Xem Nhiều 2/2023 #️ Bài 2: Phân Lân Và Sự Phân Loại Lân (Tiếp Theo) # Top 3 Trend | Inkndrinkmarkers.com

Xem Nhiều 2/2023 # Bài 2: Phân Lân Và Sự Phân Loại Lân (Tiếp Theo) # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài 2: Phân Lân Và Sự Phân Loại Lân (Tiếp Theo) mới nhất trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

2.3. Một số loại khác ít phổ biến.

* Phân lân ở dạng nước.

Đó là hỗn hợp các axit photphoric như axit octophotphoric H3PO4, axit pyrophotphoric H4P2O7, axit triphotphoric H5P3O10, axit tetraphotphoric H6P4O10… Sản phẩm chứa đến 75 – 79% P2O5.

* Photphin. Là hỗn hợp các photphua hydro hóa lỏng nước ở nhiệt độ – 88oC và chuyển sang thể rắn ở nhiệt độ -134oC. Phân có chứa đến 91% P.

Các photphua thường dùng là H3P, H6P12 và H4P2.

3. Các loại phân lân tự nhiên.

Đó là loại quặng khai thác từ các mỏ dùng làm phân bón. Các mỏ này có nguồn gốc do núi lửa phun ra tạo thành hoặc do lân tích đọng ở đáy biển tạo thành. Lân trong các loại quặng này đều là các hợp chất photphat canxi có chứa gốc Cl–, F–, OH– hay CO32- . Tùy theo thành phần hợp chất, nguồn gốc thành tạo mà phân làm hai loại apatit và photphorit. Apatit phần lớn có nguồn gốc phún xuất và có cấu trúc tinh thể hoặc vi tinh thể và cũng khó phá vỡ, khó dùng để bón trực tiếp. Apatit Lào Cai cũng thuộc về loại này. Các loại quặng nguồn gốc trầm tích, cấu trúc vô định hình, dễ phá vỡ có thể dùng để bón trực tiếp gọi là photphorit. Các loại này thường lẫn lộn với đất có nhiều chất hữu cơ và tỉ lệ Fe, Al cao.

3.1. Photphorit.

Photphorit sử dụng ở các nước EU đều lấy từ các mỏ của Bắc Phi, Mỹ, canada, SNG. Mỏ này nhỏ trữ lượng ít hàm lượng lân thấp. Trong các hang núi đấ vôi ven bờ biển (Còn gọi là phân lèn). Các núi đá này rải rác ở các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Bắc Thái, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Bình. Tính chất các loại này gần giống photphorit Vĩnh Thịnh.

Cần phân biệt phân lèn là photphorit chính cống với loại phân cũng lấy được từ trong hang đá nhưng là xác của phân dơi, chim chóc sống lâu trong hang đá để lại. Loại phân này là một loại phân đặc biệt giàu chất dinh dưỡng rất tốt, dùng như các loại phân hữu cơ nhiều yếu tố N, P, K và vi lượng khác hẳn photphorit thông thường.

Chất lượng của photphorit được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau:

– Tính chất vật lý- xốp nhẹ.

– Tính chất hóa học: Lân tổng số và lân tan trong axit citric cao, tỷ lệ CaO cao và tỷ lệ P2O3 thấp, hàm lượng fluo thấp.

Chất lượng photphorit thay đổi rất nhiều tùy nơi khai thác. Các loại photphorit của Maroc, Angieri, Mỹ, Canada chất lượng tốt được nghiền bón trực tiếp và có tín nhiệm trên thị trường. Photphorit ở mỏ Vĩnh Thịnh và các núi đá vôi nhiều sắt nhôm, tỷ lệ lân thấp thay đổi rất nhiều tùy nơi khai thác. Hàm lượng P2O5 tổng số thay đổi từ 10-31% P2O5.

Ưu điểm chính của bột photphorit là có khả năng khử chua, hiệu lực lâu dài trong nhiều vụ.

Nhược điểm chính là không phải đất nào, cây nào bón photphorit cũng có hiệu lực. Ở đất trung tính và ít chua, photphorit chỉ có hiệu lực rõ đối với một số cây họ đậu và cây phân xanh, cây họ thập tự.

