thuật Cơ Bản Của Nghề Trồng Rau trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!