Ở đất chua pH< 5,5 hiệu lực của photphorit mới rõ. Đất càng chua hiệu lực càng rõ. Hiệu lực photphorit rõ nhất ở các chân ruộng trũng, lầy thụt giàu hữu cơ.

3.2. Apatit.

Apatit phần lớn là các mỏ thành tạo có nguồn gốc phún xuất, nhưng cũng có mỏ có nguồn gốc trầm tích. Mỏ apatit Lao Cai thuộc loại sau.

Quặng loại 3 được làm giàu để sản xuất supe lân. Quặng loại hai dùng để sản xuất phân lân nung chảy.

Trong 3 loại quặng, quặng 1 có cấu trúc tinh thể, ít bền chặt, dễ phá vỡ, có thể nghiền bón trực tiếp, nhưng hàm lượng P2O5 cao nên dùng để sản xuất supe lân và xuất khẩu. Quặng loại 3 có hàm lượng P2O5 thấp có thể dành nghiền bón trực tiếp nhưng tinh thể khá bền vững, hiệu lực kém hơn.

Hiệu lực các loại phân bón khó tan dùng bón trực tiếp phụ thuộc vào sự tiếp xúc của các phân với đất và rễ cây. Dựa vào axit do rễ cây tiết ra và dựa vào độ chua của đất mà các loại phân khó tiêu trở thành dễ tiêu. Cây có thể sử dụng được. Các biện pháp chính để làm tăng hiệu quả các loại phân lân này là:

– Nghiền mịn: Độ mịn càng cao càng có hiệu quả. Phân phải có độ mịn đạt 20% qua rây 0,25 mm mới có thể làm tăng năng suất khá. Nếu giá thành cho phép tốt nhất là 100% qua rây 0,10 mm.

– Bón sớm: các loại phân lân khó tan chỉ có thể bón lót. Bón tập trung theo hàng hoặc hàng cây tốt hơn bón vãi ra ruộng vì phân dễ tiếp xúc với cây hơn. Trong trường hợp dùng với lượng lớn để vừa cải tạo độ chua vừa cung cấp cho cây mới nên bón vãi và cày bừa trộn đều trong toàn tầng đất canh tác.

– Ủ với phân chuồng để lợi dụng chất chua khi chất hữu cơ phân giải. Trộn photphorit với các loại phân vô cơ có khả năng gây chua như amon sunfat, amon clorua hay các loại phân Kali cũng có tác dụng làm tăng hiệu lực của phân.

Cũng như các loại phân ít hòa tan, sự phối hợp phân lân khó tiêu với các loại phân lân dễ tiêu thường có tác dụng tốt. Nhà máy supe lân Long Thành đã có sáng kiến xuất loại supe lân PA bằng cách trộn supe lân sau khi ủ 5 ngày với bột đá xà vân và bột apatit hoặc bột phophorit. Loại phân này có tác dụng giống như các loại phân snr xuất theo quy trình chậm tan.

Lượng bón các loại phân khó tiêu nên cao hơn supe lân 1,5 – 2 lần.

4. Phân lân vi sinh:

Lân trong đất thường tồn tại dưới hai dạng:

Các hợp chất lân vô cơ và các hợp chất lân hữu cơ. Lân hữu cơ chiếm khoảng 25 – 50 % tổng số lượng lân trong đất tùy thuộc lượng hữu cơ và mùn trong đất nhiều hay ít. Ở đất mới khai phá, đất vùng ôn đới, mùn nhiều, lân hữu cơ rất cao. Khi có nhiệt độ thích hợp, không quá thấp các vi sinh vật phân giải chất hợp chất hữu cơ chứa lân thành lân vô cơ cung cấp cho cây. Nhiệt độ dưới 20 oC, hoạt động này ngừng lại, cây trồng sử dụng lân chủ yếu dưới dạng vô cơ chứa sẵn trong đất. Khi nhiệt độ từ 35oC trở lên sự giải chất hữu cơ rất mạnh nguồn cung cấp lân dựa nhiều vào lân hữu cơ phân giải ra.

Quá trình phân giải lân hữu cơ có sự tham gia của một loại vi sinh vật đặc biệt gọi là vi sinh vật phân giải lân hữu cơ (Bacillus megatherium phosphaticum). Để tăng cường sự phân giải lân hữu cơ trong đất người ta đã tuyển chọn các dòng có khả năng phân giải mạnh bổ sung thêm vào đất. Đó là các loại phân vi sinh vật phân giải lân hữu cơ. Loại phân vi sinh vật phân giải lân hữu cơ này chỉ có hiệu quả trên đất ôn đới giàu hữu cơ. Đất vùng nhiệt đới nghèo hữu cơ và mùn ít có triển vọng.

Trong đất cũng có các loài vi sinh vật chuyển hóa các dạng lân vô cơ khó tiêu thành dạng lân vô cơ dễ tiêu. Loại vi sinh vật phân giải lân vô cơ khó tiêu này tìm thấy nhiều ở chung quanh rễ các loại cây họ đậu, rễ bèo dâu, rễ lúa các dòng kháng thiếu lân. Người ta cũng đã thử sử dụng các dòng vi khuẩn này để sản xuất phân vi sinh vật phân giải lân vô cơ bón vào đất. Tuy nhiên các dòng vi khuẩn này chỉ có thể phân giải canxi photphat mà trong đất nhiệt đới chứa lân vô cơ khó tiêu tồn tai dưới dạng sắt photphat và nhôm photphat là chính. Vì vậy triển vọng của phân vi sinh vật phân giải lân vô cơ ở đất nhiệt đới chua cũng không có gì là hấp dẫn.(Còn nữa)

Sưu tầm và biên tập: Ks Lê Minh Giang

Bài 2: Phân Lân Và Sự Phân Loại Lân (Tiếp Theo Và Hết)

Các nhà nghiên cứu chú ý vận dụng vai trò của vi sinh vật phân giải lân vô cơ theo một hướng khác. Nhờ phát hiện được các giống có khả năng phân giải lân vô cơ mạnh nên có triển vọng dùng các dòng này để thay thế vai trò của axit và nhiệt chuyển lân vô cơ khó tiêu thành dạng dễ tiêu để sản xuất phân lân. Nguyên lý cơ bản củ giải pháp này là dùng hỗn hợp hữu cơ tươi như bã mía, rỉ đường làm nguồn gốc cung cấp năng lượng cho hoạt động của vi sinh vật phân giải photphorit hay apatit (thường là các photphorit mềm, hợp chất lân dễ phân giải) thành dễ tiêu hơn. Các nhà nghiên cứu còn hi vọng rằng quá trình lên men có thể tạo ra các chất điều hòa sinh trưởng, chất diệt nấm, cố định đạm nên tên là phân lân hữu cơ vi sinh.

Đây là vấn đề mới. Khó khăn cơ bản là có dòng vi khuẩn có khả năng phân giải nhanh và sự cung cấp đủ chất hữu cơ cho quá trình lên men, bảo quản phân cho đến lúc sử dụng không mất chất dinh dưỡng và giữ được số vi sinh vật trong phân theo đúng quy định. Phân cần đảm bảo yêu cầu tối thiểu của một loại phân lân chế biến công nghiệp có tỷ lệ P2O5 trong phân lân ít nhất là trên 10 % với 80 % lân hữu hiệu.

Hệ số sử dụng lân của cây trồng rất thấp. Hệ số sử dụng biểu kiến chỉ đạt tối đa 30%. Tăng hệ số sử dụng thêm khoảng 10% nữa hết sức khó khăn. Cho nên các quy trình sử dụng phân lân vi sinh không nên đưa ra các mức bón quá thấp so với quy trình hướng dẫn khuyến nông. Ví dụ quy trình khuyến nông hướng dẫn bón cho cây lúa là 60 kg P2O5/ha thì các quy trình khuyến nông sử dụng phân vi sinh ít nhất cũng đảm bảo cung cấp cho cây ít nhất 90% số đó, 54 kg P2O5 / ha/vụ.

Cần đảm bảo đủ đạm cho cây phát triển. Các loại phân hữu cơ vi sinh, khó có khả năng tăng lượng đạm trong đất nhiều cho nên các quy trình sử dụng phân lân hữu cơ vi sinh nên đảm bảo bón đủ đạm cho cây, ít nhất 80 % số lượng đạm cần bón theo quy trình hướng dẫn khuyến nông. Ví dụ quy trình hướng dẫn nên bón 120 kg/ha/vụ cho lúa chiêm xuân ở vùng đồng bằng bắc bộ thì tổng số lượng đạm đưa vào cho cây lúa nếu sử dụng phân lân hữu cơ vi sinh cần đạt ít nhất là 96 kg N/ha/vụ.

Sự phối hợp với các loại phân khoáng (phân đạm, lân, kali) thích hợp, đảm bảo đủ để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng là điều kiện quan trọng để phát huy được hiệu quả. Một hình thức phối hợp giữa phân lân hữu cơ vi sinh và phân khoáng như vậy nếu chi phí bón phân không vượt quá xa quy trình đang được áp dụng có thể được nông dân chấp nhận và sẽ rất có ích cho vùng đất cát biển, đất bặc màu những nơi thiếu hữu cơ nghiêm trọng và hoạt động của vi sinh vật yếu. Đó là bài toán khó khăn mà các nhà sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh đang phải tiếp tục giải để có thể đứng vững.

Hiện nay có nhiều nhà sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh như phân lân hữu cơ Thiên Nông, phân lân sinh hóa hữu cơ Komix của công ty sinh hóa nông nghiệp và thương mại thiên Sinh, phân sinh hóa hữu cơ Biomix của công ty phân bón hóa chất Kiên Giang, Biofer của Hội phân bón Việt Nam… đều sản xuất phân lân hữu cơ vi sinh.

Một loại phân lân khác gọi là Biosuper (phân lân super vi sinh) được sản xuất bằng cách trộn photphorit với các sản phẩm có chứa lưu huỳnh như than bùn sú vẹt hoặc đất có chứa lưu huỳnh thấp vùng mỏ lưu huỳnh (thiobacillus, thiooxidant). Loại vi sinh vật này oxy hóa S thành axit sunfuric, dựa vào axit tạo ra để chuyển lân khó tiêu thành dạng dễ tiêu. Các nhà sản xuất Australia và Canada đã sản xuất theo cách này và đưa ra thử nghiệm rộng rãi. Kết quả thử nghiệm cho thấy nguyên liệu sử dụng cần chứa lượng S đáng kể đủ để chuyển hóa các quặng lân khó tiêu. Hàm lượng lân trong sản phẩm thấp, hiệu lực không bằng supe lân và họ cho rằng các sản phẩm kiểu này có thể sử dụng tốt cho đồng cỏ hoặc đất khai hoang để phục hồi đất hoang và sử dụng cho các nước đang phát triển mà công nghiệp phân bón chưa phát triển.

5. Chọn loại phân lân như thế nào?

Các loại phân lân được chia thành 3 nhóm chính;

1/ Các loại dễ hòa tan bao gồm các nhóm lân chế biến bằng axit, lượng axit sử dụng đến mức tạo thành các photphat 1 canxi dễ tan trong nước. Tùy mức axit thừa 1-3% axit photphoric mà có mang tính chua nhiều hay ít. Do có còn một ít axit nên phân dễ hút ẩm. Các loại phân này thích hợp nhất ở các loại đất kiềm và trung tính vì phân có khả năng làm giảm độ kiềm của đất và tồn tại ở dạng cây dễ sử dụng. Ở các loại đất quá kiềm hoặc quá chua nhất là các đất quá chua sử dụng loại phân này (trừ đất lúa) nên dùng các loại phân viên. Nhờ được viên nên phân ít tiếp xúc với các nhân tố trong đất (canxi ở đất kiềm, sắt nhôm dễ đông ở đất chua và các keo đất mang dấu hiệu dương trong đất chua) làm giảm độ hòa tan.

Các loại phân lân giàu và rất giàu chứa ít lưu huỳnh ở dạng canxi sunfat thích hợp cho đất mặn chua ven biển giàu sunfat, đất trũng lầy thụt nhiều hữu cơ yếm khí. Trên 2 loại đất này, lưu huỳnh có thể làm tăng ion sunfat đến mức gây ngộ độc (đất mặn sunfat) hoặc làm tăng lượng H2S gây độc (đất lầy thụt yếm khí trồng lúa).

Supe lân thông thường có lợi cho đất thoái hóa, bạc màu, nghèo hữu cơ, nghèo lưu huỳnh, đất cát, thâm canh không có điều kiện hoàn trả hữu cơ; đất đồi thoái hóa, do cả hai mặt: cung cấp P và S. Nó cũng có lợi cho các cây cần nhiều S cây họ thập tự, họ hành tỏi, cây lấy dầu thuộc họ lạc, đậu đỗ, cau dừa chúng tôi các loại cây họ chè (chè, cà phê, ca cao) và cây lấy mủ.

2/ Các loại phân ít hòa tan và khó hòa tan thường rất hữu hiệu đối với các loại đất chua, giàu hữu cơ và sét dễ làm cho lân trong phân chuyển thành dạng khó tan.

Chỉ các loại đất có độ chua cao pH KCl< 5 và thành phần cơ giới của đất từ thịt trung bình trở lên đến thịt nặng và sét mới nên sử dụng các loại quặng tự nhiên khó tan như apatit và photphorit. Các loại phân lân ít hòa tan (không tan trong nước chỉ tan được trong axit citric 2%) như các loại phân lân axit hóa một phần (phân lân chậm tan), các loại phân lân chế biến bằng nhiệt (phân lân nung chảy) hiệu quả trên đất trung tính hoặc ít chua không kém supe lân nhưng trên đất chua càng phát huy được ưu điểm khử chua và sắt nhôm di động.

Sự cung cấp điều hòa lân trong giai đoạn đầu và giai đoạn cuối của cây trồng rất có lợi cho cây vì vậy sự phối hợp với tỷ lệ thích hợp khoảng 70% phân lân ít hòa tan có lợi cho mọi trường hợp.

Các loại phân lân chế biến bằng quy trình nhiệt thường giàu canxi, magie, natri có khi có cả kali và vi lượng thường có lợi cho đất cát, đất bặc màu, đất đồi thoái hóa. Trên các loại đất này cũng thường thiếu lưu huỳnh và kali. Sự phối hợp các loại phân này với supe lân hoặc kali sunfat, amon sunfat nên được chú ý.

3/ Các loại phân được gọi là phân lân sinh hóa hữu cơ, nhiều chất hữu cơ hơn là lân. Đối với đất thiếu lân dễ tiêu cần được bổ sung thêm cho đủ lượng lân dễ tiêu cần thiết. Loại phân này có triển vọng tốt cho các loại đất cát, đất bạc màu, đất thoái hóa thiếu hữu cơ.

Các loại phân lân có chứa N như DAP được nông dân vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đặc biệt vùng thấp Đồng Tháp mười, Hậu Giang chú ý vì hai lý do:

– Đất thiếu lân dễ tiêu đến mức hạn chế trong lúc hữu cơ và đạm có trong đất tương đối khá. Đất tuy giàu đạm nhưng thiếu N dễ tiêu. Tỷ lệ 46 – 50% P2O5 và 18 – 20% N (tỷ lệ N-P:1-2,5) trong phân thích hợp cho loại đất như vậy với lúa năng suất trung bình.

– Sự không có mặt gốc sunfat không độc hại do mặn sunfat và H2S trên đất vốn giàu ion sunfat này. Tuy nhiên trên loại đất này sử dụng phân lân nung chảy kết hợp với ure tỷ lệ 1,5 -1 cho lúa năng suất cao có lẽ lợi hơn vì hỗn hợp này còn khử chua và cố định sắt nhôm di động, giảm bớt độc và xúc tiến sự phân giải hữu cơ cung cấp thêm đạm. Nếu đất trồng trọt lâu ngày, tỷ lệ mùn và N đã suy giảm, dùng DAP cần bổ sung thêm cho đủ đạm. Trong trường hợp này dùng ure kết hợp với supe lân hay lân nung chảy chi phí sử dụng phân bón sẽ ít hơn.

Giới thiệu các loại phân lân

* Phân lân chế biến bằng axit

– Supe lân:

+ Loại thông thường: 16 – 24% P2O5 tan trong amon xitrat 2%; 8-12%S; 28% CaO

Thể tích riêng: viên 107 – 124 dm3/100 kg phân bột 106 -122dm3/100 kg

+ Loại giàu: 25 – 36 % P2O5 tan trong amon 2 % xitrat 6 – 8% S; 20 % CaO

+ Loại rất giàu: 36 – 38% P2O5 tan trong amon xitrat 2 %; 15% CaO lưu huỳnh không đáng kể.

Thể tích riêng: viên 105 – 120 dm3/100 g

– Phân Metaphotphat canxi: 64 – 70% P2O5 tan trong amon xitrat 2 %

– Metaphotphat kali: 40 – 60% P2O5 tan trong amon xitrat 2%

– Phân lân kết tủa: 28 – 42% P2O5 tan trong xitrat amon 21%

– Phân DAP: 18 – 20% N; 46 – 50 % P2O5 tan trong amon xitrat 2%

Thể tích riêng 90 – 110 dm3/ 100 kg.

* Phân lân chế biến bằng quy trình nhiệt

Phân lân nung chảy Văn Điển                                    

+ Loại giàu: 20% P2O5 tan trong axit xitric 2%; 15% MgO; 32% CaO & SiO2: 24%; Thể tích riêng 67 – 71 dm3/100kg.

+ Loại trung bình: 17,5 – 18,5 % tan trong axit xitric 2%; 30 – 36% CaO; 15 – 17 % MgO; 24 – 30% SiO

Thể tích riêng 67 – 70 % dm3/100 kg

+ Loại thấp: 15 % tan trong axit xitric; 28 – 32 % CaO; 17 – 20% MgO    ; 24 – 30% SiO2.

– Photphan: 34% tổng số 26 % tan trong amon xitrat

– Photphat khử fluo

+ Loại giàu: 30 – 32% P2O5

+ Loại trung bình: 26 % tan trong amon xitrat

– Photphat cứt sắt: 14 – 22 % P2O5 tổng số; 10,5 -20% P2O5 tan trong axit xitric 2%

* Các loại quặng tự nhiên chứa lân

– Photphorit thành phần rất thay đổi theo mỏ: 10 – 31% P2O5 tổng số.               

– Apatit Lào Cai                                                              

+ Loại trung bình 23 – 31 % P2O5 tổng số

+ Loại nghèo < 23% P2O5 tổng số

Sưu tầm và biên tập Ks Lê Minh Giang

Phân Lân Là Gì? Những Loại Phân Lân Phổ Biến Hiện Nay

Khái niệm về phân lân

Phân lân là dạng phân bón vô cơ có chứa thành phần dinh dưỡng chính là photpho. Được biết lân là một trong những nhân tố thúc đẩy mạnh các quá trình sinh tưởng, phát triển của cây. Thiếu lân hay thừa lân đều để lại những biểu hiện không tốt nhất định.

Một số loại phân lân phổ biến

Nhóm lân tự nhiên

Là loại lân có nguồn gốc hoàn toàn từ thiên nhiên mà không qua chế biến nào cả. Tồn tại chủ yếu là các loại phân photphat như Apatit, Photphorit. Apatit chứa khoảng 30 – 40% hàm lượng lân và được cho là quặng chứa lân tự nhiên cao nhất. Apatit thường dùng để bón cho các loại đất nghèo lân ở mức cao. Photphorit thì chứa ít hàm lượng lân hơn, chỉ khoảng 8 – 12%. Loại này có dạng bột, khá khô, thích hợp cho đất phèn, chua, đặc biệt là cây họ Đậu.

Nhóm lân chế biến

Hiện nay nhiều người lựa chọn loại lân công nghiệp là vì có hàm lượng lân cao hơn so với lân tự nhiên, có thể theo dõi tình hình cây trồng mà sử dụng thích hợp. Phân lân chế biến được chia làm hai loại phổ biến là lân nung chảy và supephotphat.

Phân lân nung chảy

Thành phần chính là Ca3(PO4)2, được sản xuất trong điều kiện nung quặng photphat ở nhiệt độ cao. Lân nung chảy thường có màu sắc trắng xám, xanh xám. Loại lân này thích hợp bón cho đất chua vì có tính kiềm sẽ trung hòa được môi trường đất. Vùng đất phèn ở đồng bằng sông Cửu Long, đất đồi núi miền Trung hay đất bạc màu cũng sử dụng được. Hiệu quả phân lân nung chảy tỉ lệ thuận với đất càng chua, càng phèn.

Supe lân có công thức hóa học là Ca(H2PO4)2, dễ tan trong môi trường đất, nước nên rất được nhà nông tin dùng. Có hai loại nhỏ nữa là supe lân đơn và supe lân kép, khác nhau chính ở hàm lượng lân cao thấp. Ngược lại với lân nung chảy thì supe lân không thích hợp để bón đất chua do có tính axit.

Vai trò của phân lân

Cung cấp đủ lân cho cây trồng sẽ thúc đẩy quá trình ra rễ, đẻ nhánh, phân cành ở cây. Tham gia vào quá trình quang hợp, hô hấp, các quá trình sinh hóa, trao đổi năng lượng khác.

Yếu tố lân là nhân tố có quyết định đến sự ra hoa, kết trái và quá trình chín quả, cho năng suất cao. Tăng thêm khả năng chống chịu trước điều kiện môi trường bất lợi.

Bên cạnh đó bón lân còn giúp giảm thiểu tác hại của việc thừa đạm ảnh hưởng đến cây trồng. Cây sẽ có thể chịu được tính chua, tính kiềm của đất ở một mức thích hợp.

Ở một số cây điển hình như cây táo thì lân sẽ có ảnh hưởng đến số lượng hoa trên cây. Với cây lạc thuộc họ Đậu thì cung cấp đủ lân sẽ tạo điều kiện phát triển cho vi khuẩn sống cộng sinh ở nốt sần rễ cây, giúp cây hấp thụ được nguồn dinh dưỡng cần thiết.

Một số biểu hiện khi thấy thiếu, thừa lân

Khi thiếu lân

Thiếu lân sẽ làm chậm quá trình ra hoa ở cây, tỷ lệ thụ quả cũng ít hơn và quả thường không có chất lượng tốt. Các quá trình tổng hợp chất dinh dưỡng bị kém hiệu suất, khó tổng hợp được protein cần thiết cho cây.

Khi thừa lân

Dấu hiệu thừa lân thường ít biểu hiện ra bên ngoài. Một số triệu chứng đi kèm thường là quả chín sớm hơn, gây ức chế sinh trưởng. Vì thế khi cung cấp phân lân cho cây trồng cần chú ý sử dụng với lượng vừa phải. Kết hợp thêm với các loại phân hữu cơ khác để tránh được hiện tượng thừa lân không mong muốn.

Theo tính chất của đất: đất có tính chua nên sử dụng phân lân nung chảy. Đất trung tính, đất có tính kiềm thì nên dùng supephotphat.

Theo đặc điểm cây trồng: khi cây còn non là giai đoạn cần lân nhất để giúp cho sự phát triển của bộ rễ. Giai đoạn đầu của cây cần được chăm sóc đặc biệt hơn.

Theo thành phần cơ giới đất: đất thịt, thịt nặng khi bón lân thường bị giữ lại nên phải bón theo hàng và loại lân cây nhanh hấp thụ.

Bên cạnh đó, nhà nông cần phải theo dõi quan sát tình hình cây trồng của mình để có những biện pháp xử lý kịp thời. Hạn chế sử dụng phân thuốc hóa học và thay vào đó là phân vi sinh, phân hữu cơ được khuyến khích nhiều hơn. Phân bón Huy Long hiện có cung cấp loại phân trùn quế, chế phẩm BIMA có thể sử dụng kết hợp với phân lân bón cho cây trồng.

Hy vọng những thông tin ở trên sẽ giúp các bạn có thêm kiến thức về phân bón lân để áp dụng vào canh tác nông nghiệp trên cây trồng của mình. Liên hệ 0777.232.718 – 0255.652.7676 hoặc Fanpage để được hỗ trợ.

Giới Thiệu Các Loại Nguyên Liệu Sản Xuất Phân Bón Npk: P2 Phân Lân

1. Supe Lân

Đặc tính của Supe lân trong sản xuất phân bón NPK

Ưu điểm: có tính axit và dễ tan trong nước, cây hấp thụ tức thời, có tính dẻo nên dễ ve viên tạo hạt.

Nhược điểm: Màu tối (xám) và hàm lượng lân thấp nên chủ yếu được sử dụng trong việc sản xuất phân NPK có hàm lượng thấp và trung bình (tổng NPK < 25%) và có màu tối (không sử dụng trong sản phẩm NPK có màu sắc sáng vì khó phối màu). Riêng Supe lân trắng Trung quốc có thể sử dụng trên dây chuyền tạo hạt 1 màu hàm lượng cao

Hàm lượng: P 2O 5 16-16,5%; S: 11%, Ca: 18 – 21%

Hình thức: Màu xanh xám

Hàm lượng: P 2O 5 16%; S: 6%, Ca: 20%

Hình thức: Màu xám

Hình thức: Màu trắng xám

Hàm lượng: P 2O 5 16-17%; S: 11 – 13%, Ca: 18 – 21%

Hình thức: Màu xám

2. Lân nung chảy

Hàm lượng: P 2O 5 15 – 16%; 18 – 22% CaO; 24 – 32% SiO2; 9 – 10% Mg

Đặc tính của lân nung chảy trong sản xuất NPK

Mẫu phân lân nung chảy

Ưu điểm: Lân nung chảy có tính kiềm (pH: 8 – 8,5), không tan trong nước (Chỉ tan trong axit nhẹ hoặc axit do dễ cây tiết ra), dễ tạo hạt, làm hạt cứng (nhân hạt) dễ sấy khô.

Nhược điểm: Màu tối (đen, xám đen) và hàm lượng lân thấp nên chủ yếu được sử dụng trong việc sản xuất phân NPK có hàm lượng thấp và trung bình (tổng NPK < 25%) và có màu tối (không sử dụng trong sản phẩm NPK có màu sắc sáng vì khó phối màu).

3. DAP (Di Amon phophat)

Đặc tính của DAP trong sản xuất phân bón NPK

Ưu điểm: DAP có hàm lượng lân cao (từ 44 – 45% P 2O 5hh) và có chứa cả Đạm (từ 10 – 16%N), hạt đẹp có tính dẻo nên được sử dụng nhiều trong phối trộn phân hỗn hợp (3 – 4 màu) hoặc nghiền để dùng tạo hạt phân bón có hàm lượng NPK cao.

Nhược điểm: Giá thành cao, phải nghiền (trừ sản phẩm DAP bột) nếu sản xuất phân bón công nghệ 1 hạt, trong sản phẩm chỉ có hàm lượng lân và đạm không chứa các nguyên tố khác như Canxi, Magie, lưu huỳnh, silic.

Hình thức hạt: hạt màu vàng nâu

Mục đích sử dụng: Nghiền ra sử dụng sản xuất phân công nghệ 1 hạt, hoặc để nguyên hạt trộn phân bón 3, 4 màu

Hình thức hạt: hạt màu nâu

Mục đích sử dụng: Để nguyên hạt trộn phân bón 3, 4 màu

Hình thức hạt: hạt màu xanh ngọc

Mục đích sử dụng: Màu xanh ngọc đẹp, sử dụng để trộn các sản phẩm NPK 3 màu hàm lượng cao như: NPK 20-20-15… Khi cần thiết có thể nghiền sản xuất phân bón công nghệ 1 hạt.

Hình thức sản phẩm: Tinh thể màu trắng, dễ hút ẩm

Mục đích sử dụng: Để sản xuất phân hỗn hợp NPK hàm lượng cao công nghệ 1 hạt

4. MAP (Mono amon phophat)

Đặc tính của MAP trong sản xuất phân bón NPK

Ưu điểm: MAP có hàm lượng lân cao (từ 40 – 50% P 2O 5hh) và có chứa cả Đạm (từ 8 – 10%N), dạng bột có tính dẻo nên được sử dụng nhiều trong tạo hạt phân bón có hàm lượng NPK cao.

Nhược điểm: Giá thành cao, trong sản phẩm chỉ có hàm lượng lân và đạm không chứa các nguyên tố khác như Canxi, Magie, lưu huỳnh, silic.

Hình thức sản phẩm: dạng bột màu trắng

Mục đích sử dụng: Để sản xuất phân hỗn hợp NPK hàm lượng cao công nghệ 1 hạt, công nghệ tháp cao

Hình thức sản phẩm: dạng bột màu trắng

Mục đích sử dụng: Để sản xuất phân hỗn hợp NPK hàm lượng cao công nghệ 1 hạt, phân bón công nghệ tháp cao

Hình thức sản phẩm: dạng bột tinh thể màu trắng

Mục đích sử dụng: Để sản xuất phân hỗn hợp NPK hàm lượng cao công nghệ 1 hạt, công nghệ tháp cao

Mời các bạn đón đọc: Giới thiệu các loại nguyên liệu sản xuất phân bón NPK: P3 Phân Kali

Bạn đang xem bài viết Bài 2: Phân Lân Và Sự Phân Loại Lân (Tiếp Theo) trên website Inkndrinkmarkers.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!